14 mở bài kết bài ôn thi THPT Quốc gia môn Văn

17 17.423
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
14 MỞ BÀI KẾT BÀI ÔN THI THPT QUỐC GIA MÔN N
14 MỞ BÀI NÂNG CAO
1, Việt Bắc
“Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ n thiên sử vàng”
(Hoan chiến Điện Biên Tố Hữu)
Đã từ lâu mảnh đất Tây Bắc Điện Biên được coi là quê hương của kháng chiến, quê ơng
của những anh hùng, đây mảnh đất trung du nghèo khó nặng ân tình khiến ai đã đặt
chân đến đây cũng phải bồi hồi, xuyến xao. Mảnh đất y đã trở thành niềm thương, nỗi nhớ
cho những ai đã từng đến rồi lại phải đi. người đã từng nói: “Thơ chỉ trào ra khi trong tim
anh mọi th đã thật đầy”, chính những niềm thương, nỗi nh trào dâng ấy đã tạo ra những
rung động mãnh liệt trong cảm xúc để rồi nhà thơ T Hữu Một người lính đã từng gắn
với mảnh đất này viết nên tác phẩm “Việt Bắc” tuyệt tác của đời mình. Tác phẩm một
khúc tình ca cũng khúc hùng ca về cuộc kháng chiến con người kháng chiến. Bài thơ
được viết ra như lời hát tâm tình của một mối nh thiết tha đầy lưu luyến giữa người kháng
chiến đồng bào Việt Bắc được thể hiện qua lăng kính trữ tình- chính trị, đậm tính dân tộc
ngòi t dạt dào cảm xúc của thi nhân.
2, Tây Tiến
“Đó cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai bồng
...
Khi T Quốc cần họ biết sống xa nhau
(Cuộc chia ly u đỏ Nguyễn Mỹ)
Chiến tranh đi qua đã để lại cho chúng ta những hoài niệm về những tháng m không thể
nào quên, đó khi con người ta nhận ra sứ mệnh của nh sinh ra để chiến đấu, để báo
thù, đó những con người sẵn sàng c lại tuổi trẻ, việc học hành, tình cảm nhân vị kỉ để
đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc... Những con người ấy đã đi o trong thơ ca, nghệ thuật như
những huyền thoại của thế kỉ 20 nhà thơ Quang Dũng đã th hiện thật xuất sắc thông qua
lăng kính lãng mạn nhưng vẫn đậm chất hiện thực của nh qua bài thơ Tây Tiến. Tác phẩm
đã khắc họa thành công bức tượng đài người lính Tây Tiến trong những năm đầu của cuộc
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
kháng chiến chống Pháp gian khổ.
3, Sóng
Từ trước đến nay, tình yêu luôn thứ không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người.
Xuân Diệu đã từng viết:
“Làm sao sống được ko yêu
Không nhớ không thương một kẻ nào”
(Bài thơ tuổi nhỏ Xuân Diệu)
Đó cũng là do tình yêu được đưa rất nhiều vào trong thơ ca nghệ thuật, trở thành nguồn
cảm hứng bất tận với nhiều thi nhân. rất nhiều những nhà thơ, nhà n từng viết về tình
yêu nhưng lẽ sâu sắc nhất phải kể đến 2 cây bút thơ nh xuất sắc của nền văn học Việt
Nam, đó Xuân Diệu Xuân Quỳnh. Nếu như Xuân Diệu từng m a m gió khiến
người đọc nhớ mãi khi đặt tất cả dấu ấn tình yêu nh liệt của mình với “Biển” thì Xuân
Quỳnh một nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ đã thể hiện tình cảm
người con gái qua nh ảnh “Sóng”. Khi nhắc đến tên tuổi của Xuân Quỳnh, từ trong tiềm
thức của mỗi người yêu n chương đều biết tiếng thơ chị tiếng nói nhân hậu, thủy chung,
giàu trực cảm tha thiết khát vọng hạnh phúc đời thường. Một trong số những tác phẩm
xuất sắc nhất của Xuân Quỳnh phải kể đến tập “Hoa dọc chiến hào” với linh hồn bài thơ
“Sóng” được tác giả viết nhân một chuyến đi thực tế biển Diêm Điền năm 1967.
4, Tùy bút người lái đò Sông Đà
MB1:
"Tuổi hai mươi khi ớng đời đã thấy
Thì xa xôi gấp mấy vẫn lên đường.
Sống thủ đô dạ để ời phương.
Nghìn khát vọng chất chồng mơ ước lớn."
(Tiếng t con tàu Chế Lan Viên)
Hòa chung với không khí sôi nổi của cả nước khi Miền Bắc tiên lên xây dựng Chủ nghĩa
hội với xu hướng đi đến những ng cao để phục hồi kinh tế với tiếng hát đầy sông, đầy cầu
thì Nguyễn Tuân đã lựa chọn y Bắc làm miền đất hứa để viết lên tuyệt tác của đời mình.
Ông không đi theo lối mòn khi viết về những “cái tôi” n buồn như Huy Cận, Chế Lan Viên
Những “cái tôi” luôn cô đơn trước trụ, cô đơn giữa dòng đời. Nguyễn Tuân đã khéo léo
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
để “cái tôi” nhân của mình hòa chung với “cái ta” của cộng đồng mở ra một trào lưu
văn học mới để rồi tất c được kết tinh trong tập “Tùy bút Sông Đà” mà linh hồn của nó
chính Tùy bút Người lái đò ng Đà”. Nguyễn Tuân một nhà văn cả đời say đi tìm
cái đẹp, cái đẹp đây chính ngh thuật, khi nói đến nghệ thuật cũng chính cái đẹp,
với Nguyễn Tuân, con người chính tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời nhất tạo hóa đã ban
tặng. Cái đẹp ấy được Nguyễn Tuân phát hiện ra trong “thứ vàng ời đã qua thử lửa” của
Tây Bắc, những con người đang gắn với công cuộc xây dựng quê hương, đất nước. Chất
vàng mười ấy chính v đẹp của người lái đò sông Đà, dưới ngòi t điêu luyện của
Nguyễn Tuân đó vừa là người anh hùng, vừa nghệ tài hoa trên chính nghề nghiệp của
mình.
MB2:
“Tây Bắc ư? riêng Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu”
(Tiếng t con tàu Chế Lan Viên)
Tây Bắc đã trở thành vùng đất hứa của thi ca nghệ thuật những năm 58-60 khi miền Bắc tiến
lên xây dựng ch nghĩa xã hội, các nhà văn nhà t đến với i đây để tìm cho mình những
nguồn cảm hứng mới. Ta từng biết đến Hoài với tập “truyện Tây Bắc” nổi bật
truyện ngắn “Vợ Chồng A Phủ”, hay Nguyễn Khải cũng đã từng xôn xao lòng mình với
“Mùa Lạc” thì Nguyễn Tuân lại thăng hoa trên mảnh đất này với tập “Tùy bút ng Đà” với
linh hồn bài “Người lái đò Sông Đà”. một nhà văn đi theo chủ nghĩa dịch, dấu
chân của Nguyễn Tuân đã đi khắp mảnh đất hình chữ S này, nhưng ông lại chọn Tây Bắc làm
nơi cho ra đời đưa con đẻ tinh thần của mình là bởi chỉ i đây mới thỏa mãn thực đơn
cho nhãn quan sáng tác của ông. Tùy bút sông Đà những trang văn được viết bằng ngôn
ngữ điêu luyện, những đoạn tả đèo cao, vực sâu, thác nước dữ dội, hoặc cảnh thiên nhiên đẹp
đến tuyệt đỉnh, nhưng lấp nh giữa những vẻ đẹp ấy hình nh con sông Đà hiện lên vừa
hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất nên thơ, trữ nh lãng mạn.
5, Tuyên Ngôn Độc Lập
“Nam quốc sơn nam đế cứ
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như nghịch lỗ lai xâm phạm

Kỹ năng viết mở bài kết bài trong bài văn nghị luận văn học

14 mở bài kết bài ôn thi THPT Quốc gia môn Văn. Đây là tài liệu tham khảo hay do VnDoc sưu tầm để gửi tới các bạn học sinh nhằm phục vụ quá trình ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn, ngoài ra đây cùng là tài liệu hay phục vụ quá trình giảng dạy của quý thầy cô 

Ôn thi THPT Quốc gia môn Văn: Bí quyết viết mở bài

Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận

14 MỞ BÀI NÂNG CAO

1, Việt Bắc

"Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng"

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)

Đã từ lâu mảnh đất Tây Bắc – Điện Biên được coi là quê hương của kháng chiến, quê hương của những anh hùng, đây là mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng ân tình khiến ai đã đặt chân đến đây cũng phải bồi hồi, xuyến xao. Mảnh đất ấy đã trở thành niềm thương, nỗi nhớ cho những ai đã từng đến rồi lại phải đi. Có người đã từng nói: "Thơ chỉ trào ra khi trong tim anh mọi thứ đã thật ứ đầy", chính những niềm thương, nỗi nhớ trào dâng ấy đã tạo ra những rung động mãnh liệt trong cảm xúc để rồi nhà thơ Tố Hữu – Một người lính đã từng gắn bó với mảnh đất này viết nên tác phẩm "Việt Bắc" – tuyệt tác của đời mình. Tác phẩm là một khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bài thơ được viết ra như lời hát tâm tình của một mối tình thiết tha đầy lưu luyến giữa người kháng chiến và đồng bào Việt Bắc được thể hiện qua lăng kính trữ tình- chính trị, đậm tính dân tộc và ngòi bút dạt dào cảm xúc của thi nhân.

2, Tây Tiến

"Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai bồng
...
Khi Tổ Quốc cần họ biết sống xa nhau"

(Cuộc chia ly màu đỏ – Nguyễn Mỹ)

Chiến tranh đi qua đã để lại cho chúng ta những hoài niệm về những tháng năm không thể nào quên, đó là khi con người ta nhận ra sứ mệnh của mình sinh ra là để chiến đấu, là để báo thù, đó là những con người sẵn sàng gác lại tuổi trẻ, việc học hành, tình cảm cá nhân vị kỉ để đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc... Những con người ấy đã đi vào trong thơ ca, nghệ thuật như những huyền thoại của thế kỉ 20 mà nhà thơ Quang Dũng đã thể hiện thật xuất sắc thông qua lăng kính lãng mạn nhưng vẫn đậm chất hiện thực của mình qua bài thơ Tây Tiến. Tác phẩm đã khắc họa thành công bức tượng đài người lính Tây Tiến trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ.

3, Sóng

Từ trước đến nay, tình yêu luôn là thứ không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người. Xuân Diệu đã từng viết:

"Làm sao sống được mà ko yêu
Không nhớ không thương một kẻ nào"

(Bài thơ tuổi nhỏ – Xuân Diệu)

Đó cũng là lý do tình yêu được đưa rất nhiều vào trong thơ ca và nghệ thuật, trở thành nguồn cảm hứng bất tận với nhiều thi nhân. Có rất nhiều những nhà thơ, nhà văn từng viết về tình yêu nhưng có lẽ sâu sắc nhất phải kể đến 2 cây bút thơ tình xuất sắc của nền văn học Việt Nam, đó là Xuân Diệu và Xuân Quỳnh. Nếu như Xuân Diệu từng làm mưa làm gió khiến người đọc nhớ mãi khi đặt tất cả dấu ấn tình yêu mãnh liệt của mình với "Biển" thì Xuân Quỳnh – một nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ đã thể hiện tình cảm người con gái qua hình ảnh "Sóng". Khi nhắc đến tên tuổi của Xuân Quỳnh, từ trong tiềm thức của mỗi người yêu văn chương đều biết tiếng thơ chị là tiếng nói nhân hậu, thủy chung, giàu trực cảm và tha thiết khát vọng hạnh phúc đời thường. Một trong số những tác phẩm xuất sắc nhất của Xuân Quỳnh phải kể đến tập "Hoa dọc chiến hào" với linh hồn là bài thơ "Sóng" được tác giả viết nhân một chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền năm 1967.

4, Tùy bút người lái đò Sông Đà

MB1:

"Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy
Thì xa xôi gấp mấy vẫn lên đường.
Sống ở thủ đô mà dạ để mười phương.
Nghìn khát vọng chất chồng mơ ước lớn."

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Hòa chung với không khí sôi nổi của cả nước khi Miền Bắc tiên lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội với xu hướng đi đến những vùng cao để phục hồi kinh tế với tiếng hát đầy sông, đầy cầu thì Nguyễn Tuân đã lựa chọn Tây Bắc làm miền đất hứa để viết lên tuyệt tác của đời mình. Ông không đi theo lối mòn khi viết về những "cái tôi" còn buồn như Huy Cận, Chế Lan Viên – Những "cái tôi" luôn cô đơn trước vũ trụ, cô đơn giữa dòng đời. Nguyễn Tuân đã khéo léo để "cái tôi" cá nhân của mình hòa chung với "cái ta" của cộng đồng và mở ra một trào lưu văn học mới để rồi tất cả được kết tinh trong tập "Tùy bút Sông Đà" mà linh hồn của nó chính là " Tùy bút Người lái đò Sông Đà". Nguyễn Tuân là một nhà văn cả đời say mê đi tìm cái đẹp, cái đẹp ở đây chính là nghệ thuật, mà khi nói đến nghệ thuật cũng chính là cái đẹp, với Nguyễn Tuân, con người chính là tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời nhất mà tạo hóa đã ban tặng. Cái đẹp ấy được Nguyễn Tuân phát hiện ra trong "thứ vàng mười đã qua thử lửa" của Tây Bắc, ở những con người đang gắn bó với công cuộc xây dựng quê hương, đất nước. Chất vàng mười ấy chính là vẻ đẹp của người lái đò sông Đà, dưới ngòi bút điêu luyện của Nguyễn Tuân đó vừa là người anh hùng, vừa là nghệ sĩ tài hoa trên chính nghề nghiệp của mình.

MB2:

"Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu"

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Tây Bắc đã trở thành vùng đất hứa của thi ca nghệ thuật những năm 58-60 khi miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nhà văn nhà thơ đến với nơi đây để tìm cho mình những nguồn cảm hứng mới. Ta từng biết đến Tô Hoài với tập "truyện Tây Bắc" mà nổi bật là truyện ngắn "Vợ Chồng A Phủ", hay Nguyễn Khải cũng đã từng xôn xao lòng mình với "Mùa Lạc" thì Nguyễn Tuân lại thăng hoa trên mảnh đất này với tập "Tùy bút Sông Đà" với linh hồn là bài kí "Người lái đò Sông Đà". Là một nhà văn đi theo chủ nghĩa xê dịch, dấu chân của Nguyễn Tuân đã đi khắp mảnh đất hình chữ S này, nhưng ông lại chọn Tây Bắc làm nơi cho ra đời đưa con đẻ tinh thần của mình là bởi chỉ có nơi đây mới thỏa mãn thực đơn cho nhãn quan sáng tác của ông. Tùy bút sông Đà là những trang văn được viết bằng ngôn ngữ điêu luyện, những đoạn tả đèo cao, vực sâu, thác nước dữ dội, hoặc cảnh thiên nhiên đẹp đến tuyệt đỉnh, nhưng lấp lánh giữa những vẻ đẹp ấy là hình ảnh con sông Đà hiện lên vừa hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất nên thơ, trữ tình và lãng mạn.

5, Tuyên Ngôn Độc Lập

"Nam quốc sơn hà nam đế cứ
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"

Là những lời thơ thần của Lý Thường Kiệt vang dội trên sông Như Nguyệt để đánh đuổi quân Tống xâm lược cũng như khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc ta dưới thời nhà Lý. Sau hàng nghìn năm nhân dân Việt Nam sống dưới chế độ quân chủ, trăm năm Pháp thuộc, 5 năm phát xít... thì giờ đây thực dân Pháp đang âm mưu quay lại cướp nước ta lần nữa dưới chiêu bài lừa bịp công luận quốc tế "bảo hộ" và "khai hóa", để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc ta cũng như vạch mặt, tố cáo thực dân Pháp thì chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho ra đời Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Đây là một áng văn chính luận mẫu mực của nền văn học Việt Nam hiện đại, kết tinh những tinh hoa của dân tộc và khí phách non sông, mang giá trị pháp lí, giá trị lịch sử và cả giá trị nghệ thuật cao cả. Trước sự chứng kiến của hơn 50 vạn đồng bào cả nước tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, bằng bút pháp lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, dẫn chứng hùng hồn và giọng đọc đặc biệt thì Bản Tuyên Ngôn độc lập đã khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn, thấm nhuần vào từng con tim, khối óc con người Việt Nam.

6, Ai đã đặt tên cho dòng sông

Một lần anh đến Huế thơ
Gặp cô gái đẹp say mơ giấc nồng
Sông Hương quyến rũ lạ lùng
Em choàng tỉnh giấc ngượng ngùng nhìn tôi

Sông Hương đã đi vào thơ ca nghệ thuật như một niềm cảm hứng bất tận đối với tất cả văn nghệ sĩ, nhưng dù là trong tác phẩm nào đi chăng nữa sông Hương vẫn luôn mang một dáng vẻ vô cùng dịu dàng, quyến rũ khiến ai cũng phải mê đắm ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Có lẽ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã "phải lòng" sông Hương – xứ Huế như một lần gặp gỡ định mệnh để rồi gắn bó với mảnh đất này hơn 40 năm. Trước những rung động của một mối tình say đắm trong những trang Kiều để từ đó nhà văn dành cho sông Hương một bài kí trang trọng. Cả bài kí dường như là cuộc hành trình tìm kiếm cho câu hỏi đầy khắc khoải "Ai đã đặt tên cho dòng sông" .Và cuộc tìm kiếm, lý giải cái tên của dòng sông đã trở thành cuộc tìm kiếm đầy hào hứng và say mê không chỉ vẻ đẹp của diện mạo hình hài mà còn là độ lắng sâu của tâm hồn và rung động. Con sông xứ Huế hiện lên trong cuộc tim kiếm của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã không chỉ là con sông địa lý mà là một sinh thể, một con người "sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều" vừa xinh đẹp, vừa tài hoa, vừa thăng trầm chìm nổi cùng lịch sử lại vừa đằm thắm lắng sâu với nền văn hoá riêng của nó.

7, Hồn Trương Ba- Da Hàng Thịt

Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
Như tiếng gọi ngàn đời không khuất phục
Đất nước giống như con thuyền xuyên gió mạnh
Những mối tình trong gió bão tìm nhau.

(Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi...– Lưu Quang Vũ )

Từ những năm 60 của thế kí trước, Lưu Quang Vũ đã khẳng định tên tuổi của mình bằng việc sáng tác thơ ca, ngay từ đầu ông đã tạo được dấu ấn về một lối viết tài hoa, nồng nàn cảm xúc toát lên tình yêu quê hương, đất nước tha thiết, mà Hoài Thanh đã từng nhận định rằng "Thơ anh là một tiếng nói nhỏ nhẹ mà sâu". Từ năm 1978, Lưu Quang Vũ bắt đầu chuyển sang lĩnh vực sân khấu. Có thể khẳng định "Sân khấu mới là mảnh đất của người nghệ sĩ tài ba này".. Cảm hứng chủ đạo trong kịch Lưu Quang Vũ là cảm hứng về con người, về cái đẹp, cái thiện, cái tôi hoà tan trong cái ta. Ở đó tính thời sự được kết hợp với những vấn đề muôn thuở của nhân loại mà tiêu biểu đó là vở "Hồn Trương Ba da hàng thịt". Đó là cuộc giao tranh giữa cái thiện và cái ác, cuộc giao tranh này là muôn đời muôn kiếp từ khi khai sinh cho đến ngày không còn trái đất thì vẫn còn giao tranh thiện ác. Cho nên có người đã từng nói "kịch Lưu Quang Vũ là có tính vĩnh cửu"

8, Đất Nước

Đất nước đã nghiêng vào trong thơ ca, nghệ thuật như một điểm hẹn về tâm hồn của rất nhiều văn nghệ sĩ. Xuân Diệu đã từng viết:

Tổ quốc tôi như một con tàu
Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau

Hay Chế Lan Viên đã không kìm được lòng mình mà thốt lên rằng:

Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng
Chưa đâu và cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn

Thì Nguyễn Khoa Điềm – Một nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ đã gặp gỡ đề tài này bằng tập thơ " Trường Ca mặt đường khát vọng" Trong đó chương V là chương trung tâm kết nối tác phẩm bằng hình tượng nghệ thuật trung tâm là Đất Nước. Bằng là phong cách thơ trữ tình chính luận. Thơ Nguyễn Khoa Điềm lôi cuốn người đọc bởi xúc cảm lắng đọng, giàu chất suy tư, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân. Nguyễn Khoa Điềm đã chọn cho mình điểm nhìn gần gũi, quen thuộc, bình dị, khác hẳn với những nhà thơ cùng thời để miêu tả về Đất Nước và để thể hiện quan niệm vô cùng mới mẻ và sâu sắc:

"Đất nước này là của nhân dân
Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao, thần thoại".

Tài liệu vẫn còn, mời bạn tải về

Đánh giá bài viết
17 17.423
Bí quyết làm bài thi tốt Xem thêm