Bài thu hoạch liên hệ bản thân tự diễn biến, tự chuyển hóa

1 199

Mẫu bài thu hoạch liên hệ bản thân tự diễn biến, tự chuyển hóa

Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã thảo luận và nhất trí ban hành Nghị quyết về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong bài viết này VnDoc xin được chia sẻ với bạn đọc bài thu hoạch liên hệ bản thân tự diễn biến, tự chuyển hóa để các bạn cùng tham khảo.

Câu hỏi Bài thu hoạch liên hệ bản thân tự diễn biến, tự chuyển hóa

I. ĐỐI TƯỢNG SỸ QUAN, QNCN

Câu 1: Đồng chí nêu những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị?

Một là, phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

Ba là, nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bốn là, không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

Năm là, trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.

Sáu là, nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu.

Bảy là, duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác.

Tám là, tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Chín là, vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.

Câu 2: Đồng chí nêu những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống?

Một là, cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

Hai là, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. Tình trạng này đã làm giảm sút uy tín và sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Ba là, kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

Bốn là, mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”. Năm là, quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.

Sáu là, quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên…; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động.

Bảy là, tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.

Tám là, thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội… Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

Chín là, đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội.

Câu 3: Đồng chí nêu nguyên nhân của sự suy thoái của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ?

a) Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, do tác động từ sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới sau sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu; tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường, sự phát triển của khoa học công nghệ, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Thứ hai, do những khó khăn, thách thức của các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế hiện nay; nhiều vấn đề mới, phức tạp đặt ra trong khi nhận thức về lý luận, lý giải và xử lý chưa kịp thời, hiệu quả.

Thứ ba, do âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chúng lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình thực tế; cổ súy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa; đồng thời, cấu kết với các tổ chức phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn.

b) Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, nguyên nhân sâu xa trước hết và chủ yếu là do bản thân một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, kể cả người đứng đầu các cấp sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất. Không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân.

Thứ hai, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; có biểu hiện xem nhẹ giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xem nhẹ giáo dục đạo đức cách mạng. Chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và những hậu quả gây ra. Sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu.

Thứ ba, một số nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nội dung chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi và thiếu chế tài xử lý. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp chưa có quyết tâm chính trị cao; việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên; một số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tiên phong, gương mẫu. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm còn nương nhẹ, nể nang, thiếu cương quyết.

Thứ tư, việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời. Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở. Thiếu cơ chế để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực, giảm sút uy tín, trì trệ trong công tác, kém hiệu quả trong phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Chậm ban hành quy định xử lý tổ chức, cá nhân có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thứ năm, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ. Một số cơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng; chính sách tiền lương, nhà ở chưa tạo được động lực cống hiến cho cán bộ, công chức.

Thứ sáu, việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng chưa nghiêm, còn có biểu hiện “nhẹ trên, nặng dưới”. Công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn thiếu chặt chẽ. Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người đấu tranh phê bình. Sự phối hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử chưa chặt chẽ, xử lý chưa đủ nghiêm minh. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu; việc kê khai tài sản, thu nhập còn hình thức.

Thứ bảy, chưa chủ động và thiếu giải pháp phù hợp để định hướng thông tin trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ. Việc quản lý thông tin còn lỏng lẻo, thiếu giải pháp đủ mạnh để đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.

Thứ tám, việc phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn hạn chế, hiệu quả chưa cao.

Câu 4: Đồng chí nêu nội dung, biện pháp đẩy mạnh học tập và làm theo phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương của Hồ Chí Minh trong Quân đội giai đoạn hiện nay?

a) Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho mọi quân nhân trong đơn vị về học tập, làm theo phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương của Hồ Chí Minh.

b) Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong học tập, làm theo phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương của Hồ Chí Minh.

c) Phát huy vai trò tích cực, tự giác của quân nhân trong tự học tập, rèn luyện và làm theo phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương của Hồ Chí Minh.

d) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ tổng kết rút kinh nghiệm; kết hợp giữa xây và chống, lấy xây làm chính trong học tập và làm theo phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương của Hồ Chí Minh.

Câu 5: Đồng chí nêu nội dung của Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị?

1 - Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cạch Hồ Chí Minh; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Mình thành công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị – xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, trước hết là của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viện, hội viên.

2 - Tổ chức học tập, quán triệt và tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên, liên tục và có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

3 - Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nghị quyết của cấp uỷ và nội dung sinh hoạt thường xuyên của chi bộ, gắn với các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị; gắn với việc xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam, xây dựng hệ giá trị văn hoá và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

Lấy kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm.

4 - Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc triển khai thực hiện theo phương châm trên trước, dưới sau; trong trước, ngoài sau; học đi đôi với làm theo, chú trọng việc làm theo bằng những hành động và việc làm cụ thể. Xây dựng, tổng kết và nhân rộng những điển hình tiên tiến về làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, kết hợp giữa “xây” với “chống”.

Đề cao trách nhiệm nêu gương, tự giác học trước, làm theo trước để nêu gương của người đứng đầu và cán bộ chủ chốt các cấp, của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

5 - Tiếp tục chỉ đạo biên soạn chương trình, giáo trình về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân và các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp, bảo đảm phù hợp với từng cấp học, bậc học và với yêu cầu giáo dục, đào tạo.

Đối với học sinh phổ thông, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, học tập về đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với giáo dục công dân, đạo đức nghề nghiệp. Đối với học sinh đại học, cao đẳng, có các bài giảng, chuyên đề về tư

tưởng Hồ Chí Minh. Đối với học sinh đại học chuyên ngành lý luận chính trị, học viên trường chính trị, đoàn thể và lực lượng vũ trang cần xây dựng hệ thống các bài giảng, chuyên đề học tập tư tưởng Hồ Chí Minh.

6 - Về tổ chức thực hiện. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh do cấp ủy các cấp, trực tiếp là ban thường vụ cấp ủy, đồng chí bí thư cấp ủy chỉ đạo.

II. ĐỐI TƯỢNG HSQ-CS

Câu 1: Đồng chí làm rõ đối tượng tác chiến của Quân đội ta hiện nay? Liên hệ đơn vị?

Bất cứ lực lượng nào chống phá mục tiêu của cách mạng nước ta; tiến hành chiến tranh xâm lược; “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bạo loạn vũ trang ở nước ta; xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam thì lực lượng đó là đối tượng tác chiến của quân đội ta.

Có thể phân thành ba nhóm đối tượng tác chiến sau đây:

Nhóm thứ nhất: Bất cứ thế lực nào có âm mưu và hành động tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta dưới bất kỳ hình thức nào. Dấu hiệu nhận biết là đối tượng có các hành động chuẩn bị và tiến hành chiến tranh dưới mọi hình thức, xúc tiến liên minh, liên kết tập hợp lực lượng tiến công ta bằng vũ lực.

Nhóm thứ hai: Bất cứ thế lực nào có âm mưu và hành động thực hiện “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, bạo loạn vũ trang ở nước ta. Dấu hiệu nhận biết là chúng sử dụng đòn tiến công chính bằng “diễn biến hòa bình”, chống phá mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội; thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ để thay đổi chế độ ta. Khi có điều kiện, thời cơ, nhất là lợi dụng lúc ta có sơ hở trong xử lý các tình huống chiến lược, chúng sẽ kích động gây bạo loạn lật đổ, xung đột vũ trang hoặc chiến tranh vớ i các da ̣ ng thức mới như: chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng.

Nhóm thứ ba: Bất cứ thế lực nào có âm mưu và hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc bằng phương thức vũ trang hoặc phi vũ trang, kể cả từ bên trong và bên ngoài. Dấu hiệu nhận biết là đối tượng thực hiện ý đồ tranh đoạt chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam bằng các hoạt động xâm lấn biên giới, biển, đảo thuôc̣ chủ quyền lãnh thổ của ta. Ho ̣ tìm mọi cách kiềm chế, chi phối chính sách đối nội, đối ngoại, buộc ta phải nhượng bộ về chủ quyền, lợi ích quốc gia. Khi có thời cơ, có thể gây xung đột vũ trang, chiến tranh chiếm giữ lãnh thổ, chiếm đoạt tài nguyên của nước ta.

Câu 2: Đồng chí nêu mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay?

a. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

Một là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

  • Hai là, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
  • Ba là, bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  • Bốn là, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.
  • Năm là, bảo vệ nền văn hóa dân tộc.
  • Sáu là, đấu tranh giữ vững hoà bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

b. Nhiệm vụ và giải pháp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, phát triển kinh tế – xã hội kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Thứ ba, xây dựng, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động thông tin, tuyên truyền.

Thứ tư, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ năm, củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao.

Thứ sáu, triển khai đồng bộ, toàn diện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Câu 3: Đồng chí nêu định hướng chiến lược quốc phòng, an ninh đối ngoại trong chiến lược biển của Đảng, Nhà nước ta đến năm 2020?

– Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc.

– Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc.

– Phát triển kinh tế biển phải gắn liền với quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên biển.

– Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệ biển vững mạnh toàn diện, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển.

– Sớm xây dựng chính sách để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, vừa phát triển kinh tế, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc.

Câu 4: Đồng chí nêu chức năng, nhiệm vụ của Quân đội? Phân tích chức năng

1. Liên hệ trách nhiệm bản thân?

Quân đội ta có 3 chức năng cơ bản: Đội quân chiến đấu; đội quân công tác; đội quân lao động sản xuất. Ba chức năng này là một thể thống nhất, quan hệ chặt chẽ với nhau, phản ánh bản chất cách mạng của quân đội ta.

Một là, chức năng đội quân chiến đấu là chức năng cơ bản, chủ yếu, phản ánh bản chất cách mạng, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta, đồng thời là chức năng nổi trội phản ánh tính chất hoạt động quân sự.

Từ khi ra đời và quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, quân đội ta luôn luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân; làm tốt vai trò nòng cốt bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam.

Trong cách mạng giải phóng dân tộc, chức năng chiến đấu được thể hiện ở việc chiến đấu chống quân xâm lược và tay sai bán nước, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Ngày nay, chức năng chiến đấu được thể hiện trong nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu. Quân đội phải luôn chủ động, chuẩn bị tốt mọi mặt đối phó thắng lợi với mọi kẻ thù xâm lược từ bên ngoài, mọi hành động xâm phạm lãnh thổ, chủ quyền biên giới quốc gia; đồng thời, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, khủng bố, can thiệp, lật đổ của các thế lực thù địch trong mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ.

Hai là, chức năng đội quân công tác là chức năng cơ bản, quan trọng thuộc về bản chất, truyền thống của quân đội ta.

Ba là, chức năng đội quân lao động sản xuất là chức năng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, thuộc về bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội, vừa chiến đấu vừa sản xuất góp phần nâng cao đời sống bộ đội.

Ba chức năng trên có quan hệ thống nhất, tác động hỗ trợ cho nhau, trong đó, chức năng chiến đấu là chức năng cơ bản, quan trọng nhất.

2. Nhiệm vụ của quân đội

Hiện nay, quân đội ta có 5 nhiệm vụ cơ bản:

Một là, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.

Đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến việc thực hiện chức năng chiến đấu của quân đội ta. Để bảo đảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi phải quán triệt, nắm vững mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”.

Hai là, huấn luyện, xây dựng quân đội, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, tác động trực tiếp đến nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, khả năng, hiệu quả chiến đấu của quân đội.

Ba là, tích cực tham gia lao động sản xuất, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống bộ đội.

Đây là nhiệm vụ quan trọng phản ánh quy luật bảo vệ Tổ quốc phải đi đôi với xây dựng đất nước, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân.

Đây là nhiệm vụ quan trọng, thuộc về bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta nhằm góp phần tăng cường sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, củng cố, tăng cường mối quan hệ Đảng, Nhà nước với nhân dân, nhân dân với quân đội.

Năm là, củng cố, xây dựng và phát triển quan hệ đoàn kết hữu nghị với nhân dân và quân đội các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đây là nhiệm vụ chính trị phản ánh truyền thống tốt đẹp, bản chất cách mạng của quân đội ta, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Năm nhiệm vụ trên, mỗi nhiệm vụ có vị trí và yêu cầu khác nhau, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, không coi nhẹ bất cứ nhiệm vụ nào. Trong đó, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của quân đội ta.

Một số câu hỏi phụ

Câu 1. Chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong giải quyết tranh chấp chủ quyền về biển đảo?

Đấu tranh kiên trì, kiên quyết bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và các cam kết mà Việt Nam là thành viên.

Câu 2: Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết tranh chấp, bất đồng về biên giới quốc gia?

“Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn ven lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”.

Câu 3: Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông hiện nay?

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo vùng trời của Tổ quốc.

Câu 4: Hội nghị Trung ương 4 khóa X xác định quan điểm chỉ đạo về thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020?

Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn.

Các PTTĐ phát động trong 9 tháng năm 2017:

Có 4 nội dung, 7 biện pháp xây dựng chính quy

4 nội dung

1. Nâng cao trình độ thống nhất và chất lượng về trang phục

2. Nâng cao trình độ về lễ tiết tác phong quân nhân

3. Nâng cao trình độ tổ chức thực hiện chức trách, nền nếp chế độ quy định

  • Chỉ huy và cơ quan phải chấp hành đúng nền nếp chế độ quy định, thực hiện đúng chức trách.
  • Tổ chức bộ đội thực hiện đúng chế độ sinh hoạt trong ngày, trong tuần

4. Nâng cao trình độ quản lý bộ đội, quản lý trang bị

7 biện pháp

1. Giáo dục tuyên truyền sâu rộng trong toàn quân

2. Tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy đảng các cấp

3. Chỉ huy các cấp phải trực tiếp chủ trì việc chỉ đạo xây dựng

4. Phát huy sức mạnh đồng bộ của cơ quan các cấp

5. Bảo đảm cơ sở vật chất

6. Xây dựng đơn vị điểm

7. Hàng tháng từng cấp tiến hành việc kiểm điểm thực hiện xây dựng chính quy và báo cáo lên cấp trên.

5 Tiêu chuẩn xây dựng đơn vị VMTD

1. Vững mạnh về chính trị.

  • CB, CS có bản lĩnh chính trị vững vàng, quyết tâm chiến đấu cao, ss nhận và hoàn thành tốt mọi n/v được giao.
  • Tổ chức Đảng TSVM, không có đảng viên VPKL phải đưa ra khỏi Đảng. Các tổ chức quần chúng đạt tiêu chuẩn vững mạnh.
  • Cán bộ các cấp hoàn thành mọi nhiệm vụ (có 70% trở lên hoàn thành khá).
  • Nội bộ đoàn kết thống nhất, dân chủ tốt,kỷ luật nghiêm, đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh.
  • Làm tốt công tác dân vận…
  • Cán bộ quân sự các cấp và LLVT địa phương thực sự làm nòng cốt xây dựng nền QPTD vững mạnh.

2. Tổ chức biên chế đúng quy định, duy trì nghiêm kỷ các chế độ SSCĐ, HL giỏi.

3. Xây dựng nền nếp chính quy và quản lý kỷ luật tốt.

4. Bảo đảm hậu cần tài chính và đời sống bộ đội.

5. Bảo đảm tốt công tác kỹ thuật.

Các hình thức giáo dục chính trị cơ bản:

  • Học tập chính trị
  • Nghiên cứu chuyên đề sĩ quan
  • Sinh hoạt chính trị tư tưởng
  • Thông báo chính trị thời sự, đọc báo nghe đài xem truyền hình
  • Ngày VHCTTT ở cơ sở
  • Học tập chính trị qua mạng máy tính nội bộ (ngoài ra còn thông qua các cuộc vận động, các phong trào thi đua, thông qua thực hiện nhiệm vụ, các gương điển hình tiên tiến)

Tiêu chuẩn tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh

1. Lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ

2. Lãnh đạo tốt công tác chính trị tư tưởng trong đơn vị

3. Lãnh đạo xây đựng tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng và HĐQN vững mạnh.

4. Thực hiện tốt công tác xây dựng đảng

Thứ tự các bước thông qua bài giảng ở tổ

  • Tổ trưởng quán triệt, mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp thông qua bài giảng.
  • Điều hành thứ tự từng đồng chí thông qua.
  • Tổ tham gia góp ý về nội dung, phương pháp và tác phong giảng bài của cán bộ thực hành giảng.
  • Tổ trưởng kết luận thống nhất những vấn đề cần sửa chữa, bổ sung, hướng dẫn hoàn thiện bài giảng về nội dung, phương pháp, phương tiện; quy định thời gian phê duyệt bài giảng.
  • Sau khi thông qua ở tổ, từng bộ giảng dạy phải sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh bài giảng để phê duyệt theo quy định.

Phương pháp tổ chức một buổi thảo luận trong học tập chính trị của HSQ-CS

– Mục đích, yêu cầu.

– Nội dung.

– Phương pháp.

  • Đối với tổ trưởng duy trì thảo luận: Đặt vấn đề, nêu câu hỏi, gợi ý cho chiến sỹ thảo luận (có thể đưa ra lập luận trái ngược, mâu thuẫn để tranh luận), tiến hành duy trì thảo luận, sau đó kết luận các vấn đề nội dung thảo luận.
  • Đối với người học: Tập trung thảo luận giải quyết vấn đề nội dung thảo luận.

– Thời gian, địa điểm

– Tài liệu.

Nội dung nắm tư tưởng bộ đội tại đơn vị

Một là: Nắm hoàn cảnh xã hội lịch sử gia đình môi trường làm việc của CBCS:

+ Nắm trước khi quân nhân nhập ngũ sống, làm việc trong môi trường thành phố, đồng bằng hay rừng núi.

+ Hoàn cảnh lịch sử của gia đình, bản thân.

+ Điều kiện xã hội,truyền thống, phong tục tập quán địa phương.

+ Tình hình của đơn vị: trong đó chú ý nắm và nghiên cứu kỹ những biến đổi đột biến trong lai lịch gia đình và tình hình địa phương, đơn vị.

Hai là: Nắm mọi biểu hiện, hiện tượng, tư tưởng, tâm trạng của bộ đội trong đó tập trung nắm:

+ Trình độ nhận thức, lập trường, quan điểm, thái độ trách nhiệm đối với chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước, nhiệm vụ và chức trách được giao.

+ Về phẩm chất đạo đức, lối sống, cử chỉ, thái độ, hành vi giao tiếp và cách cư xử giải quyết các mối quan hệ hàng ngày,

+ Lễ tiết, tác phong, ý thức chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước, kỷ luật của QĐ và chế độ quy định của đơn vị.

Ba là: Nắm diễn biến quá trình thực hiện nhiệm vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ của quân nhân.

+ Tình hình nhiệm vụ trên giao.

+ Những khó khăn thuận lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

+ Tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của quân nhân.

Thông qua những vấn đề trên phân tích, tổng hợp, rút ra những nét cơ bản ưu, nhược trong tư tưởng từng người và của tập thể.

Tiêu chuẩn đơn vị có môi trường văn hoá tốt?

(theo Hướng dẫn 802/HD-CT, ngày 12/6/2012 của TCCT).

– Hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Duy trì thường xuyên, thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động lớn của Quân đội, qua đó hình thành được một tập thể đơn vị phấn đấu rèn luyện theo tiêu chuẩn con người mới Việt Nam.

– Có đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú.

– Tích cực chủ động đấu tranh chống ảnh hưởng của các sản phẩm văn hóa văn nghệ xấu độc, các tệ nạn xã hội thâm nhập vào đơn vị.

– Doanh trại sạch, xanh, đẹp, có nếp sống chính quy, có cảnh quan văn hoá.

– Xây dựng và thực hiện tốt mối quan hệ đoàn kết quân dân.

Chỉ thị 184 ngày 23/3/2017 của Ban TV Đảng ủy Quân khu về xây dựng chi bộ 3 tốt 3 không:

Chi bộ “3 tốt, 3 không” (3 tốt: Xây dựng và thực hiện nghị quyết tốt; Quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên tốt; Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình tốt. 3 không: Không để chi bộ yếu kém; Không có cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật; Không có đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”).

Những con số về Đại hội XII của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của ĐCSVN diễn ra từ ngày 20 đến 28/1/2016, tại Thủ đô Hà Nội;

Đại hội chỉ bầu một lần đủ số lượng Ban Chấp hành Trung ương khoá XII gồm 200 đồng chí với số phiếu tập trung cao (đồng chí trúng cử có số phiếu thấp nhất cũng hơn 62%), trong đó có 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết.

Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 19 đồng chí; bầu Ban Bí thư gồm 3 đồng chí; bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm 21 đồng chí và chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

– Tổng bí thư: Đ/c Nguyễn Phú Trọng

– Thường trực Ban Bí thư: Đ/c Đinh Thế Huynh.

19 đ/c ủy viên Bộ Chính trị, gồm:

1. Đ/c Nguyễn Phú Trọng       10. Đ/c Trương Thị Mai

2. Đ/c Trương Hoà Bình         11. Đ/c Phạm Bình Minh

3. Đ/c Nguyễn Văn Bình         12. Đ/c Nguyễn Thị Kim Ngân

4. Đ/c Phạm Minh Chính        13. Đ/c Nguyễn Thiện Nhân

5. Đ/c Hoàng Trung Hải          14. Đ/c Tòng Thị Phóng

6. Đ/c Vương Đình Huệ          15. Đ/c Nguyễn Xuân Phúc

7. Đ/c Đinh Thế Huynh            16. Đ/c Trần Đại Quang

8. Đ/c Ngô Xuân Lịch              17. Đ/c Võ Văn Thưởng

9. Đ/c Tô Lâm                          18. Đ/c Trần Quốc Vượng

Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X

– Tổ chức tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 21 đến ngày 24 tháng 9 năm 2015

– Dự đại hội: 450 đại biểu

– Đại hội đã tiến hành bầu một lần đủ 40 đại biểu chính thức, 03 đại biểu dự khuyết. Đoàn đại biểu Đảng bộ Quân đội đi dự Đại hội lần thứ XII của Đảng gồm 61 đồng chí, trong đó đại biểu đương nhiên là 21 đồng chí, Đại biểu được bầu là 40 đồng chí.

Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ X

– Diễn ra từ ngày 06 đến ngày 8/8/2015 tại TP Vinh, tỉnh Nghệ An.

– Tham gia Đại hội có 250 đại biểu

– Ban chấp hành Đảng bộ Quân khu gồm 25 đồng chí; trong đó Đaị hôị trực tiếp bầu 19 đồng chí́ và 6 đồng chí là Bí thư Tỉnh ủy 6 tỉnh được chỉ định tham gia theo quy định của Điều lệ Đảng.

– Đoàn đại biểu dự Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X: Gồm 14 đồng chí (13 đồng chıChı́nh thức, 1 đồng chí dư ̣ khuyết).

– Ban Thường vu:̣ 6 đồng chí

  • 1, Trung tướng Võ Văn Việt BTĐU, chính ủy QK
  • 2, Trung tướng Nguyễn Tân Cương P.BTĐU, Tư lệnh QK
  • 3, Thiếu tướng Nguyễn Đức Hóa, Phó Chính ủy QK
  • 4, Thiếu tướng Đặng Trọng Quân UVTV, Phó Tư lệnh – TMT QK
  • 5, Đại tá Trần Minh Thanh UVĐU, Chủ nhiệm Chính trị QK
  • 6, Thiếu tướng Nguyễn Chí Hướng UVTV, Phó Tư lệnh QK./.
Đánh giá bài viết
1 199
Bài thu hoạch Xem thêm