Câu hỏi và đáp án thi tuyển Kiểm sát viên cao cấp 2017

1 132

Tổng hợp bộ câu hỏi và đáp án thi tuyển Kiểm sát viên cao cấp năm 2017

VnDoc.com xin gửi tới bạn đọc tổng hợp bộ câu hỏi và đáp án thi tuyển Kiểm sát viên cao cấp năm 2017 để bạn đọc cùng tham khảo. Bộ câu hỏi bao gồm các phần câu hỏi trắc nghiệm và phần câu hỏi tự luận có đáp án. Mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết và tải về bộ câu hỏi để có thêm tài liệu ôn thi.

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN THI VIẾT, KỲ THI TUYỂN CHỨC DANH KIỂM SÁT VIÊN CAO CẤP

(Do các đơn vị trong ngành KSND biên soạn)

Chú thích: LTC = Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014; HS = Hình sự, Tố tụng hình sự; DS = Dân sự, Tố tụng dân sự; HC = Hành chính, KDTM, HNGD…

STT

Mã lĩnh vực

CÂU HỎI

ĐÁP ÁN

Ghi chú

1

LTC

Trình bày hiểu biết của anh (chị) về địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân.

 

Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân:

1. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân: Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trongsuốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật

 

Viện CC2

 

2

HS

Anh (chị) hãy phân tích “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội”. Cho ví dụ cụ thể.

 

- Câu hỏi lý thuyết: Nêu được nội dung Điều 19 Bộ luật Hình sự quy định: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hình vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ấy.

- Phân tích các nội dung:

Bộ luật hình sự nêu khái niệm “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” là hoàn toàn chính xác và đầy đủ. Khái niệm pháp lý này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác xét xử, nó xác định người có hành vi nguy hiểm có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không, chịu tới mức nào. Về lý luận, thì tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ xảy ta trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở giai đoạn chưa hoàn thành và chuẩn bị phạm tội. Còn ở những giai đoạn khác không thể có "tự nguyện nửa chừng chấm dứt diệc phạm tội mà chỉ có thể tự ý chấm dứt tội phạm”. Ở giai đoạn phạm tội chưa đạt dã hoàn thành và giai đoạn phạm tội hoàn thành, người phạm tội đã thực hiện đầy đủ những dấu hiệu khách quan và chủ quan của tội phạm.

Ví dụ: H có hành vi buôn bán thuốc lá 555 ngoại trong một năm, sau không tiếp tục buôn bán nữa, mà chuyển sang buôn một số mặt hàng khác (không thuộc loại hàng cấm lưu thông), nhưng vì không có đăng ký kinh doanh, nên bị cơ quan điều tra bất giữ. Trong quá trình điều tra, H đã khai ra hành vi buôn bán thuốc lá 555 trước dây. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử H về tội buôn bán hàng cấm và phạt bị cáo 5 năm tù giam, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: hành vi buôn thuốc lá 555 của H đã được "tự ý đình chỉ” nên đã miễn hình phạt. Ở đây, đúng là H đã có hành vi “tự ý chấm dứt tội phạm" không phải là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì tội phạm đã hoàn thành. Sau khi bị bắt về tội kinh doanh trái phép, H đã khai báo ra việc buôn bán thuốc lá 555 trước đây, đó là tự thú hoặc là khai báo thành khẩn, hoàn toàn khác với tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm. Như vậy, khi chúng ta đã xác định tội phạm đã hoàn thành thì vấn đề 'tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội" không đặt ra nữa.

Cũng không có vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm trong trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành, vì phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là người phạm tội dã thực hiện đầy đủ những hành vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả nhưng vì nguyên nhân khách quan hậu quả do đã không xảy ra. Ờ đây người phạm tội đã hành động như ý muốn và tin là hậu quả sẽ xảy ra nhưng lại không xảy ra. Mặc dù người phạm tội dửng và không còn gì ngăn cản nhưng cũng không được coi là tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm, vì người phạm tội dã thỏa mãn với hành vi mà họ đã gây ra, chỉ có hậu quả là y chưa thỏa mãn.

Đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội, nếu như người phạm tội tự nguyện không tiếp tục tội phạm nữa thì được coi là tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm, vì ở giai đoạn này người phạm tội mới có hành vi tạo ra những cơ sở vật chất hoặc tinh thần cho việc thực hiện tội phạm. Nó chỉ là tiền đề cho việc xâm hại đến những quan hệ xã hội (khách thể); nó là sự bắt đầu thực hiện tội phạm, ở giai đoạn này chưa có hành vi thực hiện tội phạm.

Như vậy, khi chúng ta xem xét một vụ án có vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm hay không, thì điều trước hết phải xét là người phạm tội thực hiện tội phạm được dừng lại ở giai đoạn nào, trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành thì mặc dù người phạm tội có tự ý dừng lại không thực hiện nữa cũng không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Nhưng ngay cả khi thỏa mãn điều kiện trên thì vẫn chưa đủ cơ sở để kết luận kẻ phạm tội tự ý nửa chừng chấm dù việc thực hiện tội phạm, mà sự tự ý đó phải dứt khoát, triệt để chứ không phải là tạm thời, chốc lát.

Ví dụ: một người giả vờ ra đầu thú để chờ cơ hội tiếp tục hoạt động tội phạm thì không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm. Một người dùng dao găm đâm nạn nhân bị thương, thấy nạn nhân ra máu nhiều quá, người này không đâm nữa, nhưng nạn nhân bỏ chạy, y lại đuổi theo, nạn nhân bị ngã, y cầm dao đứng nhìn. Cứ như vậy hai, ba lần đến khi nạn nhân chạy thoát trong lúc y vẫn đuổi theo, mặc dù ở đây không có nguyên nhân khách quan ngăn cản y những lần đuổi trước và y cũng không đâm nạn nhân, nhưng sự tự ý của y không dứt khoát, không triệt để, cho nên không thể coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm được.

Khi có đủ hai diều kiện như đã phân tích ở trên thì được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Bộ luật hình sự quy định như vậy thể hiện thái độ dứt khoát về chính sách hình sự của nước ta. Việc quy định như vậy xuất phát từ cơ sở thực tế là hành vi phạm tội xảy ra trước lúc tự ý chấm dứt nửa chừng việc thực hiện tội phạm nói chung đã mất tính nguy hiểm cho xã hội hoặc hậu quả đã được hạn chế ở mức đáng kể. Biện pháp cưỡng chế không hoặc có ít tác dụng đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm. Việc miễn trách nhiệm hình sự chính là một biện pháp ngăn ngừa hậu quả nguy hiểm, bảo vệ các quan hệ xã hội.

Tuy nhiên, người tự ý nửa chửng chấm dứt việc thực hiện tội phạm chỉ được miễn trách nhiệm hình sự về tội mà người đó định phạm. Còn hành vi thực tế mà họ đã thực hiện trước khi họ tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm, nếu có đầy đủ dấu hiệu cấu thành một tội khác thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đó. Ví dụ một người định giết người, nhưng mới đâm một như thấy nạn nhân bị thương, thấy vậy y không đâm nữa tuy không có gì ngăn cản, thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người, nhưng người này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.

Trong một vụ án đồng phạm, vấn đề tự ý nửa chửng chấm dứt việc thực hiện tội phạm không giống như trường hợp phạm tội riêng rẽ (chỉ có một người thực hiện). Chỉ có người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm mới được áp dụng lý luận về tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm như trường hợp phạm tội riêng rẽ, còn những người khác như: người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức thì phải có thêm những điều kiện khác ngoài hai điều kiện đã quy định như đối với người thực hành. Những điều kiện đó là:

- Sự tự ý của người đồng phạm phải xảy ra trước khi người thực hành trực tiếp bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, vì nếu như người thực hành đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm thì sự tự ý của người đồng phạm không còn tác dụng làm mất tính nguy hiểm cho xã hội mà tội phạm đã gây ra và chính vì vậy mà sự tự ý đó không còn ý nghĩa nữa.

- Đồng thời với sự tự ý, họ phải cô những hành động tích cực ngăn ngừa tội phạm xảy ra, vì họ không phải là người trực tiếp thực hiện tội phạm, nếu như họ chỉ tự ý trong tư tưởng thì tội phạm vẫn xảy ra, hơn nữa nếu họ không có những hành động tích cực ngăn ngừa tội phạm xảy ra thì lấy gì để chứng minh họ tự ý không thực hiện tội phạm nữa? Ví dụ nếu họ cho mượn hung khí, phương tiện thì họ phải đòi lại hoặc trước khi tội phạm được thực hiện họ phải báo với cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp ngăn chặn tội phạm xảy ra.

Tóm lại, khi xem xét một vụ án có vấn đề tự ý nửa chửng chấm dứt việc thực hiện tội phạm. chúng ta cần đánh giá toàn bộ vụ án, căn cứ vào những điều kiện về tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm để xét người thực hiện có phải là tự ý thật sự hay không. Đối với vụ án có đồng phạm, những người không phải là người thực hành thì ngoài những điều kiện chung, bản thân họ còn phải thỏa mãn hai điều kiện riêng thì họ mới được công nhận là tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm.

Nửa chửng chấm dứt việc phạm tội cũng là trường hợp hậu quả chưa xảy ra, nhưng hậu quả ở đây là hậu quả đối với tội định phạm chứ không phải hậu quả thực tế. Ví dụ: A có ý định giết B nhưng mới đâm B một nhát thấy máu của B ra nhiều, A sợ nên không đâm nữa mặc dù không có ai ngăn cản A. Hành vi của A tuy đã gây ra hậu quả thực tế là làm B bị thương nhưng chưa gây ra hậu quả chết người là hậu quả của tội giết người. Nếu đúng là A tự ý nửa chừng chấm dứt việc giết B thì A được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người. nhưng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ được miễn trách nhiệm hình sự chứ không phải là không có sự việc phạm tội, miễn tức là có trách nhiệm hình sự nhưng được Nhà nước miễn. Về ý nghĩa xã hội, miễn trách nhiệm hình sự cũng giống như loại trừ trách nhiệm hình sự (không còn trách nhiệm hình sự) nhưng về mặt pháp lý họ vẫn có thể bị xử lý bằng biện pháp khác. Do đó miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này thực chất là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội họ định phạm, còn hành vi của họ trên thực tế cấu thành tội gì thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ấy. Nếu hành vi của họ không cấu thành tội nào được quy định trong Bộ luật Hình sự thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự và trong trường hợp này tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được coi là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

 

3

HS

Vào hồi 20h30 ngày 21/9/2004, sau khi uống rượu tại nhà bà N. ở thành phố P., tỉnh G., Nguyễn V. T., Trần Đ. H., Nguyễn X. Q., Đinh V. T. và Nguyễn T. Q. cùng tên V.H (không rõ địa chỉ) rủ nhau đến ngồi chơi ở ven đường quốc lộ 14, gần quán nhà bà Th. Lúc này, có anh Tạ V. Tr. đi xe máy theo hướng từ thành phố P. về, khi đến đoạn đường trên, anh Tr. dừng xe để đi vệ sinh. Thấy vậy, Đinh V. T. nói với cả bọn "nó kia, ra vay, xin tiền tụi bay”. Cả bọn nhất trí và ra bao vay xung quanh anh Tr., Đinh V. T. nói "ai cho tiểu ở đây, mất vệ sinh, phạt 50.000 đ". Thấy đồng bọn của Đinh V. T. đông, đường vắng người qua lại nên anh Tr. sợ đó lấy ví ra để lấy tiền đưa cho Đ V. T. 50.000 đ. Thấy vậy, Nguyễn T. Q. nói "không phạt nữa, lấy hết luôn" và giật chiếc ví trên tay anh Tr. Anh Tr. xin lại giấy tờ, N. T.Q. lục ví lấy hết tiền rồi trả lại víớ cho anh Tr.. Trong lúc Quang lấy tiền thì Tuấn lột lấy chiếc đồng hồ ở tay trái anh Tr.

Sáng hôm sau, khi Đinh V. T rủ Nguyễn S. đi thăm bạn đang điều trị ở bệnh viện thì S. nói "không có tiền". Nghe vậy, Nguyễn V. T nói "có tiền hôm qua mới trấn được". Nguyễn V. T rủ S. đến nhà Tuấn thì gặp Nguyễn T. Q., X. Q., Trần Đ. H., V.H. Cả bọn đón xe taxi đi vào trung tâm thành phố P. ăn sáng, uống cà phê, hát Karaoke và uống rượu bằng số tiền lấy được của anh Tr. Trên đường đi chơi, S. đó được Đinh V.T. và đồng bọn kể lại toàn bộ việc chiếm đoạt tiền và đồng hồ của anh Tr. Tối ngày 22/9/2004, Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai của S. nhưng S. không khai báo về hành vi phạm tội của bọn Đinh V. T. Anh Tr. bị chiếm đoạt 2.550.000 đ và 1 chiếc đồng hồ đeo tay.

Cáo trạng số 48 ngày 07/6/2005 của VKSND TP. P. truy tố: Nguyễn V. T., Trần Đ. H., Nguyễn X. Q, Đinh V. T. và Nguyễn T. Q về tội Cướp tài sản theo khoản 1 Điều 133 BLHS và truy tố Nguyễn S. về tội Không tố giác tội phạm theo khoản 1 Điều 314 BLHS.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2005/HSST ngày 30/8/2005 TAND thành phố P. đó áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS (riêng đối với Đinh V.T. và Nguyễn X. Q. áp dụng thêm các Điều 69, 74 BLHS) xử phạt Đinh V. T., Nguyễn T. Q., Đinh V. T. mỗi bị cáo 42 tháng tù, Trần Đ. H: 36 tháng tù, Nguyễn X. Q: 30 tháng tù đều về tội "Cướp tài sản"; áp dụng khoản 1 Điều 314; các điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 69; Điều 74 BLHS xử phạt Nguyễn S. 06 tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm”.

- Tại bản án hình sự phúc thẩm số 02/2006/HSPT ngày 10/1/2006 TAND tỉnh G. áp dụng khoản 1 Điều 135; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS (riêng Đinh V. T. và Nguyễn X. Q. áp dụng thêm các Điều 69 và Điều 74 BLHS; Nguyễn T. Q. áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS) xử phạt Đinh V. T. 30 tháng tù, Nguyễn T. Q. 18 tháng tù và Nguyễn X. Q. 12 tháng tù đều về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; áp dụng điểm 2 Điều 107; điểm d khoản 2 Điều 248; Điều 251 BLHS tuyên Nguyễn S. không phạm tội Không tố giác tội phạm.

Hỏi: Là Kiểm sát viên, anh (chị) hãy:

- Nhận xét về quyết định của bản án sơ thẩm, phúc thẩm?

- Nêu hướng giải quyết?

Nhận xét về quyết định của bản án sơ thẩm, phúc thẩm đối với bị cáo Trịnh Q. A.?

Bị cáo Trịnh Q. A. trước đó không quen biết, mâu thuẩn với anh Kh. nhưng với mục đích cố ý để lấy số tiền nợ cho V. và C. nên dùng xe mô tô chở anh Kh. đến nhà trọ nơi cách xa nhà anh Kh. Tại đây lợi dụng đêm tối, vắng người Trịnh Q. A. khống chế, bắt giữ trái pháp luật anh Kh., dùng lời lẽ và vũ lực nhằm chiếm đoạt lấy tiền (tài sản): Q. A. dùng bộ kích điện kích là loại phương tiện rất nguy hiểm dí điện vào phần bụng, vai, hông người anh Kh. và dùng tay, chân đấm, đạp liên tục anh Kh. ở nhiều vị trí khác nhau gây nên thương tích 29/%; làm cho anh Kh. lâm vào tình trạng không thể chống cự được, ép buộc anh Khánh phải gọi điện thoại về nhà bố mẹ và bạn thân để Q. A. chiếm đoạt tiền. Mặc dù Q. A. chưa nhận được tiền nhưng tội phạm đã hoàn thành. Với hành vi nêu trên, Trịnh Q. A đã phạm 02 tội: “Cướp tài sản” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 133 BLHS và: “Bắt giữ người trái pháp luật” theo Điều 123 BLHS năm 1999.

Bản án hình sự sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố B. xử phạt bị cáo Trịnh Q. A. 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” là sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định tội danh.

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định Trịnh Q. A. phạm tội: “Cướp tài sản” là chính xác nhưng không tuyên hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra, truy tố và xét xử Trịnh Q. A. về hành vi: “Cướp tài sản” theo thủ tục chung là không đúng.

Hướng giải quyết của KSV:

Sau khi nghiên cứu, báo cáo đề nghị Lãnh đạo Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm để hủy 01 phần hai Bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên về tội: “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Trịnh Q. A., giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm điều tra lại bị cáo Trịnh Q. A. về tội “Cướp tài sản” theo quy định của pháp luật.

 

 

4

HC

Anh (chị) hãy nêu các nhiệm vụ cần thiết khi kiểm sát thủ tục phúc thẩm đối với vụ án hành chính?

 

Những nội dung cần kiểm sát

Hoạt động của Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa

+ Nghiên cứu hồ sơ vụ án có kháng cáo, bị kháng nghị và lập hồ sơ kiểm sát

Hoạt động của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm

+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cấp phúc thẩm

+ Tham gia hỏi

+ Phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm (với nội dung: nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm (thụ lý, xác minh bổ sung chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc do Tòa án tự tiến hành, thời hạn chuẩn bị xét xử, thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm...), việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng (thời hạn kháng cáo, việc chấp hành các lần triệu tập của Tòa án phúc thẩm, nội dung yêu cầu Tòa án xác minh bổ sung chứng cứ...) từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa phúc thẩm; việc áp dụng pháp luật tố tụng cũng như pháp luật nội dung của Tòa án cấp sơ thẩm để ra bản án, quyết định đang có kháng cáo, bị kháng nghị phúc thẩm. Trường hợp tại phiên tòa, có những tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi quan điểm giải quyết vụ án đã được Lãnh đạo Viện cho ý kiến thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tạm dừng phiên tòa, báo cáo Lãnh đạo Viện xin ý kiến chỉ đạo; nếu Hội đồng xét xử không tạm dừng phiên tòa thì Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và phải chịu trách nhiệm. Sau phiên tòa phải báo cáo ngay với Lãnh đạo Viện.

Hoạt động của Kiểm sát viên sau phiên tòa

Sau phiên toà, Kiểm sát viên báo cáo kết quả xét xử với Lãnh đạo đơn vị, Lãnh đạo Viện. Đđề xuất việc báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm khi xét thấy việc giải quyết vụ án của Tòa án có vi phạm về pháp luật nội dung hoặc về thủ tục tố tụng (nếu có).

 

Mời bạn đọc cùng tải về bản ZIP để xem đầy đủ nội dung thông tin

Đánh giá bài viết
1 132
Khiếu nại - Tố cáo Xem thêm