Chăm sóc bà bầu phòng ngừa nhiễm độc thai nghén

Chăm sóc bà bầu phòng ngừa nhiễm độc thai nghén

Chăm sóc bà bầu có nguy cơ nhiễm độc thai nghén đòi hỏi người thân phải kề cận để hỗ trợ bà bầu đảm bảo đủ dinh dưỡng cần thiết trong thai kỳ. Đồng thời khám thai thường xuyên để theo dõi huyết áp và protein niệu, phòng nguy cơ tiền sản giật và sản giật và tránh một số loại thực phẩm dễ gây nhiễm độc thai nghén.

Phụ nữ cần khám gì trước khi mang thai

Bí quyết giúp mẹ bầu giảm đau lưng cực hiệu quả khi mang thai

Chăm sóc bà bầu phòng ngừa nhiễm độc thai nghén

Chăm sóc bà bầu

Nhiễm độc thai nghén là những bệnh phát sinh trong thời kỳ thai nghén. Những bệnh này gây nên triệu chứng phù chi dưới (2 chân) của bà bầu ở 3 tháng cuối thai kỳ . Nặng hơn có thể là ở mặt và 2 tay. Những thai phụ bị phù do thai nghén chèn ép thì chỉ cần nằm nghỉ ngơi, gác cao chân sẽ hết phù. Nhưng nếu bị nhiễm độc thai nghén, triệu chứng phù chi này không giảm sau khi bà bầu nghỉ ngơi. Phát hiện bằng cách ấn ngón tay vào mắt cá chân có dấu hiệu lõm của ngón tay. Đồng thời, cân nặng tăng nhanh tới 500g mỗi tuần là do hiện tượng giữ nước trong cơ thể.

Những bà bầu dễ bị nhiễm độc thai nghén nhất là người có tiền sử về một trong các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, viêm cầu thận, thai phụ to béo, mang thai đôi, nhiều nước ối, có bệnh tiểu đường.

Chăm sóc bà bầu có tiền sử bệnh như trên thì phải thường xuyên theo dõi huyết áp, và làm xét nghiệm protein niệu để theo dõi nhiễm độc thai nghén và có hướng điều trị kịp thời.

Bà bầu có nhiễm độc thai nghén, ở thời kỳ cuối của thai nghén huyết áp tối đa tăng lên khoảng 30mmHg và huyết áp tối thiểu tăng khoảng 15mmHg so với trước khi có thai, hoặc có huyết áp trên 140/90mmHg. Xét nghiệm protein niệu nếu lớn hơn 0,3g/l.
Nếu không được điều trị tốt, nhiễm độc thai nghén sẽ dẫn đến các biến chứng là tiền sản giật và sản giật.

Người thân cần phải hiểu các triệu chứng của tiền sản giật và sản giật để chăm sóc bà bầu tốt nhất trước các nguy cơ này:

Tiền sản giật là biểu hiện sản phụ choáng váng, mắt trở nên mờ, có khi buồn nôn, nước tiểu có protein tăng đến 0,5g/l, phù không giảm mà nặng hơn và nước tiểu ít hơn nhưng chưa có cơn giật. Nếu huyết áp trên 160/100mmHg mà điều trị không giảm phải lấy thai ra ngay nếu không có thể dẫn đến cơn sản giật.

Chăm sóc bà bầu phòng ngừa nhiễm độc thai nghén

Khi các triệu chứng tiền sản giật không giảm, phải mổ lấy thai để đề phòng sản giật.

Sản giật thường xảy ra ở thời kỳ cuối của thai nghén, trong khi chuyển dạ và sau đẻ. Sản giật xảy ra ở thai phụ mang thai con so nhiều hơn con rạ, và thường xảy ra từ tuần thứ 30 trở đi.

Biểu hiện của sản giật là bỗng dưng bà bầu bị co giật mạnh, mắt đảo rồi giật toàn cơ thể co cứng, đầu ưỡn ra sau, mắt đảo lên trên, rồi ngừng thở và chuyển rất nhanh sang giật run, co giật ở mặt, giật mạnh ở tay chân. Có thể cắn phải lưỡi và sùi bọt mép, mặt xanh tái rồi chuyển thành xám xịt, sau đó co giật giảm dần, sản phụ bị hôn mê rồi thở rống lên. Có kèm theo phù, tăng huyết áp, protein niệu.

Mạch nhanh, cơn co tăng lên khi giật. Hiện tượng này nếu không được xử trí thì dẫn đến suy tim, phù phổi, chảy máu não thậm chí tử vong.

Đối với sản giật trước đẻ: Những cơn giật có thể dẫn đến đẻ non, thai nhi thường chết. Nếu được điều trị tốt sản phụ có thể chuyển dạ đẻ thường và thai nhi sống.

Đối với sản giật trong khi chuyển dạ: Cơn giật làm cơn co tử cung mạnh, vì vậy đối với sản phụ có cổ tử cung mở chậm phải xử trí mổ lấy thai ngay.

Sản giật sau đẻ: Thường nhẹ hơn, cơn giật thường xảy ra vài giờ sau đẻ.

Ngoài ra, chăm sóc bà bầu có nguy cơ bị nhiễm độc thai nghén còn phải quan tâm đến một chế độ ăn đủ chất dinh dưỡng một cách hợp lý (đường, đạm, vitamin, các chất vi lượng, uống bổ sung viên sắt, axid folic...).

Một số thực phẩm nên tránh

Chăm sóc bà bầu phòng ngừa nhiễm độc thai nghén

Đồ ăn mặn

Thay đổi hoóc-môn trong thời kỳ mang thai, tình trạng ốm nghén hay thiếu nước khiến bà bầu thấy nhạt miệng và thèm ăn mặn hơn.

Thói quen ăn mặn trong thai kỳ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ và bé, thậm chí gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như nhiễm độc thai nghén. Một người phụ nữ bình thường tiêu thụ khoảng 1000 - 2000mg muối/ngày thì đến lúc mang thai, nhu cầu về muối có thể tăng lên 2000 - 4000mg/ngày.

"Nói vậy, không có nghĩa là bạn cần thêm muối vào khẩu phần ăn. Bởi vì nhu cầu thực phẩm tăng cao khi mang thai sẽ kéo theo lượng muối (chứa trong những loại thực phẩm đó) cũng tăng lên" - Colin Maphill (chuyên gia dinh dưỡng) chia sẻ. Do vậy, nếu lượng muối ăn vào cơ thể quá nhiều có thể gây những biến chứng nguy hiểm.

Thực phẩm có tính axit

Quan niệm dân gian thường cho rằng những thực phẩm có tính axit (đồ chua) là rất tốt cho thai phụ ốm nghén để giảm cảm giác nhạt miệng, buồn nôn. Tuy nhiên, thực tế không phải ăn nhiều đồ chua là tốt cho thai kỳ. Nếu mẹ buồn nôn, cảm giác thèm ăn chua thì cũng nên ăn ở một mức độ vừa phải.

Nghiên cứu cho thấy, phụ nữ mang thai ăn quá nhiều thực phẩm có tính axit sẽ làm thay đổi dịch trong cơ thể tạo ra hiện tượng axit hóa, làm thúc đẩy mức độ catecholamine trong máu tăng lên. Hiện tượng này sẽ khiến mẹ cảm thấy khó chịu và tạo cảm giác tiêu cực trong thai kỳ.

Chính cảm xúc tiêu cực này sẽ làm kích thích tố và các chất độc hại tiết ra nhiều hơn trong cơ thể mẹ. Đây chính là nguyên nhân gây ra hiện tượng hở hàm ếch, hở môi và rất nhiều biến dạng khác ở thai nhi.

Thực phẩm có chứa toxoplasma

Nhiễm trùng Toxoplasma là bệnh nhiễm trùng cấp tính sớm trong thai kỳ có thể gây tràn dịch não, đầu nhỏ, vôi hóa não ở thai nhi. Căn bệnh này cùng có thể khiến mẹ bị sảy thai, sinh non, thai chết lưu, trẻ sơ sinh bị co giật, liệt, rối loạn tâm thần và nguy cơ tử vong lên đến 72%.

Hầu như tất cả thịt các loại động vật có vú và các loại chim như lợn, cừu, bò, thỏ, gà, vịt, ngan, ngỗng... đều có thế nhiễm khuẩn Toxoplasma. Các nguồn thực phẩm chính nhiễm bệnh là thịt từ các loại động vật trên không được nấu chín, đồ tái, sống... Vì vậy, để đảm bảo không bị nhiễm khuẩn Toxoplasma, mẹ bầu cần đảm bảo nấu chín tất cả các món ăn trước khi "nạp" vào cơ thể.

Đánh giá bài viết
1 414
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Cẩm nang bà bầu Xem thêm