Chứng minh văn học dân gian là hòn ngọc quý

1 1.246

Chứng minh văn học dân gian là hòn ngọc quý lớp 10

Chứng minh văn học dân gian là hòn ngọc quý là tài liệu văn mẫu lớp 10 được VnDoc.com sưu tầm và đăng tải. Hi vọng tài liệu này sẽ giúp ích cho quá trình dạy và học của quý thầy cô giáo và các em học sinh, giúp những tiết học Văn sinh động và hiệu quả hơn. Mời các em tham khảo.

Đề bài: Hãy dùng một số tác phẩm truyện văn học dân gian để chứng minh ý kiến của Bác Hồ: “Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý”.

Bài tham khảo 1

Có những giá trị sẽ bị quy luật thời gian đào thải nhưng có những giá trị mà thời gian càng khẳng định giá trị tồn tại vĩnh hằng. Những bài ca dao dân ca hay trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam đã thể hiện được giá trị bất chấp bụi thời gian. Cho nên Bác Hồ khi phát biểu về ca dao – dân ca đã nói rằng “ca dao dân ca là những viên ngọc quý".

Thế nào là viên ngọc quý? Ngọc là loại trang sức rất đẹp, có màu sắc tươi đẹp, chất trong sáng lấp lánh khiến mọi người thích ngắm. Nhất là khi nó qua tay người thợ thiên tài thì nó không còn một khuyết điểm nào, nó không còn một tì vết nào, và trở thành hoàn hảo, vô giá. Ca dao dân ca hay cũng như viên ngọc quý được trau chuốt bởi bàn tay, khối óc của nghệ sĩ nhân gian đầy tài năng, nên nó có giá trị nội dung và nghệ thuật tinh vi mà vẫn giữ được cái vẻ tự nhiên, vẫn giữ được bản sắc giản dị mà đẹp đẽ của nó.

Thử chọn vài bài ca dao đã học để khẳng định giá trị hoàn hảo về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật của ca dao dân ca Việt Nam. Bài “Nụ tầm xuân” là một bài ca dao hay về ý đẹp về lời. Với thể thơ lục bát gián thất biến thể, bài thơ không tuân thủ một quy tắc nào về thi luật nhưng lại có một ưu điểm nổi bật vì nó đã góp phần tạo nên tính phong phú về nhạc điệu trong bài thơ. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc diễn xướng, vì đặc trưng của ca dao dân ca là hát lên, nhưng nhịp thay đổi từ nhịp chẵn: 4/2 (trèo lên cây bưởi / hái hoa), 4/4 (bước xuống vườn cà / hái nụ tầm xuân) chuyển sang nhịp lẻ chẵn 3/4 (nụ tầm xuân / nở ra xanh biếc) và từ vần bằng của lục bát chuyển sang hiệp vần trắc song thất: Hoa/cà (lục bát) biếc / tiếc (thất bát). Tác giả lại bồi thêm cách láy ở câu thứ ba “nụ tầm xuân/nụ tầm xuân" và các câu sau cùng theo kết cấu vần điệu mới mẻ như thế làm cho bài thơ có âm điệu ngọt ngào tha thiết làm xúc động người nghe.

Những bài ca dao là những viên ngọc quý của dân tộc Việt Nam

Hình ảnh thơ là chất liệu lấy từ cuộc sống dân dã đời thường ở nông thôn: Cây bưởi, vườn cà, nụ tầm xuân, chim, cá… nên tạo cảm giác rất thân quen. Rất quen nhưng cũng rất lạ lẫm mới mẻ vì nụ tầm xuân hồng, trắng thường ngày trở nên màu xanh biếc. Cho nên tuy nói đơn giản nhưng rất ẩn dụ, chỉ nói “nụ tầm xuân” thôi cũng đã ẩn dụ cho tình yêu, cho vẻ đẹp của người con gái rồi, huống chi “nụ tầm xuân xanh biếc”, càng gợi lên cái vẻ tươi non hồn nhiên, vậy mà “em đã có chồng” rồi. Cho nên cảm giác “tiếc” càng xót xa đến tận tâm can. Cái màu xanh ấy mới trở nên lãng mạn trữ tình biết bao! Cái màu xanh ấy sao xuyến gợi thương, gợi nhớ.

Cái thương nhớ một thời trẻ trung nhiều kỉ niệm của đôi trai làng gái quê cùng xóm cùng làng. Vậy mà họ không kịp lấy nhau vì chàng trễ nãi, không ngờ nàng phải chịu gả chồng ngay trong cái độ chưa chín, cái độ non tơ “xanh biếc”, “tiếc lắm thay” mối tình xanh ngời ngợi! Câu thơ buông xuống như tiếng thở dài nghẹn ngào cho nên chàng trai không thể nói thêm được lời nào. Cái im lặng của chàng trai ở đây đã thể hiện trình độ nghệ thuật tinh tế của người nghệ sĩ nhân gian… là cả một sự trải nghiệm về tình yêu và cuộc đời. Có những lúc sự im lặng là vàng. Nó nói lên tất cả mọi điều mà ngôn từ không còn khả năng biểu hiện. Tuyệt hay, đó không phải là chất ngọc vẻ ngọc sao?

Biện pháp tu từ so sánh, kết hợp với lối điệp liên hoàn và song hành ở cuối bài thơ góp phần khẳng định cái chất ngọc của ca dao, nó gợi lên một cách đầy đủ và sống động cuộc đời bất hạnh của người phụ nữ Việt Nam xưa: Có chồng theo sự ép buộc của gia đình hoặc theo sự cưỡng đoạt của nhà giàu, người phụ nữ xưa phải sống không tự do, không hạnh phúc, bị trói buộc như nô lệ. Cách so sánh quen thuộc nhưng rất hay. Bởi “chim lồng, cá móc câu” thì còn mong ước gì tự do, còn mong gì được sống theo ý mình! Tâm trạng đau khổ, tiếc hận cuộc đời bế tắc không lôi thoát, không ánh sáng tương lai thể hiện rất rõ trong lời than của cô gái làm não lòng người nghe, làm nhức nhối tim gan chàng trai. Chỉ có mười câu ca dao mà người xưa đã gợi lên cả một vấn đề lớn, tình yêu lứa đôi và thân phận con người. Sự đồng cảm của tác giả đã tạo nên một giá trị nhân đạo cho ca dao, lời tiếc nuối của chàng trai và lời than thân trách phận của cô gái tạo nên giá trị nhân bản cho ca dao. Các biện pháp nghệ thuật tinh tế nâng cánh cho bài ca dao mang những giá trị hiện thực, nhân bản, nhân đạo quý giá ấy vượt bức tường thời gian để đến với chúng ta ngày nay.

Bài “Tát nước đầu đình” có cái hay về nội dung, thể hiện trí thông minh, tình cảm chân thành nghiêm túc của người bình dân. Cái hay nghệ thuật; hình ảnh chọn lọc phù hợp vừa có tính truyền thống vừa có sự sáng tạo. Biện pháp tu từ ẩn dụ được tận dụng nhiều lần: “Cái áo”, “cành sen”, “cái áo trên cành hoa sen”, “áo sứt chỉ đường tà", “áo sứt chỉ đã lâu”. Biện pháp liệt kê và hoán dụ cùng đã được vận dụng tập trung và linh hoạt ở đoạn cuối góp phần tạo nhạc cho thơ khiến bài ca dao hết sức sôi nổi, hào hứng, khẩn trương. Cách dẫn dắt vấn đề, cách dùng từ là một thành công xuất sắc của bài ca dao trữ tình này: Linh hoạt, tinh tế, nói lên được cái chất thông minh, khỏe mạnh về tinh thần, hoạt bát về ứng đối, trẻ trung duyên dáng trong giao tiếp.

Bài ca dao còn để lại cho những thế hệ sau này một minh chứng bằng văn bản về phong tục cưới xin của dân tộc ngày xưa. Qua hai bài ca dao, ta hiểu được đời sống, những sinh hoạt cộng đồng lành mạnh ngày xưa của tuổi trẻ Việt Nam. Đó là một viên ngọc lấp lánh, vẻ tài hoa, trí tuệ, trữ tình của nhân dân ta ngày xưa.

Bài tham khảo 2

1. Phần truyện dân gian có thể đề cập đến các vấn đề sau:

• Là viên ngọc quý vì nội dung truyện dân gian rất lành mạnh, giàu tính hiện thực, tính chiến đấu, tính nhân đạo. Trong văn học dân gian không có màu sắc bi quan của kẻ chán đời bất đắc chí như trong văn học viết sau này. Nếu có than thở thì cũng xuất phát từ hoàn cảnh quá bức xúc, than thở nhưng vẫn vươn lên, vẫn tự tin chứ không ủy mị, không tìm cách trốn tránh cuộc đời. Đặc biệt, trong truyện dân gian không bao giờ nhầm lẫn giữa cái tốt cái xấu, bao giờ cũng đứng về phía người tốt, người bị áp bức để bênh vực họ, ước muốn mọi điều tốt đẹp cho những kẻ bất hạnh. Do đó văn học dân gian không bao giờ có chất phản động, lạc hậu trong tư tưởng như văn học của giai cấp phong kiến. Điều này chứng minh tính hơn hẳn của văn học dân gian so với văn học viết. Bởi vì ngay cả một con người, vĩ đại Nguyễn Du mà còn có những hạn chế tưởng không nhỏ trong sáng tác.

Truyện lại còn có tác dụng giáo dục rất lớn. Mỗi truyện đều mang lại cho chúng ta một bài học về cuộc sống. Khi thì là một bài học về sự ứng đối như trong truyện An Dương Vương. Khi là một bài học về sự ứng đối như trong các truyện về nhân vật khôn ngoan. Khi lại là những bài học về cách xử thế như truyện Lưu Bình Dương Lễ. Khi khẳng định chân lí ở hiền gặp lành, ác giả ác báo. Đặc biệt truyện giáo dục con người phải biết vươn lên tìm hạnh phúc, phải biết yêu thương đồng loại như truyện: Tấm Cám, Lấy vợ Cóc, Sự tích con nhiền nhện... Cách giải quyết vấn đề trong truyện cổ cũng tình lí rõ ràng, tuân thủ theo từng người và cả quy luật cuộc sống như cách giải quyết trường hợp An Dương Vương, Mị Châu, của Tấm Cám, truyện Cây khế...

• Cách kể chuyện, tạo tình huống truyện, xây dựng nhân vật dẫn dắt tình tiết truyện, xây dựng hình tượng nghệ thuật đều thể hiện tài năng của người xưa.

2. Trong tục ngữ ca dao thì giá trị của nó cũng rất cao về nghệ thuật cũng như về nội dung. Cũng như trong truyện dân gian, tục ngữ, ca dao, vừa thể hiện trí thông minh, bề dày kinh nghiệm sống, lao động sản xuất, tâm hồn cao đẹp với cách sống trọng tình nghĩa của người bình dân. Nhất là ca dao dân ca đã là những viên ngọc lấp lánh tài hoa và vẻ đẹp muôn màu của đời sống người bình dân.

Nói về tình yêu đôi lứa trong ca dao dân ca, có ý kiến cho rằng:

“Trong ca dao, dân ca về tình yêu nam nữ, nội dung tình cảm này rất phong phú. Đó là những tình cảm thương yêu, nhớ thương, hạnh phúc, đau khổ, hờn giận, oán trách, nuối tiếc, Ước mơ...”.

Bằng sự hiểu biết của mình về ca dao dân ca, em hãy chứng minh nhận định trên. Em có nhận xét gì về hạnh phúc của tuổi trẻ trong xã hội xưa.

Yêu cầu chung

• Kiểu bài: Chứng minh và phát biểu cảm nghĩ.

• Nội dung: Sự phong phú đa dạng trong tình yêu nam nữ.

• Tư liệu: Ca dao - dân ca.

Yêu cầu cụ thể:

1. Chứng minh qua ca dao dân ca làm nổi bật các ý sau:

• Thương yêu

• Nhớ thương

• Hạnh phúc

(Có thể tách riêng từng ý phụ có sẵn ở đề, có thể gộp một số ý nếu thấy chúng có nội dung gần nhau).

2. Phát biểu và nhận xét:

Lưu ý: Học sinh có thể có nhiều ý kiến nhận xét khác nhau, song có thể xoay quanh hai ý:

• Người bình dân thường có tình yêu nồng nàn trong sáng ý nhị... Đó là những yếu tố cơ bản để cho những đôi trai gái sống hạnh phúc.

Vì phải sống trong xã hội phong kiến, không được tự do hôn nhân, nhiều khi họ không được chủ động xây dựng hạnh phúc nên họ đau khổ, oán trách, hờn giận, nuối tiếc.

Đánh giá bài viết
1 1.246

Video đang được xem nhiều

Ngữ văn lớp 10 Xem thêm