Đề cương ôn tập học kì 2 môn Tiếng Việt lớp 4 năm 2018 - 2019

Đề cương ôn tập học kì 2 môn Tiếng Việt lớp 4 năm 2018 - 2019 bao gồm nội dung ôn tập chi tiết và đề ôn tập có đáp án cho các em học sinh tham khảo nắm được cấu trúc bài kiểm tra học kì 2 lớp 4 môn Tiếng Việt, củng cố kiến thức, chuẩn bị cho bài thi học kì 2 lớp 4 đạt kết quả cao. Mời các em học sinh tham khảo chi tiết.

Nội dung ôn tập học kì 2 Tiếng Việt lớp 4

Phần đọc thành tiếng

- Đọc một 1 đoạn văn kết hợp trả lời câu hỏi với nội dung đoạn vừa đọc theo yêu cầu của giáo viên.

- Ôn lại các bài Tập đọc từ tuần 19 - tuần 34.

Phần đọc, hiểu

- Xác định được hình ảnh, nhân vật, chi tiết có ý nghĩa trong bài đọc.

- Hiểu nội dung của đoạn, bài đã đọc, hiểu ý nghĩa của bài.

- Giải thích được chi tiết trong bài bằng suy luận trực tiếp hoặc rút ra thông tin từ bài đọc.

- Nhận xét được hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết trong bài đọc; biết liên hệ những điều đọc được với bản thân và thực tế.

Phần kiến thức Tiếng Việt - Luyện từ và câu

- Hiểu nghĩa và sử dụng được một số từ ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ, từ Hán Việt thông dụng) thuộc các chủ điểm đã học.

- Sử dụng được dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang

- Nhận biết và bước đầu cảm nhận được cái hay của những câu văn có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa; biết dùng biện pháp so sánh và nhân hóa để viết được câu văn hay.

Phần Chính tả

Nghe đọc với đoạn Chính tả theo yêu cầu.

Phần Tập làm văn

- Ôn tập văn miêu tả: Tả cây cối, tả con vật

Đề ôn tập cuối học kì II môn Tiếng Việt lớp 4

A- Kiểm tra đọc

I- Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi (5 điểm)

Đọc một trong năm đoạn văn (thơ) sau và trả lời câu hỏi:

1. Đường đi Sa Pa (từ Xe chúng tôi đến lướt thướt liễu rủ)

TLCH: Đường đi Sa Pa được tả trong đoạn văn có gì đẹp?

2. Ăng-co Vát (từ Toàn bộ khu đền đến các ngách)

TLCH: Phong cảnh khu đền vào lúc hoàng hôn có gì đẹp?

3. Con chuồn chuồn nước (từ Rồi đột nhiên đến cao vút)

TLCH: Cảnh quê hương hiện lên dưới tầm cánh chú chuồn chuồn nước đẹp như thế nào?

4. Con chim chiền chiện (cả bài)

TLCH: Tiếng hót của chim chiền chiện được miêu tả như thế nào?

5. Tiếng cười là liều thuốc bổ

TLCH: Vì sao nói tiếng cười là liều thuốc bổ?

II- Đọc thầm và làm bài tập (5 điểm)

Chính tôi có lỗi

Ngoài hành lang nhà ở của Vla-đi-mia I lích Lê-nin, người chỉ huy đội bảo vệ điện Krem-li đặt một trạm gác. Các học sinh trường quân sự được phân công trực gác hằng ngày. Hôm ấy, một học sinh quân trẻ tuổi không biết mặt Lê-nin, được cử làm nhiệm vụ trực gác. Anh ta cản đường Lê-nin không cho vào và nghiêm nghị nói:

- Xin đồng chí cho xem giấy ra vào!

- Nhưng kia là cửa nhà tôi! – Lê-nin sửng sốt giơ tay chỉ

- Tôi không biết. – Người gác cửa trả lời. – Tôi được lệnh không cho ai đi qua nếu không có giấy ra vào.

Lê-nin không tranh cãi, trở lại Sở chỉ huy lấy giấy ra vào để về phòng mình. Khi giao ban, anh học sinh quân báo cáo với đồng chí chỉ huy về việc đó. Tất nhiên, cả Sở chỉ huy đều biết câu chuyện ấy. Đồng chí chỉ huy nghiêm giọng hỏi anh học sinh quân:

- Cậu có biết cậu không cho ai vào không?

- Tôi không biết

- Chủ tịch Hội đồng Ủy viên nhân dân Lê-nin đấy!

Anh học sinh quân đỏ mặt và bối rối. Ngay lúc đó, anh chạy đến xin lỗi Lê-nin. Lê-nin bình tĩnh và nghiêm trang nghe anh nói, duy trong khóe mắt lấp lánh những đốm lửa tươi vui. Nghe xong, Lê-nin ôn tồn nói:

- Không, đồng chí không có lỗi gì cả. Chỉ thị của chỉ huy trưởng là pháp lệnh. Chẳng lẽ tôi là Chủ tịch mà lại có thể vi phạm pháp lệnh hay sao? Chính tôi có lỗi, còn đồng chí đã giải quyết đúng.

(Theo Bô-rít Pô-lê-vôi)

Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng

1. Khi Lê-nin đi qua trạm gác để vào nhà, anh học sinh quân đã làm gì?

a- Cản đường không cho vào và yêu cầu cho xem giấy tờ

b- Lễ phép mời Lê-nin vào nhà mà không cần xem giấy tờ

c- Đọc giấy tờ của Lê-nin và vui vẻ mời lãnh tụ vào nhà

2. Vì sao anh học sinh quân không để Lê-nin đi qua trạm gác?

a- Vì Lê-nin không có giấy ra vào

b- Vì anh không nhớ rõ mặt Lê-nin

c- Vì anh không nắm được quy định

3. Khi không được qua trạm gác để về nhà, Lê-nin đã hành động như thế nào?

a- Đề nghị chỉ huy phê bình anh học sinh quân

b- Nói cho anh học sinh quân biết tên mình

c- Trở lại Sở chỉ huy lấy giấy ra vào để về nhà

4. Vì sao khi nghe anh học sinh quân xin lỗi, trong khóe mắt Lê-nin lại “lấp lánh những ánh lửa tươi vui”?

a- Vì thấy anh học sinh quân đã nhận ra khuyết điểm và đến nhận lỗi

b- Vì tháy anh học sinh quân đã chấp hành pháp lệnh rất nghiêm túc

c- Vì thấy anh học sinh quân đã chấp hành mệnh của vị chỉ huy

5. Câu chuyện muốn nói lên điều gì là chủ yếu?

a- Lê-nin là người hiền từ và nhân hậu

b- Lê-nin rất tôn trọng nội quy chung

c- Đi qua trạm gác phải có giấy ra vào

6. Dòng nào viết đúng các danh từ riêng trong bài?

a- Vla-đi mia I-lích Lê-Nin, Krem-li, Lê-Nin

b- Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, Krem-li, Lê-nin

c- Vla-đi-Mia I-Lích Lê-nin, Krem-Li, Lê-nin

7. Câu “Hôm ấy, một học sinh quân trẻ tuổi không biết mặt Lê-nin được cử làm nhiệm vụ trực gác.” Có mấy danh từ chung?

a- 2 danh từ chung (đó là:…………………………..)

b- 3 danh từ chung (đó là:…………………………..)

c- 4 danh từ chung (đó là:…………………………..)

8. (1) Trong câu “Ngoài hành lang nhà ở của Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, người chỉ huy đội bảo vệ điện Krem-li đặt một trạm gác.”, bộ phận nào là chủ ngữ?

a- Vla-đi-mia I-lích Lê-nin

b- người chỉ huy đội bảo vệ

c- người chỉ huy đội bảo vệ điện Krem-li

(2) Bộ phận trạng ngữ trong câu trên trả lời cho câu hỏi nào?

a- Bao giờ?

b- Ở đâu?

c- Vì sao?

B- Kiểm tra viết

I- Chính tả nghe-viết (5 điểm)

Chú mèo con

Mèo con nhảy một cái thật cao theo bướm, rồi cuộn tròn lăn lông lốc giữa san cho đến lúc chạm bịch vào một gốc cau. “Rì rào, rì rào, con mèo nào mới về thế?”. Cây cau lắc lư chòm lá tít trên cao hỏi xuống. “Rì rào, rì rào, chú bé leo lên đây nào!”. Mèo con ôm lấy thân cau, trèo nhanh thoăn thoắt. “Rì rào, rì rào, ừ chú trèo khá đấy!”. Mèo con ngứa vuốt cào cào thân cau sồn sột. “Ấy, ấy! Chú làm xước cả mình tôi rồi. Để vuốt sắc mà bắt chuột chứ”.

(Nguyễn Đình Thi)

II- Tập làm văn (5 điểm)

Hãy tả một con vật mà em yêu thích

(Chú ý: HS viết bài tập làm văn vào giấy ô li)

Đáp án môn đề ôn tập Tiếng Việt lớp 4

A- Đọc (10 điểm)

I- Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi (5 điểm)

- Như hướng dẫn ở bài kiểm tra học kì I

- Trả lời đúng ý câu hỏi: 1 điểm. VD:

(1) Đường đi Sa Pa được tả trong đoạn văn rất đẹp: xe như đi trong những đám mây trắng bồng bềnh, huyền ảo, đi giữa những thác trắng xóa tựa mây trời, đi giữa những rừng cây âm âm, giữa những cảnh vật rực rỡ sắc màu: những bông hoa chuối rực lên như ngọn lửa, những con ngựa đủ màu sắc đang ăn cỏ trong vườn đào.

(2) Vào lúc hoàng hôn, Ăng-co Vát thật huy hoàng: ánh sáng chiếu soi vào bóng tối cửa đền, những ngọn tháp cao vút lấp loáng giữa những chùm lá thốt nốt xòe tán tròn; ngôi đền cao với những thềm đá rêu phong càng trở nên uy nghi, thâm nghiêm hơn dưới ánh chiều vàng, khi đàn dơi bay tỏa ra từ các ngách.

(3) Cảnh quê hương hiện lên dưới tầm cánh chú chuồn chuồn nước rất đẹp: mặt hồ trải rộng mênh mông và lặng sóng, lũy tre xanh rì rào trong gió, bờ ao với những khóm khoai nước rung rinh, cánh đồng với những đàn trâu thung thăng gặm cỏ, dòng sông với những đoàn thuyền ngược xuôi, trên tầng cao là đàn cò đang bay, là trời xanh trong và cao vút.

(4) Những câu thơ miêu tả tiếng hót của chim chiền chiện: “Tiếng ngọc trong veo. Chim gieo từng chuỗi” (khổ thơ thứ tư), “Đồng quê chan chứa. Nững lời chim ca” (khổ thơ thứ năm), “Chỉ còn tiếng hót. Làm xanh da trời” (khổ thơ thứ sáu) cho ta thấy tiếng hót của chim chiền chiện hay đến mức nghe tiếng chim hót ta có cảm giác đất trời, cuộc sống đều tươi đẹp, đáng yêu hơn.

(5) Ta nói tiếng cười là liều thuốc bổ vì khi cười, tốc độ thở của con người tăng lên đến 100km một giờ, các cơ mặt giãn ra, não tiết ra một chất làm con người có cảm giác sảng khoái, thỏa mãn.

II- Đọc thầm và làm bài tập (5 điểm)

1.a (0,5 điểm)

2.a (0,5 điểm)

3.c (0,5 điểm)

4.b (0,5 điểm)

5.b (0,5 điểm)

6.b (0,5 điểm)

7.c (1 điểm – viết đúng 4 danh từ chung: hôm, học sinh quân, mặt, nhiệm vụ; chỉ viết sai 1 từ cũng bị trừ 0,5 điểm)

8. (1) c ( 0,5 điểm) (2) b (0,5 điểm)

B- Viết (10 điểm)

I- Chính tả nghe- viết (5 điểm – 17 phút)

- Em nhờ bạn (hoặc người thân) đọc để viết bài chính tả

- Bài viết được điểm tối đa khi không mắc lỗi chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày đẹp. Mỗi lỗi chính tả trong bài viết (sai- lẫn phụ âm đầu hoặc vần, thanh, không viết hoa đúng quy định) trừ 0,5 điểm. Nếu chữ viết không rõ ràng, sai về độ cao, khoảng cách, kiểu chữ hoặc trình bày không sạch sẽ… bị trừ 1 điểm toàn bài

II- Tập làm văn (5 điểm – thời gian làm bài khoảng 35 phút)

Tham khảo: Bài văn tả con mèo

“Meo! Meo!”. Nghe những âm thanh dịu dàng quen thuộc, tôi liền cúi nhìn xuống. Mèo Mun đã đến bên tôi từ lúc nào. Nó ngồi cạnh chân tôi và ngước nhìn tôi bằng đôi mắt trong xanh ánh lên vẻ nũng nịu.

Mèo Mun nhà tôi đã được hơn một tuổi. Giờ đây Mun đã là một cô mèo đỏm dáng. Thân hình nó thon thả. Đôi tai mỏng dựng đứng trên cái đầu tròn như quả cam. Cái mũi ươn ướt màu trắng hồng như một cái khuy bạc nổi bật trên chiếc áo lông đen tuyền. Hàng ria mép trắng như cước, lúc nằm chơi lại rung lên nhè nhẹ. Cái đuôi mềm mại luôn ve vẩy.

Trong nhà, Mun quý nhất là tôi. Hễ thấy bóng tôi đi đâu về là nó chạy vội ra đón, vẻ mừng rỡ. Những lúc ấy trông Mun như một cô tiểu thư nhõng nhẽo. Tôi lại bế Mun lên và dành cho cô những cái vuốt ve âu yếm. Thế mà tối đến, Mun nhanh nhẹn và hoạt bát y hệt như một tráng sĩ. Không một con chuột nào xuất hiện mà thoát khỏi móng vuốt sắc nhọn của Mun.

Từ ngày có Mun, lũ chuột không dám đến nhà tôi quậy phá nữa. Cả nhà tôi đều phong cho Mun danh hiệu “Dũng sĩ diệt chuột”.

(Theo báo Điện tử)

Ngoài ra, các bạn luyện giải bài tập SGK Tiếng Việt 4 hay SGK môn Toán lớp 4 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc. Đồng thời các dạng đề thi học kì 1 lớp 4, đề thi học kì 2 theo Thông tư 22 mới nhất được cập nhật. Mời các em học sinh, các thầy cô cùng các bậc phụ huynh tham khảo đề thi, bài tập mới nhất.

Đánh giá bài viết
44 10.007
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Đề thi học kì 2 lớp 4 môn Tiếng Việt Xem thêm