Đề thi học kì 2 môn Ngữ văn lớp 12 trường THPT Lương Ngọc Quyến, Thái Nguyên năm học 2015 - 2016

1 757

Đề thi học kì 2 môn Văn lớp 12 có đáp án

Đề thi học kì 2 môn Ngữ văn lớp 12 trường THPT Lương Ngọc Quyến, Thái Nguyên năm học 2015 - 2016 có đáp án đi kèm. Đây là đề ôn thi cuối năm môn Văn lớp 12 hữu ích, dành cho các bạn học sinh, giúp các bạn củng cố và nâng cao kỹ năng làm Văn hiệu quả. Mời các bạn tham khảo.

Đề thi học kì 2 môn Ngữ văn lớp 12 trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn, Quảng Trị năm học 2015 - 2016

Đề thi học kì 2 môn Ngữ văn lớp 12 trường THPT Đa Phúc, Hà Nội năm học 2015 - 2016

Đề thi học kì 2 môn Ngữ văn lớp 12 tỉnh Hà Tĩnh năm học 2015 - 2016

SỞ GD&ĐT THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG THPT
LƯƠNG NGỌC QUYẾN

ĐỀ CHÍNH THỨC

ĐỀ KIỂM HỌC KỲ II

NĂM HỌC 2015 – 2016

MÔN: Ngữ văn – Lớp 12

Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian giao đề.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

DẶN CON

Chẳng ai muốn làm hành khất
Tội trời đày ở nhân gian
Con không được cười giễu họ
Dù họ hôi hám úa tàn.

Nhà mình sát đường họ đến
Có cho thì có là bao
Con không bao giờ được hỏi
Quê hương họ ở nơi nào.

Con chó nhà mình rất hư
Cứ thấy ăn mày là cắn
Con phải răn dạy nó đi
Nếu không thì con đem bán.

Mình tạm gọi là no ấm
Ai biết cơ trời vần xoay
Lòng tốt gửi vào thiên hạ
Biết đâu nuôi bố sau này.

(Trần Nhuận Minh – Nguồn thivien.net)

Câu 1. Nêu phương thức biểu đạt của bài thơ?

Câu 2. Chỉ ra các từ ngữ được dùng theo nghĩa chuyển ở khổ thơ thứ nhất và giải thích ngắn gọn ý nghĩa của từ ngữ đó gắn với ngữ cảnh trong bài thơ?

Câu 3. Tại sao tác giả lại dặn: "Con không bao giờ được hỏi/ Quê hương họ ở nơi nào"?

Câu 4. Bài thơ đã gợi cho anh /chị suy nghĩ gì về cách ứng xử của con người với con người, đặc biệt là với những người có số phận kém may mắn? (Trình bày từ 5 đến 7 dòng)

II. PHẦN LÀM VĂN (7.0 điểm)

... "Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mị đã dậy thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần.

Thường khi đến gà gáy sáng Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì các chị em trong nhà mới bắt đầu dậy ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn. Chỉ chợp mắt được từng lúc, Mị lại thức sưởi lửa suốt đêm. Mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi. Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, chỉ biết còn ở với ngọn lửa. Có đêm A Sử chợt về, thấy Mị ngồi đấy, A Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp. Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước.

Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi... Người kia việc gì mà phải chết thế. A Phủ... Mị phảng phất nghĩ như vậy.

Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị lại tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ...

Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại... Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng "Đi ngay...", rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy".

(Trích Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữ văn 12 Tr 13 - 14, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tô Hoài trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ.

.................... Hết.....................

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Đáp án đề kiểm tra học kỳ II môn Văn lớp 12 có đáp án

Phần 1: Đọc hiểu

1. Phương thức biểu đạt của bài thơ: biểu cảm

2. Từ được dùng theo nghĩa chuyển: úa tàn. Trong câu thơ: Dù họ hôi hám úa tàn, từ úa tàn chỉ trạng thái tiều tụy, gầy ốm, rách rưới của người ăn mày.

3. Tác giả dặn con: Con không bao giờ được hỏi/ Quê hương họ ở nơi nào, Vì con hỏi như thế tưởng là quan tâm đến họ nhưng thực ra là con đang chọc vào nỗi đau, làm thức dậy những quá khứ buồn đau, những tổn thất, mất mát, những rủi ro khiến họ rơi vào cảnh " tha phương cầu thực" khốn cùng.

4. Viết được đoạn văn có cấu trúc chặt chẽ, ý tứ rõ ràng bày tỏ suy nghĩ về cách ứng xử giữa con người với con ngườimà bài thơ gợi ra. Đó là phải dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, yêu thương nhau chân thành, nhất là với những người có hoàn cảnh kém may mắn, bởi họ rất dễ bị tổn thương.

Phần 2: Làm văn

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tô Hoài trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ.

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Nhân vật Mị trong đoạn trích; tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tô Hoài trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích và nhân vật Mị.

* Cảm nhận về nhân vật Mị trong đoạn trích:

  • Mị sống cô đơn, lặng câm, vô cảm bởi sự áp bức, đày đọa, giam hãm của cha con nhà thống lí.
  • Sức sống tiềm tàng trong con người Mị đã hồi sinh từ sự tác động của dòng nước mắt của A Phủ.........(nhớ lại quá khứ đau thương,thấy thương mình, thương người đồng cảm, căm ghét cha con thống lí, ý thức được tình trạng bất công và cuối cùng vượt lên sự sợ hãi.)

Hành động cởi trói cho A Phủ là bột phát nhưng thể hiện logic tâm lí tất yếu. Mị đã giải thoát cho A Phủ và tự giải thoát cho cuộc đời mình.

  • Đánh giá: Mị có sức phản kháng mạnh mẽ, có tình thương, sự đồng cảm giai cấp, niềm khao khát tự do mãnh liệt.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật (miêu tả tâm lí nhân vật, giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, đượm màu sắc và phong vị dân tộc...)

* Bình luận về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tô Hoài trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ:

  • Thương cảm, xót xa trước những thân phận người dân Tây Bắc bị bọn thực dân, chúa đất áp bức, đày đoạ.
  • Tố cáo bọn thực dân, chúa đất đã vùi dập con người.
  • Nâng niu, trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của con người.

Đồng cảm với những khát vọng chính đáng của con người.

  • Chiều sâu nhân đạo của ngòi bút Tô Hoài là ở chỗ nhà văn tin vào khả năng cải tạo hoàn cảnh của con người.
  • Tư tưởng nhân đạo của Tô Hoài đã góp phần làm sâu sắc thêm chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam.

d. Sáng tạo

Có cách diễn đạ sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu

Đánh giá bài viết
1 757
Đề thi học kì 2 lớp 12 môn Văn Xem thêm