Giải bài tập Ngữ văn lớp 8 bài 21: Viết bài tập làm văn số 5 - Văn thuyết minh

1 133

Giải bài tập Ngữ văn bài 21: Viết bài tập làm văn số 5 - Văn thuyết minh

Giải bài tập Ngữ văn lớp 8 bài 21: Viết bài tập làm văn số 5 - Văn thuyết minh được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo

Viết bài tập làm văn số 5 - Văn thuyết minh

I. Một số đề tham khảo

1. Giới thiệu một đồ dùng trong học tập hoặc trong sinh hoạt.

2. Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em.

3. Thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn bản đơn giản (như văn bản đề nghị, báo cáo, thể thơ lục bát)

4. Giới thiệu một loại hoa (như hoa đào, hoa mai...) hoặc một loại cây (như cây chuối, cây na...)

5. Thuyết minh về một giống vật nuôi.

6. Giới thiệu một sản phẩm, một trò chơi mang bản sắc Việt Nam (như chiếc nón lá, chiếc áo dài, trò chơi thả diều).

II. Một số bài văn tham khảo

Đề 1. Giới thiệu một đồ dùng học tập trong sinh hoạt (cái bàn học)

Trong các đồ vật gia đình, từ cái lọ hoa đến chiếc tivi, vật nào đối với em cũng thân thiết và có nhiều kỉ niệm nhưng em thích nhất và gắn bó nhất với chiếc bàn học nhỏ xinh của mình.

Gia đình em ở thành phố nên rất chật hẹp, có được góc học tập riêng là điều không phải dễ. Thông thường cả nhà cùng ngồi làm việc ở chiếc bàn trong phòng khách, đồng thời cũng là phòng ăn và nơi để xe máy vào buổi tối. Đầu năm học lớp 8, ba em làm thêm cái gác gỗ cơi nới cho căn nhà được rộng hơn. Thế là em có được một cơ ngơi riêng cho mình và người bạn trung thành – tên gọi mà em đặt cho chiếc bàn của mình – bắt đầu xuất hiện và gắn bó với em từ đó.

Người bạn trung thành của em thật xinh xắn chiều ngang chỉ độ 0,5m chiều dài khá hơn 0,8m và chiều cao 0,6m rất phù hợp với chiều cao khiêm tốn của chủ nhân nó chỉ có 1,5m. Chiếc bàn được làm bằng gỗ xoan đào khá chắc chắn, có màu nâu nhạt thơm phức mùi gỗ, trên mặt bàn có những đường vân lượn sóng hình bầu dục. Mặc dù bé nhưng người bạn trung thành của em vẫn rất thuận tiện. Có tới ba ngăn kéo hẳn hoi tha hồ để em đựng sách vở và đồ dùng học tập. Trước đây toàn bộ sách vở của em phải cất thành một chồng, giờ đây em phân chia ra ở hai ngăn kéo anh em (vì có ngăn trên và ngăn dưới) một ngăn em để sách, một ngăn em để tập ghi và vở làm bài tập. Ngăn thứ ba ở phía tay phải không sâu bằng nhưng lại rộng hơn rất nhiều, em để bút mực, thước kẻ và một vài đồ dùng học tập khác. Chiếc đồng hồ báo thức hình quả quýt em để nó ở dưới chân của chiếc đèn bàn để nó luôn nhắc nhở em học bài và thức dậy đúng giờ.

Từ khi có chiếc bàn mới, ngồi học em cảm thấy dễ chịu hơn, tập trung hơn, tính bừa bộn của em cũng giảm đi rất nhiều. Em thích sắp đặt cho cơ ngơi của mình được sạch sẽ ngay ngắn. Mỗi lần ngồi vào bàn đặt tay trên mặt bàn nhẫn cảm giác thật mát mẻ, dễ chịu.

Mẹ dặn em để giữ cho mặt bàn được bóng lâu không nên để những đồ vật quá nóng lên mặt bàn, tránh dùng những đồ vật nhọn cứng, sắc cạnh để lên mặt bàn sẽ làm cho bàn bị trầy xước. Ba mua cho em tấm kính trong để lên trên vừa bảo vệ được mặt bàn lại vừa tha hồ trang trí. Em chọn hình một con gà trống to với cái mào đỏ chót, cái đuôi cong vút đang vươn cổ gáy dõng dạc để vào ngay chính giữa – vì em cầm tinh con gà mà.

Chiếc bàn gắn bó với em khuya sớm và sẽ còn đi suốt cả quãng đường học sinh. Chiếc bàn là người bạn trung thành yêu mến của em.

(Lê Nam, Trường THCS Lê Quý Đôn – Đà Nẵng)

Đề 2. Giới thiệu danh lam thắng cảnh ở quê em.

Quê em có rất nhiều cảnh đẹp để lòng người yêu mến, dòng sông Trà Khúc bao quanh làng như một dải lụa xanh, đình làng núp bóng dưới gốc cây đa cổ thụ đã có vài trăm năm tuổi, những hồ sen toả hương thơm ngát khắp cả cánh đồng mỗi độ hè về nhưng có lẽ khắc ghi trong em nhất là ngôi chùa Ông ở trên núi Chúa.

Chùa Ông không lớn lắm nhưng đã được xây dựng rất lâu từ thế kỉ XIX. Chùa nằm trên một đỉnh núi xung quanh cây cối um tùm, hoàn toàn cách biệt với cuộc sống xô bồ, náo động. Khách hành hương đến thăm chùa đều rất thích bởi sự yên tĩnh và cổ kính của không gian chùa gợi lên. Phong cảnh chùa y hệt như ngôi chùa ở núi Đọi trong thơ Nguyễn Khuyến:

Chùa xưa ở lẫn cùng cây lá

Sư cụ nằm chung với khói mây.

Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống, gồm ba toà, gian chính là tượng Phật Thích Ca, hai gian bên là tượng phật Quan Thế Âm Bồ Tát và Vạn Hạnh Bồ Tát. Mái chùa cong vút mang dáng rồng bay. Trước sân chùa là gốc cây bồ đề do sư cụ trụ trì đầu tiên của chùa Hạnh Duyên trồng vào năm 1895, đến nay như vậy đã được 110 tuổi. Đường đi lên chùa qua những con đường rải đá gập ngềnh, lối đi chỉ vừa đủ cho xe ba gác, xe ôtô phải đậu dưới chân núi, thế mà khách đến chùa vẫn đông nườm nượp.

Từ khi xây dựng đến nay chùa đã được trùng tu hai lần. Thực ra ban đầu chùa chỉ là một cái am nhỏ do sư cụ Hạnh Duyên dựng lên, đến năm 1920 sư cụ Vạn Hạnh được sự quyên góp của các phật tử gần xa mới bắt đầu xây cất lên thành ba gian chính như ngày nay. Đến năm 1968 lúc chiến tranh xảy ra ác liệt, chùa bị hư hỏng nặng, mái ngói bị đổ sụp xuống. Sư cụ Chơn Đức đã tu sửa lại và hiện trạng ấy giữ nguyên cho đến ngày nay. Bởi vậy mà mái ngói và tường vôi phủ đầy rêu phong, so với các ngôi chùa khác ở vùng lân cận chùa Ông không được bề thế và hoành tráng, nhưng em lại rất thích cái dáng trầm tư vẻ nhỏ bé của ngôi chùa, bởi nó đã chứng kiến những bước đi dài của lịch sử quê hương, và chính dáng vẻ ấy của ngôi chùa đem lại cho khách hành hương sự tĩnh tâm cần thiết. Đặc biệt không gian xung quanh chùa được bao bọc bởi um tùm cây lá, và phía dưới chân dốc là con suối nhỏ bao quanh. Đến với ngôi chùa Ông ta như được thoát tục, lắng đi những đua chen của cuộc đời trần thế để tâm hồn phiêu lắng cùng mây gió.

Bạn hãy đến thăm chùa Ông đi! Cảm giác tuyệt vời ấy sẽ đến ngay với bạn.

Đề 3. Thuyết minh về một văn bản - Thể thơ lục bát.

Thơ Việt Nam có rất nhiều thể loại: Ngụ ngôn, lục bát, song thất lục bát, đường luật, thơ tự do... Nhưng trong tất cả các thể loại ấy quen thuộc nhất là lục bát, nó đã đi sâu vào tâm hồn người Việt Nam và trở thành máu thịt. Thơ lục bát có những đặc điểm sau đây:

Về thời gian: Lục bát là thể thơ cổ truyền của dân tộc đã có từ rất lâu, nó đã ăn sâu bắt rễ trong nhân dân, thể hiện rõ tính dân tộc của thơ Việt Nam.

Về số tiếng, số dòng: Gọi là lục bát vì có hai câu đi liền nhau câu 6 tiếng và câu 8 tiếng, khi trình bày câu lục thụt vào một ít so với câu bát. Số dòng trong thơ lục bát không bị hạn định có thể kéo dài vô tận miễn tuân thủ đúng quy định. Áng thơ lục bát hay nhất và được nhiều bạn đọc yêu thích nhất phải kể đến “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du.

Về gieo vần: Thể thơ lục bát vừa gieo vần chân vừa gieo vần lưng, tiếng cuối cùng của câu lục gieo vần xuống tiếng thứ sáu câu bát, tiếng thứ sáu câu bát gieo với tiếng cuối câu lục tiếp theo.

Về luật bằng trắc: Hình mẫu của câu thơ lục bát cổ điển được phối điệu như sau.

O b o tr o b

O b o tr o b o b

O b o t o b

O b o t o bo b

Trong đó: b là bằng, tr là trắc, o là tự do (hoặc bằng, trắc) tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám của câu hát cùng là thanh bằng nhưng bắt buộc phải là một trầm (thanh huyền) và một bổng (thanh ngang).

Về ngắt nhịp: Thông thường là ngắt nhịp chẳn, mỗi nhịp hai tiếng hoặc bốn tiếng (câu bát). Tuy vậy, có thể gặp lối ngắt nhịp lẻ mỗi nhịp ba tiếng khi trong câu có tiểu đối.

Ví dụ:.

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.

Ngày nay, trong thơ ca Việt Nam hiện đại thơ lục bát vẫn chiếm vị trí quan trọng, được nhiều nhà thơ sử dụng và quần chúng yêu thích.

Đề 4. Giới thiệu một loài hoa (hoa mai)

Người Việt Nam vốn rất yêu thích hoa, trong các loài hoa thì hoa Đào và hoa Mai được nhiều người yêu thích nhất. Hoa Mai và hoa Đào đã đi sâu vào đời sống tâm hồn của con người Việt Nam như một phần máu thịt.

Nếu như hoa Đào gắn bó với người miền Bắc thì hoa Mai lại gắn bó với người miền Nam. Mai có khắp mọi nơi từ Huế đến mũi Cà Mau. Hoa mai thuộc dạng dễ tính dù đất cát khô cằn hay đất đồi sỏi đá Mai vẫn chịu đựng được.

Mai có hai loại Mai tứ thời và Mai Tết. Mai tứ thời cho hoa suốt bốn mùa, cái tên gọi tứ thời có lẽ là vì lí do đó. Ngoài màu vàng đặc trưng thỉnh thoảng điểm thêm vài bông màu đỏ cũng khá dễ thương. Mai Tết cả năm cho hoa vào đúng dịp Tết, hoa nở thật nhiều vàng rực cả cây rực rỡ vô cùng, cũng vì thế mà được mọi người yêu chuộng hơn. - Muốn có Mai nở vào đúng ngày Tết cũng cần phải chú ý đến kĩ thuật chăm sóc, lúc Mai nở xong chừng vài tháng phải bón thúc cho Mai, thứ phân bón rất hợp cho Mai là khô dầu và phân bò khô, trước Tết độ ba bốn tháng phải bón thêm một lần như thế nữa để hoa to và thắm. Vào ngày rằm tháng Chạp (trước Tết nửa tháng) trảy hết tất cả lá Mai và bấm hết đọt để Mai nở rộ, với những vùng giá lạnh thì phải trước một tháng. Mai không nở một lúc mà phải từ từ, ngày đầu chỉ một vài nụ, ngày sau tăng gấp đôi, rộ nhất là ngày thứ ba, tư, năm sau đó ít dần nhưng cũng kéo dài đến nửa tháng. Đối với những cây Mai có sức sẽ cho Mai đến hai đợt, sau đợt hoa đầu tiên cây nghỉ lấy sức khoảng mười hôm sau đó ra một lớp nụ mới mặc dù không nhiều và thắm như đợt đầu nhưng cũng làm cho lòng người say đắm. Sắc Mai đương nhiên là màu vàng rồi, người đời chuộng Mai cũng vì màu vàng thanh, cao quý phái ấy. Thế nhưng chỉ một màu vàng ấy thôi cũng có rất nhiều loại khác nhau: vàng tươi, vàng nhạt, vàng gạch, vàng thắm, vàng ong... Hương của Mai rất dịu và thanh, chỉ có những người tinh tế mới tận hưởng hết hương hoa thanh khiết ấy. Vì thế mà Cao Bá Quát, một chí sĩ thời Nguyễn đã dọc ngang tung hoành dám đứng lên chống lại triều đình phong kiến thế nhưng lại cúi đầu trước hoa Mai (nhất sinh để thủ bái mai hoa).

Những ngày Tết người ta thường chưng Mai trong nhà để lấy hên cho cả năm. Chỗ để Mai bao giờ cũng là nơi khang trang nhất của phòng khách để mọi người có thể chiêm ngưỡng Mai một cách đẹp nhất. Những người nghiện chơi Mai thì dù có đắt đến đâu ngày Tết bằng mọi giá phải có được cây Mai trong nhà mới thành Tết. Một số người còn cho rằng dựa vào cây Mai nở hoa trong ngày Tết có thể dự đoán được sự hên xui trong năm đó.

Hoa Mai thường là năm cánh, thế nhưng bằng phương pháp kĩ thuật hiện đại người ta có thể cho hoa nở từ năm đến mười bảy, mười tám cánh. Ngoài hai màu đỏ, vàng người ta còn có thể lai ghép thành màu trắng, cùng một cây Mai có đủ cả ba màu. Nhưng người yêu Mai truyền thống vẫn thích màu vàng nhất.

Mời các bạn tham khảo tài liệu liên quan

Giải bài tập Ngữ văn lớp 8 bài 21: Câu trần thuật

Giải bài tập Ngữ văn lớp 8 bài 21: Câu cảm thán

Giải bài tập Ngữ văn lớp 8 bài 21: Ngắm trăng

Đánh giá bài viết
1 133
Học tốt Ngữ Văn lớp 8 Xem thêm