Giải bài tập SGK GDCD 10 bài 1: Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng

6 4.473

Bài tập môn GDCD lớp 10

Giải bài tập SGK GDCD 10 bài 1: Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng được VnDoc sưu tầm và đăng tải, tổng hợp lý thuyết. Đây là lời giải hay cho các câu hỏi trong sách giáo khoa nằm trong chương trình giảng dạy môn GDCD lớp 10. Hi vọng rằng đây sẽ là những tài liệu hữu ích trong công tác giảng dạy và học tập của quý thầy cô và các em học sinh.

Câu 1: Hãy phân tích sự khác nhau giữa đối tượng nghiên cứu giữa Triết học với các môn khoa học cụ thể, cho ví dụ?

Hướng dẫn giải:

Đối tượng nghiên cứu của các môn khoa học cụ thể: Mỗi môn khoa học cụ thể đi sâu nghiên cứu một bộ phận, một lĩnh vực riêng biệt nào đó có thế giới.

Ví dụ: Hóa học nghiên cứu sự cấu tạo, tính chất, sự biến đổi của các chất.

Sử học nghiên cứu lịch sử của xã hội loài người nói chung hoặc nghiên cứu lịch sử của một quốc gia, một dân tộc nói riêng.

Đối tượng nghiên cứu của triết học: Triết học nghiên cứu những vấn đề chung nhất, phổ biến nhất của thế giới, là hệ thống các quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó.

Ví dụ: Triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa lí luận và thực tiễn, nghiên cứu các quy luật chung nhất về sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng.

Câu 2: Ở các ví dụ sau, ví dụ nào thuộc kiến thức khoa học cụ thể, ví dụ nào thuộc kiến thức triết học? Vì sao?

- Bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương của hai cạnh góc vuông.

- Mọi sự vật và hiện tượng đều có quan hệ nhân quả.

- Ngày 3/2/1930 là ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

- Ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh

Hướng dẫn giải:

* Những ví dụ thuộc kiến thức khoa học cụ thể bao gồm:

  • Bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương của 2 cạnh góc vuông.
  • Ngày 3-2-1930 là ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

=> Sở dĩ như vậy là bởi vì nó nếu lên đc những sự việc sự vật cụ thể

* Những ví dụ thuộc kiến thức triết học bao gồm:

  • Mọi sự vậtvà hiện tượng đều có quan hệ nhân quả.
  • Ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh

=> Sở dĩ như vậy là bởi vì nó chỉ nêu lên nét khái quát của các sự việc sự vật

Câu 3: Dựa vào cơ sở nào để phân chia các hệ thống thế giới quan trong Triết học?

Hướng dẫn giải:

Cơ sở để giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học là dựa trên nguyên tắc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tư duy và tồn tại, xem cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào và con người có nhận thức được thế giới hay không để phân chia các hệ thống thế giới quan: Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm.

Thế giới quan duy vật khẳng định: Vật chất là bản chất của thế giới. Vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức. Thế giới vật chất là tự có không do ai sáng tạo ra và cũng không mất đi.

Thế giới quan duy tâm cho rằng: Ý thức là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên.

Câu 4: Phân tích các yếu tố duy vật, duy âm về thế giới trong truyện và câu dẫn sau:

Truyện thần thoại Thần Trụ trời.

“Sống chết có mệnh, giàu sang do trời”. (Khổng tử)

Hướng dẫn giải:

Yếu tố duy tâm và duy vật trong câu chuyện thần thoại trụ trời là:

  • Yếu tố duy vật bao gồm: đất đá, cột chống trời…
  • Yếu tố duy tâm: Thần linh

Yếu tố duy tâm và duy vật trong câu “Sống chết có mệnh, giàu sang do trời” của Khổng Tử là:

  • Yếu tố duy vật: sống, chết, giàu , sang
  • Yếu tố duy tâm: Mệnh, trời.

Câu 5: Hãy nêu ý kiến của mình về các yếu tố biện chứng, siêu hình về phương pháp luận trong truyện, các câu tục ngữ và thành ngữ sau:

- Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi.

- Tục ngữ, thành ngữ: Rút dây động rừng, Tre già măng mọc, Môi hở răng lạnh, Nước chảy đá mòn.

Hướng dẫn giải:

Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi thuộc phương pháp luận siêu hình. Sở dĩ như vậy là vì các nhân vật trong truyện nhìn nhận sự vật phiến diện chỉ thấy chúng tồn tại trong trạng thái cô lập, máy móc, áp đặt, không nhìn một cách tổng thể.

Các câu tục ngữ thành ngữ: Rút dây động rừng, Tre già măng mọc, Môi hở răng lạnh, Nước chảy đá mòn thuộc phương pháp luận biện chứng. Bởi vì các sự vật trong câu có sự ràng buộc với nhau trong sự phát triển và vận động không ngừng của chúng.

Đánh giá bài viết
6 4.473
Giải bài tập GDCD 10 Xem thêm