Giáo án môn Ngữ văn lớp 7 bài 65

1 22

Giáo án môn Ngữ văn lớp 7

Giáo án môn Ngữ văn lớp 7 bài 65: Luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận được VnDoc sưu tầm và giới thiệu để có thể chuẩn bị giáo án và bài giảng hiệu quả, giúp quý thầy cô tiết kiệm thời gian và công sức làm việc. Giáo án môn Ngữ văn 7 này được soạn phù hợp quy định Bộ Giáo dục và nội dung súc tích giúp học sinh dễ dàng hiểu bài học hơn.

I/ MỤC TIÊU

Giúp HS: qua luyện tập hiểu sâu thêm về khái niệm lập luận.

II. Phương pháp và phương tiện dạy học.

  • Đàm thoại + diễn giảng
  • SGK + SGV + giáo án

III. Nội dung và phương pháp lên lớp.

1. Ổn định lớp

2. Kiểm tra bài cũ

2.1 Bài văn nghị luận có mấy phần?

2.2. Cho biết mỗi phần nêu vấn đề gì?

3. Giới thiệu bài mới

Hoạt động của thầy và trò

Nội dung

GV giúp HS nhận biết lập luận trong đời sống.

GV đọc các VD trong mục 1 SGK 32 và nêu câu hỏi HS trả lời.

Trong các câu SGK trang 32 bộ phận nào là luận cứ, bộ phận nào là kết luận, thể hiện tư tưởng của người nói? Mối quan hệ giữa luận cứ và lập luận như thế nào? Vị trí giữa luận cứ và kết luận có thể thay thế cho nhau không?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bổ sung luận cứ cho các kết luận SGK trang 33?

 

 

 

 

 

Viết tiếp kết luận cho cácluận cứ nhằm thể hiện tư tưởng, quan điểm của người nói?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Luận điểm trong văn nghị luận nêu vấn đề gì?

 

 

 

 

So sánh lập luận trong đời sống và lập luận trong xã văn nghị luận?

Lập luận trong đời sống thường đi đến những kết luận thu hẹp trong phạm vi giao tiếp của cá nhân hay tập thể nhỏ.

Ví dụ “đi ăn kem đi” à việc rất thường của cá nhân.

Do luận điểm có tầm quan trọng nên phương pháp lập luận trong văn nghị luận đòi hỏi phải khoa học và chặt chẽ.

Hãy lập luận cho luận điểm “sách là người bạn lớn của con người” và trả lời các câu hỏi SGK trang 34?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Rút ra 1 kết luận làm thành luận điểm của em và lập luận cho luận điểm đó?

 

I. Lập luận trong đời sống.

1. Lập luận là đưa ra luận cứ nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận.

a.Hôm nay trời mưa, chúng ta không đi chơi công viên nữa.

_ Luận cứ: Hôm nau trời mưa

_ Kết luận: Chúng ta không đi chơi công viên nữa.

_ Quan hệ và kết luận: quan hệ điều kiện nhân quả

_ Có thể thay đổi: “chúng ta không đi chơi công viên nữa, vì hôm nay trời mưa”

b.Em rất thích đọc sách, vì qua sách em học được nhiều điều

_ Luận cứ: vì qua sách em học được rất nhiều điều.

_ Kết luận: em rất thích đọc sách.

_ Quan hệ nhân quả

_ Thay đổi “vì qua sách em học được nhiều điều , nên em rất thích đọc sách”

c.Trời nóng quá, đi ăn kem đi

_ Luận cứ: trời nóng quá.

_ Kết luận: đi ăn kem đi

_ Quan hệ nhân quả

_ Không thể đảo vị trí .

2. Bổ sung luận cứ

 

a…………vì trường em đẹp

b…………vì nó làm mất lòng tin nơi mọi người.

c.Mệt quá………….

d. Cha mẹ luôn mong muốn điều tốt đẹp cho con cái.

e. Nước ta có nhiều cảnh đẹp nên………..

 

3. Các kết luận cho luận cứ.

a. ……………ra hiệu sách đi

b. ……………hôm nay nên nghỉ các việc khác.

c…………….mà sao chẳng gương mẫu tí nào.

d……………..chúng ta phải góp ý để bạn sữa chửa.

e……………..nên ngày nài cũng thấy có mặt ở sân.

II. Lập luận trong văn nghị luận.

 

1. Luận điểm trong văn nghị luận là những kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội

Ví dụ “sách là người bạn lớn của con người” là một kết luận có tính khái quát, có ý nghĩa phổ biến đối với xã hội, mang tính nhân loại

 

 

 

 

 

 

 

2. Lập luận cho luận điểmsách là người bạn lớn của con người”

_ Vì sao nêu ra luận điểm này? Con người không chỉ có nhu cầu về đời sống vật chất mà còn có nhu cầu vô hạn về đời sống tinh thần. Sách là món ăn quí cho đời sống con người .

_ Luận điểm có những nội dung gì?

+ Sách là kết tinh trí tuệ của nhân loại.

+ Sách giúp ích nhiều cho con người

_ Luận điểm có cơ sở thực tế không? Việc đọc sách là 1 tực tế lớn của xã hội

_ Luận điểm có tác dụng động viên nhắc nhở mọi người.

 

1. Kết luận làm thành luận điểm

a. Truyện “thấy bí xem voi”

_Kết luận: muốn hiểu biết đầy đủ về 1 sự vật, sự việc, phải nhận xét toàn bộ sự vật sự việc ấy.

_ Lập luận:

+ Không hiểu biết toàn diện thì chưa kết luận

+ Nhận biết sự vật từ nhiều góc độ

Thực tế cho thấy thầy bói chỉ nhìn ở góc độ đã kết luận thì là không hiểu và đành giá sai sự vật.

b. Truyện “Ếch ngồi đáy giếng”

_ Kết luận: tự phụ kiêu căng, chủ quan sẽ dẫn đến thất bại thảm hại .

_ Lập luận:

+ Tự phụ chủ quan dẫn đến sự lầm tưởng coi mình là trên hết.

+ Va vào thực tế, sự yếu kém kia dẫn đến thất bại thảm hại.

Đánh giá bài viết
1 22
Giáo án Ngữ văn lớp 7 Xem thêm