Giáo án theo yêu cầu phát triển năng lực

1 473

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh đang là hình thức dạy học được nhiều thầy cô hướng đến. Vậy giáo án dạy học theo yêu cầu phát triển năng lực là gì? Yêu cầu cần có trong giáo án phát theo năng lực như thế nào? Trong bài viết này VnDoc xin chia sẻ một số nội dung liên quan đến giáo án phát triển năng lực, mời các bạn cùng tham khảo.

1. Năng lực là gì

Theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù. Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc. Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên.

2. Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực:

Các nhà lí luận và phương pháp học cho rằng:

Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là phương pháp tích tụ dần dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách.

Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây.

Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người..

3. Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực:

Không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.

Trong quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học. Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh (HS); giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học). Về bản chất, đó là giờ học có sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình thức học theo nhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rèn luyện các kĩ năng, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế mạnh của các PPDH tiên tiến, hiện đại; các phương tiện, thiết bị dạy học và những ứng dụng của công nghệ thông tin…; chú trọng cả hoạt động đánh giá của GV và tự đánh giá của HS. Ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới PPDH như trên, để có được những giờ dạy học tốt, cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học. Chuẩn bị và thiết kế một giờ học cũng là một hoạt động cần có những kĩ thuật riêng.

Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

4. Giáo án nội dung và giáo án năng lực

Giáo án là sự hình dung kịch bản lên lớp của mỗi giáo viên (GV) với một đối tượng học sinh (HS) cụ thể và một nội dung cụ thể trong một không gian và thời gian cụ thể… Vì thế nó là sản phẩm cá nhân. Không có và không nên yêu cầu có một giáo án mẫu, chung cho tất cả mọi GV; chỉ cần thống nhất một số yêu cầu cốt lõi cần có, còn trình bày giáo án như thế nào tùy mỗi người.

Giáo án dạy học Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực (gọi tắt là giáo án năng lực) đương nhiên cần khác với giáo án dạy học chạy theo nội dung (gọi tắt là: giáo án nội dung).

Giáo án nội dung là giáo án nêu lên các nội dung bài dạy mà GV cần truyền thụ cho HS. Tức là trả lời câu hỏi: bài học gồm những nội dung gì? (dạy cái gì?).

Giáo án năng lực là giáo án nêu lên các hoạt động (công việc) mà GV tổ chức cho HS thực hiện để tìm ra nội dung cần học, qua đó mà biết cách học. Tức trả lời câu hỏi: bài học cần dạy bằng cách nào, thông các hoạt động nào?

Giáo án nội dung tập trung vào mục tiêu trang bị những kiến thức, hiểu biết của GV về một vấn đề nào đó cho HS; HS tiếp thu những kiến thức mà GV cung cấp một chiều và mang tính áp đặt (cũng có phát vấn và yêu cầu HS trao đổi…nhưng cuối cùng vẫn là ý kiến của GV), do đó hạn chế về cách học và tự học.

Giáo án năng lực tập trung vào mục tiêu hình thành và phát triển năng lực, HS thực hiện các hoạt động để tự tìm ra kiến thức, hiểu biết phù hợp với mình và qua đó biết cách học và biết tự học.

Giáo án nội dung giúp HS biết nhiều nhưng vận dụng được ít, làm và thực hiện rất lúng túng trong tình huống tương tự, nhất là ngữ cảnh và vật liệu mới.

Giáo án năng lực giúp HS biết có thể không nhiều nhưng vận dụng được, làm và thực hiện được trong tình huống tương tự, nhất là ngữ cảnh và vật liệu mới.

5. Các yêu cầu thiết yếu của một giáo án năng lực

Không có giáo án chung nhưng khi soạn bài cần phải đáp ứng một số yêu cầu cứng (bắt buộc). Giáo viên cần có quan niệm về giáo án năng lực một cách linh hoạt, vừa chú ý những yêu cầu cứng (bắt buộc) vừa dành khoảng trống cho sự sáng tạo, khác biệt của mỗi GV.

Yêu cầu cứng (cần có) của giáo án năng lực gồm những điểm sau đây:

a) Mục tiêu bài học cần hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực, nhất là năng lực đặc thù của môn học. Cụ thể là mỗi bài học cần xác định mục tiêu phát triển năng lực cụ thể như thế nào? Với môn Ngữ văn là năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học cụ thể được phát triển qua bài học này như thế nào? Vì thế cần chú ý yêu cầu cần đạt về các năng lực này đã nêu trong chương trình mỗi lớp. Các năng lực lớn phải qua nhiều bài học mới hình thành được, nhưng mỗi bài học phải hướng tới các biểu hiện cụ thể của năng lực ấy và gắn với nội dung bài học cụ thể của giờ học ấy. Chú ý xác định mục tiêu phù hợp với đối tượng, tránh ôm đồm (nhiều) nội dung và yêu cầu quá sức (độ khó).

b) Tiến trình giờ học phải thông qua các hoạt động và bằng các hoạt động học tập là chính; trong đó HS phải tham gia hoạt động: tìm kiếm, phát hiện, nêu vấn đề, trao đổi, phản bác, chứng minh, phân tích…. rút ra nhận xét, kết luận của mình; GV là người nêu (giao) nhiệm vụ, hướng dẫn cách thức hoạt động và gợi mở, nêu ý kiến của mình khi cần thiết (đúng lúc, đúng chỗ). GV không làm thay, học thay cho HS; hạn chế diễn giảng, tránh áp đặt ý kiến của mình, tôn trọng ý kiến của HS, nhất là trong tiếp nhận văn bản…

Các hoạt động học tập phải bám sát và tập trung thực hiện mục tiêu đã đề ra, tránh tình trạng mục tiêu chỉ nêu cho có, không thấy hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã nêu. Mỗi mục tiêu có thể tổ chức một hoặc nhiều hoạt động. Nhưng nhìn chung không nên tổ chức quá nhiều hoạt động trong một giờ học. Muốn thế cần xác định mỗi bài học theo nguyên tắc vừa có diện (bề rộng), vừa có điểm (trọng tâm). Những nội dung diện dành ít thời gian, tập trung vào hoạt động trọng tâm. Ví dụ với bài đọc hiểu một tác phẩm văn học, diện chính là giúp HS nắm được bao quát chung để thấy tính chỉnh thể của tác phẩm, còn trọng tâm chính là một vài vấn đề sâu sắc và lý thú của tác phẩm. Không nên yêu cầu HS khai thác tràn lan tất cả mọi chi tiết, mọi vấn đề, mọi yếu tố hình thức thể loại của tác phẩm. Việc xác định trọng tâm ấy phụ thuộc vào trình độ của GV dựa trên mục tiêu, yêu cầu của bài học và đối tượng HS. Một văn bản- tác phẩm, nhất là các tác phẩm lớn có rất nhiều vấn đề cần khai thác, nhưng với từng đối tượng người học GV chỉ nên xác định một vài vấn đề thật thiết yếu và phù hợp; còn lại có thể gợi mở để HS tự tìm hiểu thêm. Vấn đề trọng tâm của mỗi bài học cần bám sát yêu cầu đọc hiểu của chương trình và nên trao đổi trong tổ nhóm để thống nhất chung. Ví dụ ít nhất giờ đọc hiểu phải chú đến các hoạt động trọng tâm như: i) Hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung, ý nghĩa văn bản thông qua các hình thức nghệ thuật; ii) Hướng dẫn HS liên hệ, kết nối, so sánh với bối cảnh văn hóa xã hội và với những trải nghiệm của bản thân để gắn kết vấn đề đặt ra trong VB với người học… Hoạt động thứ nhất hướng tới yêu cầu hiểu khách thể (văn bản), hoạt động thứ hai hướng tới yêu cầu hiểu chủ thể (người đọc). Đọc hiểu không chỉ là hiểu văn bản mà còn hiểu chính mình.

c) Chú ý yêu cầu tích hợp và phân hóa, trước hết là tích hợp dạy học tiếng Việt trong cả nội dung đọc hiểu, viết và nghe, nói. Dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp và nhằm phát triển năng lực đòi hỏi phải gắn các đơn vị kiến thức tiếng Việt vào ngữ cảnh và tình huống giao tiếp. Các kiến thức tiếng Việt phải phục vụ trực tiếp cho yêu cầu hiểu, cảm thụ, thưởng thức tác phẩm cũng như giúp cho kĩ năng viết và nghe nói đúng hơn, hay hơn và thuần thục hơn. Hạn chế tối đa việc dạy tiếng Việt chỉ để biết tiếng Việt, chỉ để nhận diện và miêu tả các đơn vị ngôn ngữ, để nhằm trở thành nhà ngôn ngữ học… Vì thế mỗi bài cần tìm hiểu kĩ ngữ liệu văn bản để xác định được các tình huống, ngữ cảnh xuất hiện các đơn vị tiếng Việt cần dạy, từ đó yêu cầu HS nhận diện, phân tích vai trò tác dụng và ý nghĩa của đơn vị tiếng Việt ấy gắn với văn cảnh cụ thể. Hoạt động đó vừa là dạy tiếng Việt theo hướng hành dụng, thiết thực, vừa đúng nguyên tắc tiếp nhận văn bản ngôn từ. Việc tích hợp với dạy học Ngữ văn còn cần tích hợp các vấn đề liên môn và xuyên môn. Tuy nhiên văn học chính là cuộc sống, nó hàm chứa trong đó tất cả các vấn đề xã hội và nhân sinh vì thế GV cứ dạy thật tốt giờ Ngữ văn cũng là đã thực hiện tích hợp các nội dung liên môn và xuyên môn rồi.

Yêu cầu phân hóa đòi hỏi giờ học cần có các nhiệm vụ, nội dung, cách thức tổ chức học tập phù hợp cho đối tượng HS: yếu kém, trung bình và khá giỏi. Muốn thế cần chú ý đến tâm lí lứa tuổi, trình độ nhận thức, hoàn cảnh cá nhân, khai thác vốn hiểu biết và sự trải nghiệm (tri thức nền) của người học.

6. Cấu trúc giáo án dạy học phát huy năng lực:

Giáo án (kế hoạch bài học) được điều chỉnh cụ thể hơn so với truyền thống. Có thể có nhiều cấu trúc để thiết kế một kế hoạch dạy học (giáo án). Sau đây là một cấu trúc giáo án có các hoạt động và mục tiêu cụ thể….

- Mục tiêu bài học:

+ Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về KT, KN, thái độ;

+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được.

- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học:

+ GV chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá chất...), các phương tiện dạy học (máy chiếu, TV, đầu video, máy tính, máy projector...) và tài liệu dạy học cần thiết;

+ Hướng dẫn HS chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết).

- Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy- học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ:

+ Tên hoạt động ;

+ Mục tiêu của hoạt động;

+ Cách tiến hành hoạt động;

+ Thời lượng để thực hiện hoạt động;

+ Kết luận của GV về: những KT, KN, thái độ HS cần có sau hoạt động; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng KT, KN, thái độ đã học để giải quyết; những sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp;...

Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: xác định những việc HS cần phải tiếp tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ, hoạt động ứng dụng kết quả bài học vào cuộc sống (ở lớp, nhà, cộng đồng; có thể cùng bạn, gia đình, làng xóm, khối phố) hoặc để chuẩn bị cho việc học bài mới.

Trên đây là một số thông về dạy học phát triển theo năng lực đã được VnDoc tổng hợp lại chia sẻ đến các bạn. Ngoài ra các bạn có thể tham khảo thêm chuyên mục Giáo án bài giảng của VnDoc để cập nhật thêm nhiều mẫu giáo án bài giảng mới nhất nhé.

Tham khảo thêm:

Đánh giá bài viết
1 473
Mẹo dạy học hay Xem thêm