Hầu trời

1 1.099

Hầu trời - Ngữ văn lớp 11

VnDoc.com mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Hầu trời thuộc chương trình Ngữ văn lớp 11, tài liệu tổng hợp đầy đủ nội dung bài Hầu trời, chắc chắn sẽ giúp các bạn học sinh Soạn bài lớp 11 hiệu quả hơn. VnDoc.com mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo.

Hầu trời

Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thế!
Thật được lên tiên - sướng lạ lùng.

Nguyên lúc canh ba nằm một mình,
Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.
Nằm buồn, ngồi dậy đun nước uống,
Uống xong ấm nước, nằm ngâm văn.

Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng
Ra sân cùng bóng đi tung tăng
Trên trời bỗng thấy hai cô xuống
Miệng cười tủm tỉm cùng nói rằng:

- "Trời nghe hạ giới ai ngâm nga,
Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà!
Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng
Có hay lên đọc, Trời nghe qua".

Ước mãi bây giờ mới gặp tiên!
Người tiên nghe tiếng lại như quen!
Văn chương nào có hay cho lắm
Trời đã sai gọi thời phải lên.

Theo hai cô tiên lên đường mây
Vù vù không cánh mà như bay.
Cửa son đỏ chói, oai rực rỡ
Thiên môn đế khuyết như là đây!

Vào trông thấy Trời, sụp xuống lạy
Trời sai tiên nữ dắt lôi dậy.
Ghế bành như tuyết vân như mây
Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy.

Chư tiên ngồi quanh đã tĩnh túc
Trời sai pha nước để nhấp giọng.
Truyền cho "văn sĩ đọc văn nghe!"
- "Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc".

Đọc hết văn vần lại văn xuôi
Hết văn thuyết lý lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.

Văn dài hơi tốt ra cung mây!
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay,
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chúc Nữ chau đôi mày

Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cũng vỗ tay.

- "Bẩm con không dám man cửa Trời
Những áng văn con in cả rồi
Hai quyển "Khối tình" văn thuyết lý
Hai "Khối tình" con là văn chơi
"Thần tiền", "Giấc mộng" văn tiểu thuyết
"Đài gương", "Lên sáu" văn vị đời
Quyển "Đàn bà Tàu" lối văn dịch
Đến quyển "Lên tám" nay là mười
Nhờ Trời văn con còn bán được
Chử biết con in ra mấy mươi?"

Văn đã giàu thay, lại lắm lối
Trời nghe Trời cũng bật buồn cười!
Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:
- "Anh gánh lên đây bán chợ Trời!"

Trời lại phê cho: "Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít!
Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!

Êm như gió thoảng! Tinh như sương!
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!
Chẳng hay văn sĩ tên họ gì?
Người ở phương nào, ta chưa biết".

- "Dạ, bẩm lạy Trời con xin thưa
Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn
Quê ở Á Châu và Địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt".

Nghe xong Trời ngợ một lúc lâu
Sai bảo thiên tào lấy sổ xét.
Thiên tào tra sổ xét vừa xong
Đệ sổ lên trình Thượng đế trông
- "Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
Đày xuống hạ giới vì tội ngông".

Trời rằng: "Không phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc "thiên lương" của nhân loại,
Cho con xuống thuật cùng đời hay".
- "Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó
Trần gian thước đất cũng không có
Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều
Vốn liếng còn một bụng văn đó.
Giấy người mực người thuê người in
Mướn cửa hàng người bán phường phố.
Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó.
Kiếm được thời ít, tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.
Lo ăn lo mặc hết ngày tháng
Học ngày một kém tuổi ngày cao
Sức trong non yếu ngoài chen rấp
Một cây che chống bốn năm chiều.
Trời lại sai con việc nặng quá
Biết làm có được mà dám theo".

Rằng: "Con không nói Trời đã biết
Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết
Thôi con cứ về mà làm ăn
Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!"
Vâng nhời Trời dạy, lạy xin ra
Trời sai Khiên Ngưu đóng xe tiễn
Xe trời đã chực ngoài thiên môn
Chư tiên theo ra cùng tiễn biệt.
Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi
Trông xuống trần gian vạn dặm khơi.
Thiên tiên ở lại, trích tiên xuống
Theo đường không khí về trần ai.

Đêm khuya khí thanh sao thưa vắng
Trăng tà đưa lối về non Đoài.
Non Đoài đã tới quê trần giới,
Trông lên chư tiên không còn ai.

Tiếng gà xao xác, tiếng người dậy
Giữa sân còn đứng riêng ngậm ngùi
Một năm ba trăm sáu mươi đêm
Sao được mỗi đêm lên hầu Trời.

Tác giả: Tản Đà

I. Đôi nét về tác giả Tản Đà

- Tản Đà (1889- 1939) tên khi sinh là Nguyễn Khắc Hiếu.

- Ông sinh ra và lớn lên trong thời buổi giao thời, Hán học đã tàn mà Tây học cũng mới bắt đầu nên con người ông kể cả học vấn, lối sống, sự nghiệp văn chương đều mang dấu ấn người của hai thế kỉ.

- Ông học Hán học từ nhỏ nhưng sau hai khóa thi Hương ông bỏ thi chuyển sang sáng tác bằng chữ quốc ngữ.

- Các tác phẩm chính:

+ thơ: Khối tình con I, II.

+ truyện viễn tưởng: Giấc mộng con I, II.

+ luận thuyết: Khối tình bản chính, Khối tình bản phụ.

+ thơ và văn xuôi: Còn chơi.

+ tự truyện: Giấc mộng lớn, Thơ Tản Đà.

- Phong cách nghệ thuật:

+ điệu tâm hồn mới mẻ, cái tôi lãng mạn bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh vừa cảm thương, ưu ái.

+ có lối đi riêng vừa tìm về ngọn nguồn thơ ca dân gian và dân tộc vừa có những sáng tạo độc đáo tài hoa.

+ thơ văn ông chính là gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại.

II. Đôi nét về tác phẩm Hầu trời (Tản Đà)

1. Xuất xứ

- In trong tập thơ Còn chơi, xuất bản năm 1921.

2. Bố cục

- Phần 1 (từ đầu đến sướng lạ lùng): Giới thiệu về câu chuyện.

- Phần 2 (tiếp đến Anh gánh lên đây bán chợ trời): Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.

- Phần 3 (còn lại): Thi nhân trò chuyện với trời.

3. Giá trị nội dung

- Qua bài thơ tác giả dã thể hiện cái tôi cá nhân ngông ngạo, phóng túng, tư ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khát vọng được khẳng định giữa cuộc đời.

4. Giá trị nghệ thuật

- Bài thơ có nhiều sáng tạo trong hình thức nghệ thuật: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm hỉnh.

III. Dàn ý phân tích Hầu trời (Tản Đà)

1. Khổ thơ đầu: giới thiệu câu chuyện

- Câu thơ tác giả đặt vấn đề cho vẻ khách quan: chẳng biết câu chuyện tôi sắp kể chẳng biết có hay không?

- Nhưng tác giả vẫn khẳng định câu chuyện có vẻ là thật, điệp từ thật và hàng loạt dấu cảm thán đã giúp tác giả khẳng định độ chân thật của câu chuyện sắp kể.

- Cách vào vấn đề gây được mối nghi vấn kích thích trí tò mò ở người đọc, tạo sức hấp dẫn cho câu chuyện.

2. Diễn biến buổi hầu trời

- Thi sĩ:

+ cao hứng đọc hết văn vần sang văn xuôi, hết văn thuyết lí lại sang văn chơi.

+ rất đắc ý nên càng đọc càng có cảm xúc nên đọc rất hay: văn dài hơi tốt ran cung mây.

- Chư tiên nghe thơ rất tán thưởng, hâm mộ.

- Trời đánh giá cao không tiếc lời tán dương.

- Nghệ thuật so sánh đã làm nổi bật vẻ đẹp từ ngôn ngữ thơ đến chí khí, tâm hồn của thi sĩ.

- Được trời hỏi thăm về tình hình văn chương dưới hạ giới thi sĩ liền trình bày tình cảnh khốn khổ của kẻ theo đuổi nghề văn trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ:

+ không tấc đất cắm dùi.

+ văn chương bị rẻ rúng.

+ làm chẳng đủ ăn.

+ bị o ép đủ chiều.

⇒ chi tiết chân thực, liệt kê hàng loạt nỗi tủi khổ, cơ cực của chính cuộc đời mình và nhiều nhà văn khác.

3. Cá tính, tâm hồn thi sĩ

- Một con người có cái tính rất ngông: hạ giới khinh rẻ tài năng Tản Đà lên tận trời cao để thể hiện.

- Một con người ý về cá nhân rất cao, dám tự mình khen mình. Đây không phải là sự tự kiêu mà là cá nhân tự ý thức được tài năng thực sự của mình.

- Giọng kể hào hứng, phấn chấn, tự hào.

4. Nghệ thuật

- Thể thơ thất ngôn trường thiên tự do, không bị trói buộc khuôn mẫu.

- Ngôn từ hóm hỉnh, có duyên lôi cuốn người đọc.

- Cách biểu hiện cảm xúc tự do, phóng túng.

- Hư cấu, tưởng tượng sinh động.

Tài liệu liên quan đến tác phẩm Hầu trời

Phân tích cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu trời

Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài thơ Hầu Trời của Tản Đà

Đánh giá bài viết
1 1.099
Ngữ văn lớp 11 Xem thêm