Phân tích bài thơ Tây Tiến hay và Chất

Phân tích bài thơ Tây Tiến là tài liệu được đội ngũ giáo viên của VnDoc biên soạn chi tiết, cụ thể để các em học sinh lớp 12 hiểu, nắm rõ nội dung từng phần của bài và có bài làm mẫu để các em tham khảo, mở rộng vốn từ, các viết văn của mình.

Để tham khảo thêm nhiều đề thi và tài liệu học tập hay khác, trao đổi với thầy cô và giáo viên, mời các bạn tham gia nhóm: 2k2 quyết tâm đỗ đại học và Tài liệu học tập lớp 12.

Phân tích bài thơ Tây Tiến gồm dàn ý chi tiết nội dung bài thơ Tây Tiến. Từ dàn ý này, các em học sinh có thể xử lí được những dạng đề bài khác nhau từ cơ bản đến nâng cao. Ngoài ra, chúng tôi còn biên soạn 1 bài văn mẫu từ dàn ý chi tiết làm tài liệu để các em học sinh tham khảo. Điểm khác biệt của tài liệu này là vừa giúp các em hiểu toàn diện về văn bản, lại có thể giúp các em hình thành bài làm ở các dạng đề khác nhau từ cơ bản đến nâng cao, phù hợp với nhiều đối tượng học sinh khác nhau.  

Ngoài ra, để thi THPT Quốc gia đạt kết quả tốt hơn mời thầy cô và các em tham khảo thêm các tài liệu:

Bản quyền đề thi thuộc về VnDoc.
Nghiêm cấm mọi hình thức sao chép nhằm mục đích thương mại.

Dàn ý phân tích bài thơ Tây Tiến

1. Mở bài

Giới thiệu nhà thơ Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến. (Quang Dũng là nhà thơ với giọng thơ phóng khoáng, trẻ trung, tươi mới. Và giọng thơ ấy được thể hiện rõ trong bài thơ Tây tiến).

2. Thân bài

a. Khổ thơ đầu

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.”

Câu cảm thán thể hiện sự tiếc nuối của tác giả về những ngày cùng binh đoàn Tây Tiến.

“nhớ chơi vơi”: trơ trọi, cô độc, mỗi nhớ vô định luôn thường trực.

Từ biểu cảm “ơi” + từ láy chơi vơi: âm hưởng tha thiết, ngân vang mãi trong lòng người.

→ Nỗi nhớ da diết, trào dâng, tha thiết vang lên bao trùm cả không gian và thời gian.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.”

“Sài Khao, Mường Lát” là những địa danh mà binh đoàn đặt chân qua gợi những kỉ niệm về một vùng núi cao, sương mờ → không gian thơ mộng, trữ tình.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
….………………………………………
Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi.”

“khúc khuỷu, thăm thẳm” gợi sự hiểm trở, gian nan của thiên nhiên.

“heo hút cồn mây” gợi độ cao của núi và độ sâu của dốc, vắng lặng, hoang vu.

"ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” diễn tả độ gập ghềnh, trắc trở của rừng núi giúp bạn đọc hình dung ra khó khăn, gian khổ mà người chiến sĩ Tây Tiến phải trải qua.

“Pha Luông, mưa xa khơi” đứng ở trên cao phóng ánh nhìn ra xa, thu vào tầm mắt của người lính Tây Tiến là cảnh làng xóm Pha Luông mờ ảo trong lớp sương vô cùng thơ mộng. → Đây là món quà xứng đáng cho những nỗi lực của người chiến sĩ.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”

Những khó khăn, gian khổ đôi khi làm người chiến sĩ nản chí, muốn buông xuôi.

Sự ra đi của những người đồng đội là niềm đau xót cho những người ở lại.

→ Những con người dạt dào tình cảm.

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.”

Người chiến sĩ ngày đêm đối mặt với nguy hiểm luôn rình rập nơi rừng thiêng nước độc.

Bằng sự hài hước, dí dỏm các chiến sĩ coi những nguy hiểm đó là chỉ là những tiếng gầm thét, những sự “trêu người” bên tai.

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”

Người chiến sĩ nhớ về ngày mùa ở Mai Châu: những ngày mùa, những gia đình lên khói nấu cơm đầu mùa, những hương vị nếp xôi và cả những cô gái nơi đây.

b. Khổ thơ 2

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
….………………………………..
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.”

“kìa em” vừa ngạc nhiên vừa say mê, vui sướng.

“man điệu”: những cô gái với bộ xiêm y lộng lẫy nhảy múa hát ca đậm chất văn hóa xứ sở.

“nàng e ấp”: vừa e thẹn vừa tình tứ, làm duyên trong đêm liên hoan ngập tràn tiếng hát, tiếng nhạc.

→ Vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn: ngoài những lúc chiến đấu, hành quân vất vả, những người lính Tây Tiến hòa nhập cùng cuộc sống của người dân nơi họ đi qua, hết mình với những cuộc vui.

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
….…………………………………
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?”

“chiều sương ấy, nẻo bến bờ”: buổi chiều sương giăng trên sông nước, bến bờ hư ảo, hoang vu. → Nhớ nhung da diết.

“hoa đong đưa”: làm duyên, tình tứ trên sông nước như con người.

→ Nỗi nhớ nhung, vấn vương, quyến luyến của người ra đi và người ở lại.

c. Khổ thơ 3

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu mắt giữ oai hùm.”

Căn bệnh sốt rét rừng làm cho da của người lính xanh xao, beo bủng như lá cây và rụng hết tóc. Tuy nhiên họ vẫn làm chủ tình thế, vẫn oai phong lẫm liệt. Chính màu xanh đó cũng giúp họ ngụy trang để chiến đấu với quân thù.

giữ oai hùm” hoàn cảnh thiếu thốn, khắc nghiệt như thế nhưng họ vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu, vẫn giữ nguyên được vẻ oai phong lẫm liệt.

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”

“mắt trừng”: lòng căm thù giặc sâu sắc. Ở họ là sự khát khao giành chiến thắng, gửi những giấc mộng đẹp, những ước mơ đẹp về nơi quê hương yêu dấu của mình.

Trái tim rạo rực yêu thương: tuy chiến đấu gian khổ nhưng những người lính vẫn luôn nhớ về quê nhà, về nơi có người con gái mà họ yêu thương, nhớ nhung. Ban ngày hết lòng chiến đấu, đêm đến ôm nỗi nhớ vào giấc mộng.

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Nhìn thẳng vào sự thật tàn khốc: nhiều người lính đã ngã xuống.

Họ là những người lính trẻ tuổi, cuộc đời còn dài tuy nhiên họ đã quyết định ra đi, hi sinh tương lai, tuổi xuân của mình vì độc lập tự do của tổ quốc.

“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Khi người chiến sĩ hi sinh, họ chỉ được bọc trong manh chiếu rách để chôn cất nhưng sự ra đi vì vinh quang đó được ví như mặc áo long bào → thể hiện sự tôn vinh.

Sự ra đi đó làm cả núi sông, đất trời lên tiếng như một lời tiễn biệt đồng thời thể hiện sự phẫn nỗ, căm hờn trước tội ác của kẻ thù.

→ Sự hi sinh vì lí tưởng cao đẹp của người lính đáng tự hào, tôn vinh. Họ mang vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng, hào hùng, lẫm liệt.

d. Khổ thơ cuối

“không hẹn ước” ra đi không hẹn ngày trở về, thể hiện sự quyết tâm của người chiến sĩ.

“Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” dành cả trái tim cho miền đất Tây Bắc.

→ Hồi tưởng của tác giả về ngày ra đi, trong lòng hừng hực khí thế chiến đấu và tình cảm tha thiết, gắn bó sâu nặng với chiến trường Tây Bắc.

e. Khái quát chung

Nội dung: ca ngợi hình ảnh người lính Tây Tiến với vẻ đẹp hào hoa, bi tráng đáng ngưỡng mộ.

Nghệ thuật: thể thơ tự do, miêu tả sáng tạo, thú vị…

→ Tạo nên hình ảnh người lính Tây Tiến đa màu sắc nhưng cũng vô cùng chân thực.

3. Kết bài

Khẳng định lại giá trị của bài thơ: Tây Tiến đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc, nhiều năm tháng qua đi nhưng bài thơ vẫn giữ nguyên giá trị đẹp đẽ của nó và góp phần làm phong phú kho tàng văn học Việt Nam.

Bài mẫu phân tích bài thơ Tây Tiến

Hình ảnh người lính là đề tài quen thuộc khơi nguồn cảm hứng cho các nhà văn, nhà thơ. Quang Dũng cũng là một tác giả có đóng góp quan trọng cho thơ văn của chủ đề này qua bài thơ Tây Tiến. Bài thơ chứa đựng những giá trị, ý nghĩa sâu xa, đặc sắc.

Tây Tiến là đơn vị bộ đội thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào, địa bàn hoạt động suốt miền núi Tây Bắc từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa cho tới miền Tây Thanh Hoá. Cuối năm 1948 Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, bài thơ là những hồi tưởng của ông về thời kì huy hoàng của binh đoàn. Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ về ngày xưa cũ:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.”

Câu cảm thán thể hiện sự tiếc nuối của tác giả về những ngày cùng binh đoàn Tây Tiến hoạt động, chiến đấu nay đã trôi xa chỉ còn lại kí ức và nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy được khắc họa bằng từ láy “chơi vơi”. Đó là nỗi nhớ lênh đênh, vô định nhưng luôn thường trực trong lòng người chiến sĩ. Không chỉ nhớ những người đồng chí, đồng đội, anh còn nhớ cả rừng núi, nhiên nhiên, những nơi mình đã đặt chân qua. Tất cả luôn thường trực trong kí ức, da diết, ngân vang bao trùm cả không gian và thời gian.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.”

“Sài Khao” là nơi đoàn quân mỏi mòn trong lớp sương mờ dày đặc để đi đến chiến trường; "Mường Lát” gắn với những đêm ẩm ướt đọng đầy hơi nước và hương hoa. Đó là những địa danh mà binh đoàn đi gợi những kỉ niệm về một vùng núi cao, sương mờ, không gian tuy khó khăn, thiếu thốn nhưng cũng vô cùng thơ mộng, trữ tình.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
….………………………………………
Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi.”

Từ láy “khúc khuỷu, thăm thẳm” gợi sự hiểm trở của thiên nhiên. Đường hành quân của người chiến sĩ không những dài mà còn gập ghềnh, khúc khuỷu, sâu hun hút chất chứa nhiều nguy hiểm. Bên cạnh đó, người lính còn phải vượt qua những ngọn núi cao, dốc sâu vắng lặng, hoang vu cảm giác mũi súng chạm đến tận trời xanh; cứ thế, lên cao lại xuống thấp vô cùng khó khăn, gian khổ.

Tuy nhiên, sau những gian khổ đó, người chiến sĩ lại nhận về phần thưởng xứng đáng đó là hình ảnh “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Đứng ở trên cao phóng ánh nhìn ra xa, thu vào tầm mắt của mình là cảnh làng xóm Pha Luông mờ ảo trong lớp sương vô cùng thơ mộng hiếm nơi nào có được. Tuy nhiên, bên cạnh vẻ đẹp, sư phấn chấn đó cũng là những nỗi buồn sâu thẳm:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”

Những khó khăn, gian khổ đôi khi làm người chiến sĩ nản chí, muốn buông xuôi. Và cả sự ra đi, hi sinh của những người đồng chí giống như anh em ruột thịt của mình càng làm cho người lính Tây Tiến đau xót. Cùng nhau chung sống, chiến đấu là thế nhưng lại có người ở người đi thử hỏi sao không khỏi buồn rầu? Nhưng không vì thế mà người chiến sĩ buông xuôi, mà đó là minh chứng cho tấm lòng dạt dào tình cảm yêu thương của họ.

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.”

Từ láy “chiều chiều, đêm đêm” gợi tần suất thường xuyên, liên tục của những gian khó. Người chiến sĩ luôn phải đối mặt với nguy hiểm rình rập nơi rừng thiêng nước độc bằng tiếng cọp, bằng thác dữ có thể cướp đi sinh mạng của họ bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, họ chọn cách đối mặt với chứng bằng sự dí dỏm, hài hước bằng cách coi như đó là những lời trêu đùa bên tai để cố gắng, vững tin chiến đấu.

Không chỉ nhớ về khó khăn, gian khổ, người lính Tây Tiến còn nhớ về những kỉ niệm cùng người dân ở vùng đất nơi mình đi qua:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”

Người chiến sĩ nhớ về ngày mùa ở Mai Châu, những gia đình lên khói nấu cơm đầu mùa, những hương vị nếp xôi của và cả những cô gái nơi đây. Tất cả đều là những kỉ niệm vô cùng đẹp đẽ, đáng yêu, đáng trân quý.

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
….………………………………..
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.”

Người chiến sĩ còn nhớ về những đêm liên hoan đầy niềm vui, nhiều màu sắc của doanh trại. Trong đêm tối bập bùng ngọn lửa khuya, những tiếng cười đùa, ca hát. Trước vẻ đẹp của những người con gái nơi đây, những anh chiến sĩ đã phải thốt lên: “kìa em” vừa thể hiện sự ngạc nhiên lại vừa say mê, vui sướng. Những cô gái với bộ xiêm y lộng lẫy nhảy múa hát ca đậm chất văn hóa xứ sở nhưng cũng rất e thẹn, tình tứ. Có thể thấy, người lính Tây Tiến không chỉ anh dũng chiến đấu mà còn biết cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống, của con người.

Sau đêm liên hoan vui vẻ, người chiến sĩ lại tiếp tục ra đi, hành quân chiến đấu:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
….…………………………………
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?”

Sự ra đi của người lính để lại cho người dân sự tiếc nuối, nhớ thương da diết. Và nỗi nhớ ấy cũng luôn thường trực trong trái tim người ra đi. Đó là buổi chiều sương giăng trên sông nước, bến bờ hư ảo, hoang vu với những cánh hoa trôi lững lờ làm duyên, tình tứ như con người.

Bên cạnh vẻ anh dũng, mạnh mẽ, những người lính của binh đoàn Tây Tiến cũng là những con người tình cảm, lãng mạn, biết yêu thương và tận hưởng niềm vui, cái đẹp của cuộc sống. Đây là một khía cạnh vô cùng đặc biệt, khác biệt của người lính Tây Tiến với những người lính khác, của phong thái thơ Quang Dũng với những nhà thơ khác. Chính sự khác biệt này làm nên giá trị đặc biệt cho bài thơ.

Quay trở lại chiến trường, người lính Tây Tiến lại tiế tục đối mặt với những khó khăn, gian khổ:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu mắt giữ oai hùm.”

Căn bệnh sốt rét rừng làm cho da của người lính xanh xao, beo bủng như lá cây và rụng hết tóc. Tuy nhiên họ vẫn làm chủ tình thế, oai phong lẫm liệt. Chính màu xanh đó cũng giúp họ ngụy trang để chiến đấu với quân thù và làm nên nhiều chiến công vang dội. Hoàn cảnh thiếu thốn, khắc nghiệt như thế nhưng họ vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu, ý chí kiên cường.

Người lính Tây Tiến cũng là những thanh niên dạt dào tình cảm:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”

Với quân giặc, người lính Tây Tiến nhìn họ bằng ánh mắt, bằng lòng căm thù sâu sắc. Ở họ là sự khát khao giành chiến thắng để được trở về quê nhà, họ luôn gửi những giấc mộng đẹp, những ước mơ đẹp nhất về nơi yêu dấu của mình. Những chàng trai ấy luôn sống với trái tim rạo rực: tuy chiến đấu gian khổ nhưng họ vẫn luôn nhớ về quê hương, về nơi có người con gái mà họ yêu thương đang chờ họ trở về. Ban ngày hết lòng chiến đấu, đêm đến ôm nỗi nhớ vào giấc mộng.

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Ở người lính Tây Tiến là sự đan xen giữa chất bi tráng và lãng mạn giữa ý thức thực tế và suy nghĩ mộng mơ. Họ vẫn nhìn nhận thẳng vào vấn đề, về sự thật tàn khốc xảy ra trước mắt họ, đó là sự hi sinh của những người đồng đội. Tuy nhiên, sự mất mát đó không làm nản chí người chiến sĩ, họ là những người trẻ tuổi nhưng rất kiên cường, dũng cảm, dám hi sinh cả tuổi trẻ, thanh xuân và tương lai của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Khi người chiến sĩ nằm xuống, họ chỉ được bọc trong manh chiếu rách để chôn cất nhưng sự ra đi vì vinh quang đó được ví như mặc áo long bào đầy oai hùng. Họ hi sinh vì lí tưởng cao đẹp trong tư thế ngẩng cao đầu, hãnh diện. Giọng thơ thể hiện sự tôn vinh, kính trong đối với người ra đi. Cả núi sông, đất trời lên tiếng như một lời tiễn biệt đồng thời thể hiện sự phẫn nỗ, căm hờn trước tội ác của kẻ thù.

Quang Dũng đã khắc họa thành công vẻ đẹp bi tráng của người chiến sĩ trong đoạn thơ này làm chúng ta thêm yêu mến, cảm phục và thấu hiểu hơn về họ. Ở họ tồn tại song song và hòa hợp giữa vẻ đẹp hào hoa lãng mạng và vẻ đẹp bi tráng tạo nên một chất rất riêng, rất thơ không lẫn với bất cứ người lính nào.

“Tây Tiến người đi không hẹn ước
….……………………………….
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.”

Một khi người chiến sĩ ra đi thì không hẹn ngày trở về thể hiện sự quyết tâm của họ. Họ sẽ trở về nhưng là khi đất nước sạch bóng quân thù. Những người cùng ra đi vào năm ấy, cùng chiến đấu trong binh đoàn ấy là những người cùng ý chí, quyết tâm, linh hồn họ luôn hướng về chiến trường, về độc lập. Bốn câu thơ là sự hồi tưởng của tác giả về ngày ra đi, trong lòng hừng hực khí thế chiến đấu và tình cảm tha thiết, gắn bó sâu nặng với chiến trường Tây Bắc.

Bài thơ không chỉ khắc họa thành công vẻ đẹp hào hoa, bi tráng của người lính Tây Tiến mà còn mang đến cho bạn đọc cách nhìn mới mẻ về những con người này. Bằng thể thơ tự do, những miêu tả sáng tạo, thú vị, giọng điệu hài hước, vui tươi, nhà thơ đã làm nên một tác phẩm giàu ý nghĩa và đậm tính nhân văn.

Tây Tiến đã mang đến một màu sắc khác lạ góp phần làm phong phú kho tàng thơ văn Việt Nam. Nhiều năm tháng qua đi những tác phẩm vẫn giữ nguyên vẹn giá trị ban đầu của nó và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc.

Mời các bạn tham khảo thêm các bài viết dưới đây của chúng tôi:

Trên đây VnDoc đã giới thiệu tới các em Phân tích bài thơ Tây Tiến. Để có kết quả cao hơn trong học tập, VnDoc xin giới thiệu tới các em học sinh tài liệu Lý thuyết môn Địa lí lớp 12, Trắc nghiệm Tiếng Anh 12 mới, Chuyên đề Hóa học 12, Giải bài tập Sinh học 12 mà VnDoc tổng hợp và đăng tải.

Chúc các em đạt kết quả cao trong kỳ thi của mình.

Đánh giá bài viết
5 63
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Thi thpt Quốc gia môn Văn Xem thêm