Quy định xử lý Đảng viên ngoại tình

1 1.035

Xử lý Đảng viên ngoại tình như thế nào?

Ngoại tình là hành vi biểu hiện của sự không chung thủy. Đây là hành vi xã hội đang lên án. Đối với Đảng viên, hành vi ngoại tình sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời các bạn tham khảo bài viết sau đây.

Tóm tắt câu hỏi:

Cơ quan tôi có 2 đảng viên (đã có vợ, có chồng) len lút quan hệ tình cảm với nhau, được tập thể cơ quan, gia đình nhắc nhở nhiều lần, nhưng không khắc phục. Để cho gia đình phát hiện 2 người ở chung 1 phòng (nhưng không lập biên bản). Xin hỏi luật sư trường hợp trên xử lý như thế nào? Về mặt Đảng viên, chính quyền?

Đảng viên ngoại tình bị xử lý như thế nào

Luật sư tư vấn:

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật hình sự 1999

- Nghị định 110/2013/NĐ-CP

- Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC

- Nghị định 67/2015/NĐ-CP

- Quy định 181/QĐ-TW

2. Nội dung tư vấn

Điều 147 Bộ luật hình sự 1999 quy định Tội xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng như sau:

"1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Theo quy định trên, thì hành vi khách quan của Tội xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng.

Căn cứ Mục 3 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau:

"3. Về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS)

3.1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...

3.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng.

Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v...

b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm."

Theo quy định trên, cơ quan bạn có 2 Đảng viên đã có vợ, có chồng nhưng lén lút quan hệ tình cảm với nhau, đã được tập thể cơ quan nhắc nhở nhiều lần nhưng không khắc phục, nếu hành vi của 2 người này không phải là chung sống như vợ chồng thì không được xác định là hành vi xâm phạm chế độ một vợ một chồng do đó sẽ không bị xử lý theo pháp luật.

Nếu hành vi của 2 người là hành vi sinh hoạt chung như một gia đình, được chứng minh thông qua các yếu tố như: Có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ và nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Nếu không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự Tội xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 67/2015/NĐ-CP như sau:

“Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

[...] "

Về kỷ luật Đảng, người có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng có thể bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng theo Khoản 3 Điều 23 Quy định 181/QĐ-TW:

“3. Trường hợp vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoăc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

a) Vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

b) Ép buộc con làm những việc trái đạo lý, trái pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

c) Từ chối thực hiện, không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cha mẹ, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.”

Đánh giá bài viết
1 1.035
Hành chính Xem thêm