So sánh khổ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ và khổ thứ hai bài thơ Vội vàng

6 12.624

So sánh khổ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ và khổ thứ hai bài thơ Vội vàng, so sánh bức tranh thiên nhiên trong 2 bài thơ Vội vàng và Đây thôn Vĩ Dạ được VnDoc.com sưu tầm và đăng tải trong bài viết này. Mời các bạn tham khảo.

Dàn ý so sánh bức tranh thiên nhiên trong Đây thôn Vỹ Dạ và Vội vàng

1. Sao anh không về chơi thôn vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
vườn ai mướt quá xanh như ngọc
lá trúc che ngang mặt chữ điền

2. Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Phân tích Bức tranh thiên nhiên trong hai khổ thơ trên.

Dàn ý:

MB

Tình yêu thiên nhiên không phải là mới mẻ trong thi ca, song ở mỗi nhà thơ bức tranh thiên nhiên lại hiện lên chứa đầy cảm xúc và góc nhìn mới mẻ. Đến với Đây thôn Vĩ Dạ - HMT khổ 1 và Vội vàng - Xuân Diệu ở khổ thơ 2, người đọc được cảm nhận 2 bức tranh thiên nhiên đầy tươi mới và đẹp đẽ.

TB:

-Tình yêu thiên nhiên: Với HMT tình yêu thiên nhiên gắn với tình yêu quê hương, nỗi nhớ, kỉ niệm về quê hương - nơi ông đã từng gắn bó sâu sắc, đã có những kỉ niệm với những con người ông yêu mến và cả mối tình 1 thuở của ông. (Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên trong khổ thơ này). HMT đã sử dụng những từ ngữ vô cùng đắt giá làm sáng lên một khung cảnh thơ mộng, tuyệt đẹp của xứ Huế trong buổi sáng sớm. Cảnh vật, cây cối hòa hợp với con người được vẽ lại trong bài thơ rất đỗi thân thương, chan chứa tình yêu và nỗi nhớ.

Còn bức tranh thiên nhiên mùa xuân của XD thì lại tươi mới, tràn trề sức sống của cây cỏ, hoa lá, thần, vật. Con người như đang trải mình, hòa mình vào mùa xuân tươi mới ấy. Nhà thơ giới thiệu, nhà thơ vui vẻ, gấp gáp được ôm lấy khung cảnh tươi non này và có tham vọng chiếm giữ lấy nó cho riêng mình, chiếm giữ lâu dài. (Phân tích để thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm trạng của nhà thơ.

=> 2 khổ thơ là hai bức tranh thiên nhiên khác nhau: 1 bên là phong cảnh thơ mộng chứa chan tình yêu, nỗi nhớ của xứ Huế và một bên là bức tranh xuân rộn ràng, đầy sức sống. Mỗi bức tranh lại khiến người ta có một xúc cảm riêng, một suy nghĩ riêng nhưng đều khiến người đọc rung động, yêu thích và muốn được thổn thức cùng tác giả. Đó là vẻ đẹp mà thơ ca mang tới cho độc giả, đã đem con người lại gần với nhau và rung lên những rung động từ sâu thẳm tâm hồn mỗi người.

-Bức tranh thiên nhiên được miêu tả bằng những nghệ thuật độc đáo, mới mẻ:

+ Đây thôn Vĩ Dạ: Những hình ảnh vưà quen thuộc dân dã đã được HMT biến trở thành mới lạ hiện đại. HMT đã truyền vào những chất liệu ấy một màu sắc thẩm mỹ mới. Không chỉ hàng cau, mà nắng mới trên hàng cau; Không chỉ khám phá ra những lá non xanh mướt cuả vườn cây mà còn nhận ra cái màu xanh ngọc sang trọng; Không nhắc lại ngõ trúc, cành trúc hiu quạnh tĩnh mịch cuả ngày xưa mà là “lá trúc che ngang mặt chữ điền". Câu thơ bao hàm được cả khung cảnh làng quê, ngõ trúc và cuộc sống đang diễn ra, gần gũi thân thương… (PT dấu hỏi câu đầy ý nghĩa, nhiều cách hiểu) Câu thơ mở đầu bài Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử: "Sao anh không về chơi thôn Vỹ" là một câu hỏi phản ánh nội tâm phong phú và tuyệt vời tế nhị của nhà thơ: vừa như mời mọc, vừa như trách móc lại vừa như một niềm tự an ủi từ trong tâm hồn sâu thẳm của nhà thơ.

+ Xuân Diệu: Hình ảnh thơ mới lạ: tuần tháng mật, chớp hàng mi, thần vui, cặp môi gần....; những từ ngữ mạnh mẽ, chứa sức biểu cảm cao: ngon, xanh rì...

=> Đều là những nhà Thơ mới, chính vì vậy mà bức tranh thiên nhiên họ mang đến cũng chứa những nét mới lạ mà thơ ca truyền thống trước đó chưa hề có, cho dù ở mỗi bài thơ lại có mức độ và điểm riêng độc đáo. Mỗi bức tranh, qua bàn tay mỗi người nghệ sĩ, lại trở nên khác biệt và độc đáo.

KB: 2 khổ thơ là 2 bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mà HMT và XD đã đem đến cho bạn đọc. Tuy mỗi bức tranh là một vẻ đẹp khác nhau nhưng đều chan chứa sức sống, tình cảm và đem đến cho bạn đọc những xúc cảm, rung động từ đáy lòng

Bài văn mẫu về bức tranh thiên nhiên trong Đây thôn Vỹ Dạ và Vội vàng 

Bài Đây thôn Vi Dạ ra đời có nguyên cớ sâu xa từ những ki niệm của Hàn Mặc Tử về cảnh Huế và con người Huế, ông đã từng học ở Huế. Khi làm việc ở Quy Nhơn, ông có quen biết một người con gái Huế là Hoàng Cúc. Sau đó, ông vào Sài Gòn làm báo, có trở ra Quy Nhơn thì Hoàng Cúc đã về thôn Vĩ Dạ, có lần cô đã gửi cho anh một bức ảnh kèm theo lời thăm hỏi, đây chính là cái cớ đã gợi cảm hứng để Hàn Mặc Tử viết lên kiệt tác Đây thôn Vĩ Dạ - bài thơ vừa là bức tranh huyền ảo đượm buồn vì cảnh đẹp cố đô, vừa là nỗi buồn về một mối tình xa xâm vô vọng. Tuy nhiên, qua đây ta thấy biết bao nhiêu yêu mến thiết tha với thiên nhiên, với cuộc sống và đất nước, con người.

B - Khổ 1 (bình giảng): Bắt đầu là một câu hỏi trách móc nhẹ nhàng của một người con gái. Lời trách thực ra là một thái độ nũng nịu, làm duyên đầy âu yếm) thiết tha: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Câu hỏi cũng cho ta thấy phần nào tính cách của người hỏi đó là sự thùy mị, kin đáo của con người gia giáo. Một tình yêu thành thật được nói với ngôn ngữ tiết chế. Chỉ cẩn thấy câu thơ này bằng cách diễn đạt: “Anh sao không về thăm thôn Vĩ?”, thì cái tế nhị, cái kín đáo đã giảm đi rất nhiều. “Anh” mở đầu nó lộ diện quá, âm thấm gần gũi quá, yêu cầu cái bổn phận của người ta quá.

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Dòng thứ hai là một sự đáp ứng ngay lặp tức của nhân vật “anh" hình như cái tín hiệu phát đi thì mong manh, mờ nhạt, còn nơi tiếp nhận thì lại quá nhạy cảm. Hàn Mặc Tử không hề suy nghĩ về cái thực, cái hư trong lời mời anh đang chờ đợi và chỉ cần có lời mời ấy thôi.

Hai câu thơ rất khó giải thích về ý nghĩa thực tế. Người vừa hỏi dứt câu thì kẻ nghe câu hỏi đã vượt một không gian mênh mông về ngay thôn Vĩ. Thực ra câu hỏi ấy chính là một điểm lóe sáng trong tâm tư chợt thức. Hàn nghe rất rõ, rất rành rọt nhưng chúng ta thì không nghe. Kí ức riêng tư đã hiện về qua những lần quần quại đớn đau với bệnh tật nghiệt ngã. Thơ Hàn đầy những nỗi đau thương, đau thưởng đến điên dại nhưng cũng có khi nó thanh khiết đến tuyệt vời. Trong đau thương thường có những phút giây khoảnh khắc của hạnh phúc. Người ta phải bám lấy nó như chiếc phao cứu mệnh như sự cứu rỗi linh hồn. Những phút sáng láng ấy trong thơ Hàn thường là nghĩ về nước Chúa, nghĩ về một quá khứ và tinh yêu tưởng tượng. Thôn Vĩ hiện lên thật đẹp cứ như một khu vườn cổ tích, cứ như một cái vườn địa đàng mà Hàn lần đầu tiên phát hiện, nó trùng với cái ước nguyện về với Chúa. Thôn Vĩ trong con mắt của Hàn đã trở thành một thế giới mà ông mơ ước. Nó đẹp không phải là có những hàng cau cao, những khu vườn sum suê cành lá và khuôn mặt chữ điền. Cái đẹp ấy nó có mặt ở khắp mọi nơi của thôn quê Việt Nam từ Bắc đến Nam. Cái đẹp của thôn Vĩ là ở chỗ đôi mắt của họ Hàn. Dường như ông ta không về ngay thôn Vĩ mà là đứng từ xa, lặng người chiêm ngưỡng sắc đẹp của thôn Vĩ, sau đó đi gần lại những khu vườn và cuối cùng nó cụ thể hơn là nhìn “lá trúc che ngang mặt chữ điền’. Nhưng cái quan trọng hơn đó là thôn Vĩ được nhìn vào buổi sáng bình minh “nắng mới lên", nắng dường như mở ra từ “thượng thanh khí” từ trên trời đổ xuống ào ạt, phóng khoáng. Một câu thơ có đến hai từ “nắng”, một cái nắng hiện thực, thắp nến trên những ngọn cây cau và một cái nắng đẹp đến mức phải bình phẩm “nắng mới lên”. "Nắng mới" khơi gợi nhứng gì tinh khiết sáng trong, và cái tinh khiết sáng trong ấy nó truyền từ trên cao tắm xuống cả khu vườn, một thứ nắng tinh khôi, lấp loáng. Khu vườn ấy cho ta một sắc xanh mỡ màng, óng mượt, ngời sáng long lanh. Cả khu vườn lá nõn mềm mại loáng nướt sương, màu lá và màu nắng đã thành cái màu xanh ngọc diệu kì mà hơn một lần trong tâm tưởng Xuân Diệu đã nhìn thấy: Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá.

Cái ấn tượng về khu vườn cổ tích nó được bồi thường bằng sự miêu tả xuýt xoa: "mươt qua’ và bằng sự so sánh “xanh như ngọc”.

Câu thơ thứ tư có rất nhiều cách hiểu:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Hàn đã về thôn Vĩ, đã đến khu vườn thôn Vĩ của nhà “ai” và vì thế ông ta đã ngưỡng vọng được cái khuôn mặt chữ điền của người con gái mời ông. Nói đơn giản, mặt chữ điền ở đây là khuôn mặt phúc hậu, đoan trang của người thôn Vĩ.

Có ý kiến cho rằng: Mặt chữ điền chỉ vào một sự vật, cung cấp cái hồn người cho bức tranh thôn Vĩ. Nó là bức tường phía trên có hình chữ điền thường làm bình phong trước hiên nhà của những gia đình quyền quý Thôn Vĩ là “xóm quang”, có rất nhiều những bức bình phong chữ điền như thế. Ý kiến thứ ba là đáng tin cậy hơn cá khuôn mặt chữ điền ấy chính là khuôn mạt của Hàn Mặc Tử. Thơ Hàn thường có sự gặp gỡ của con người đau khổ hôm nay với con người của một thời quá khứ tươi đẹp. Thế giới mà Hàn cảm nhận được thực tế bao giờ cũng xót xa cay đắng, vì thế ở ngoài kia. ở thôn Vĩ là một thế giới trong tưởng tượng, Hàn có cơ hội gặp quá khứ và gặp chính mình. Vâng, gặp mình trong khuôn mặt đầy kiêu hãnh. Lưu ý rằng, lá trúc trong nghìn ẩn dụ là biểu tượng cho quân tử cho trượng phu.

Dĩ nhiên, câu thơ cuối lúc không cần phân tích, không nên phân tích bởi có tính phá vỡ cái tính tôi. Người đọc hoàn toàn có thể cảm nhận 1, 2 hoặc 3 cách hiểu cùng một lúc. Đó là câu thơ sống theo quy luật của nghệ thuật.

Khổ 2: Cảnh và người thôn Vì hát đẹp, thật đáng yêu. Hàn đã hành hương bằng con đường tưởng, cũng vì thế mà ta niềm khao khát của một tâm hồn yêu trong trái tim dang dở. Khổ thơ thứ hai là hồi tưởng về một cảnh đẹp không thể tách rời thôn Vĩ.

c. Từ hai bờ sông Trăng ấy bỗng vọng lên một câu hỏi:

Có chớ trăng về kịp tối nay?

Trăng muôn đời là biếu tượng của hạnh phúc, “tối nay” là muốn nói cái thời gian hữu hạn trước mát, “kịp'’hớ mơ cho ta thày một mặc cảm: Mặc cảm về hiện tại ngắn ngủi, lóe mờ cho ta thấy một cách sống. Song là phái vội vàng chạy đua với cái chết, với bạo bệnh. Vâng, mời tới về thôn Vi nhưng có cho tôi được hạnh phúc kịp thời không? Vì:

Ngày mai tôi chết bên khe Ngọc Tuyền

Bây giờ tôi dại, tôi diên

Chắp tay tôi lạy mọi miền trần gian

Câu hỏi “có chở...” là một vái lạy không gian thôn Vĩ, con người thôn Vĩ trong cái tâm trạng điên dại của hiện tại, vì thế nó là khát vọng rất đớn đau. Vì thế, ánh trăng rất nhẹ, “tối nay” rất ngắn lại được nói băng chữ “kịp”, bằng cái tâm hồn nặng trĩu nỗi đau.

Hàn Mặc Tử rất yêu trăng, trăng tràn vào mọi thi tứ đẹp nhất của Hàn, đây là tràng xứ Huế với Vĩ Dạ đó trăng. Cảnh vật làm cho chúng ta thêm một lần yêu Huế đẹp, Huế thơ; tuy nhiên con người thôn Vì ấy là một ẩn số không biết có đáp lại một tình yêu nông nổi chân thành. Vì thế mà Hàn tâm sự với trăng.

Khổ 3: Hai khổ đầu nói nhiều đến cảnh, còn khổ cuối thì chủ yếu nói về tâm sự của nhân vật trữ tình.

Giấc mơ nào về tình yêu cũng đẹp nhưng giấc mơ được báo động, nó chỉ làm đau khổ trái tim. "Khách đường xa" nó xa lạ hơn đại từ “ai” và dĩ nhiên sẽ xa lạ hơn rất nhiều người con gái hỏi câu đầu tiên trong bài thơ. Thế mà “khách đường xa” điệp đến hai lần như phá vỡ một giấc mơ. “Khách đường xa" hiện lên rồi hình như gót sen rời bước xa dần, có níu lại cũng không sao được.

Đang tuyệt vọng thì người khách ấy lại trở về cho hi vọng, “khách đường xa” đã thành “em” trong gang tấc. Hạnh phúc đột biến bất ngờ không hề được dự báo đã khiến Hàn choáng váng, cái áo trắng kì lạ ấy lại nhìn rất rõ. Có phải là sương khói xứ Huế làm mờ nhân ảnh mà Hàn "nhìn không ra”? Trong ý nghĩa ẩn dụ, đây là một mặc cảm mà người ta thường có:

Em lớn qúa anh làm sao giữ nổi?

Nên lúc nào em muốn cứ xa anh

Hàn mong ước tình yêu, khi tình yêu không tới thì dỗi hờn, trách móc. Nhưng khi người yêu hi sinh cho anh (dĩ nhiên do tường tượng) thì Hàn lại sợ, lại không dám nhìn vào hạnh phúc chứ không phải là "nhìn không ra".

Câu thứ 3: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” lại trở về với nhận thức mình không có tình yêu. Câu thơ có dư vị chua chát của triết lí ngàn đời "Con quay búng sậu lên trời - Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” (Nguyễn Gia Thiều). Vắng, hạnh phúc trong đời là một cuộc xổ số có mấy ai cầm được tấm độc đắc? Vì thế mà Hàn nghẹn ngào, nghi ngờ, buồn tủi.Câu hỏi nghi vấn nhưng thực ra là tan vỡ hi vọng một mối tình trong tâm tưởng:

Ai biết tình ai có đậm đà

Hai từ “ai” nhắc lại đối tượng mà mình yêu vì thế mà nó tha thiết, nhưng cũng vì thế mà nó xa lạ. Vừa mới xưng “em” được một lần, Hàn đã nhận ra đó là ai. Hàn không cần những tình yêu thoáng qua. Muốn có một tình yêu đậm đà trong hoàn cảnh bi kịch đâu phải dễ?

Đây thôn Vì Dạ là một bức tranh bâng thơ thật đẹp bởi vì có sự hài hòa giữa thực và ảo, giữa cảnh và người, giữa tình yêu con người và tình yêu thiên nhiên. Tình yêu ấy được viết ra từ một trái tim của một con người đang ngày đêm đếm từng giờ đê gặp mặt cái chết thật đáng trân trọng. Hàn sắp về với thế giới bên kia nhưng vẫn khát khao một tình yêu trần thế. Đó là một giá trị nhân văn, là niềm mơ ước không nguôi của Hàn. Hàn sẵn sàng ngã giá: Ai mua trăng, tôi bán trăng cho Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò.

Văn mẫu về bức tranh thiên nhiên trong Đây thôn Vỹ Dạ và Vội vàng - mẫu số 2

Nhà thơ Trần Đăng Khoa trong sự nghiệp sáng tác đã từng quan niệm “thơ hay là thơ giản dị xúc động và ám ảnh”. Đúng như vậy cũng như bao môn nghệ thuật khác, thơ ca giúp con người trải nghiệm cuộc sống với những cung bậc tình cảm sâu sắc và một thế giới nghệ thuật độc đáo. Một bài thơ, một đoạn thơ hay chỉ một vần thơ hay luôn là những dòng cảm xúc đầy sức gợi cảm ơn sâu những câu những chữ đặc sắc, mới mẻ và gần gũi. Nó cuốn hút giữa chân độc giả với một sức mê hoặc đến lạ thường, có lẽ vậy nên trong bài thơ sổ tay thơ nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết.

Câu thơ hay như người con gái đẹp,
Ở đâu đi đâu cũng lấy được chồng”.

Minh chứng rõ nhất cho điều đó chính là sáng tác của các nhà thơ mới tiêu biểu là bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu và “Đây Thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử.

Lamartine đã từng tâm sự “Thế nào là thơ Nó không chỉ là một nghệ thuật nó là sự giải thoát của lòng tôi”. Thơ chính là thể loại văn học được viết lên bằng cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ, dưới một hình thức nghệ thuật phù hợp. Câu thơ hay tức là câu thơ có sức hấp dẫn lôi cuốn và gợi trong lòng độc giả những rung động sâu xa không cần lý giải gì nhiều. Chế Lan Viên đã đưa ra một hình ảnh so sánh khiến người đọc cảm nhận được mọi điều đó. “Câu thơ hay như người con gái đẹp”, sự so sánh đã chỉ ra chuẩn mực của thơ. Nếu như vẻ đẹp của người con gái là sự dung hòa giữa cái đẹp ngoại hình và cái đẹp tâm hồn, thì “thơ hay” là thơ mang vẻ đẹp độc đáo về hình thức và mang nhiều ý nghĩa về nội dung. Chính vì vậy nên “ở đâu, Đi đâu cũng lấy được chồng”. Chế Lan Viên đã khẳng định bao giờ và ở đâu nhưng những vần thơ hay sẽ vẫn luôn nhận được sự yêu thích, tìm được tiếng nói tri âm, như vậy từ ý thơ trên Chế Lan Viên đã đưa ra được yếu tố tiên quyết đem đến sự thành công của một thi phẩm, sức sống của thi phẩm đó trong lòng độc giả chính là cái đẹp hình thức và nội dung thước đo muôn đời của một tác phẩm thơ hay.

Ý kiến của Chế Lan Viên quả thực là một nhận định đúng đắn. Bởi nó xuất phát từ đặc trưng của thơ và quy luật tiếp nhận thơ ca. Thơ xuất phát từ tình cảm, cảm xúc là tiếng nói của trái tim, là sự rung động mạnh mẽ của thi sĩ trước cuộc đời. Nếu không có cảm xúc nhà thơ không thể sáng tạo nên những vần thơ hay ngôn tử sẽ là những xác chữ làm vô hồn trên trang giấy. Nói như Ngô Thì Nhậm “ hãy xúc động hơn thơ Cho ngọn bút có thần”. Còn Xuân Diệu lại khẳng định “ thơ hay lời thơ chín đỏ trong cảm xúc”. Văn học phản ánh cuộc sống con người, với thơ ca nó không chỉ là hiện thực ngoài kia mà là những tình cảm cảm xúc bên trong tâm hồn của nhà thơ bởi “thơ là người thư kí trung thành của trái tim”. Tuy nhiên không phải tình cảm nào cũng làm nên thơ những thứ tình cảm nhạt nhẽo vô vị cưỡng ép bắt buộc không thể làm nên thơ. Tình cảm của người nghệ sĩ phải mãnh liệt nhất, thôi thúc họ cầm bút sáng tạo đó mới chính là những vần thơ cao quý. Mặt khác, người đọc tìm đến với thơ là đi tìm tiếng nói tri ân tri kỷ, là giao phó tình cảm cảm xúc là một “ hồn điệu đi tìm những hồn đồng điệu” vì vậy nội dung tư tưởng cũng như tình cảm cảm xúc mãnh liệt mới có thể lôi cuốn người đọc, ngược lại thơ sẽ thiếu sức sống đánh mất đi chức năng cao quý của nó. Và để làm nên một bài thơ hay không thể thiếu được sự công phu, tinh tế trong nghệ thuật biểu hiện, hay nói cách khác đó chính là một hình thức nghệ thuật độc đáo cuốn hút bởi một tác phẩm nghệ thuật chân chính bao “giờ cũng là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”. đáp ứng được những điều đó thì chắc chắn đó là một thi phẩm hay đẹp và mang đầy ý nghĩa. “Vội vàng” của Xuân Diệu và “ Đây Thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử xứng đáng là những bài thơ hay một người con gái đẹp về cả bên ngoài hình thức và bể sâu tâm hồn.

Xuất hiện trong phong trào thơ mới, Xuân Diệu được biết đến là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, với một phong cách độc đáo đặc biệt từng câu từng chữ mà ông viết ra xứng đáng là “người con gái đẹp”. Bằng cặp mắt xanh non biếc rờn, cùng với cảm xúc dạt dào Xuân Diệu đã lay động trái tim người đọc bằng những ca từ về tình yêu về mùa xuân trần thế. “Vội Vàng” là một trong những thi phẩm như vậy, ấn tượng đầu tiên của độc giả về bài thơ là mạch cảm xúc sôi nổi, mãnh liệt tuôn trào với một tình yêu cuộc sống đến ta thiết của thi sĩ muốn “ tắt nắng”, “ buộc gió” để lưu lại mãi hương sắc của cuộc sống trần gian.

“Tôi muốn tắt nắng đi, cho màu đừng nhạt mất,
Tôi muốn buộc gió lại cho hương đừng bay đi”.

Ước muốn thật táo bạo, mạnh mẽ thậm chí còn có phần ngông cuồng của thi sĩ. Nhà thơ muốn tắt nắng cho màu sắc đừng phai mờ, muốn buộc gió cho hương hoa đừng bay đi, nhà thơ muốn tước đoạt quyền của tạo hóa của ông trời. Nhưng suy cho cùng thì ước muốn đó lại bắt nguồn từ chính tình yêu cuộc sống tha thiết đến, mãnh liệt.

Xuân Diệu yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên nhìn thế giới như một khu vườn trên mặt đất với cảm xúc say mê bằng cặp mắt tinh tế xanh non biếc rờn mọi cái đẹp đều như được thu nhỏ trong từng câu từng chữ có lẽ đây chính là nguyên nhân để Xuân Diệu có những ao ước táo bạo như trên.

“ Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất,
Của yến oanh,
Này đây khúc tình si,
Và này đầy ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa”.

Mùa xuân ong bướm đi tìm mật, phất phơ với đôi cánh mỏng vui vẻ như đang ở tuần trăng mật của con người vậy Xuân Diệu lại nhìn đến những nhành hoa nhỏ nhắn đẹp đẽ đang bung nở trên một tấm thảm xanh gì nơi đồng nội mát mẻ. Rồi nhà thơ lại bị thu hút bởi những cành cây non tơ vừa mới nhú ra khỏi cành. Nó như đang đu đưa trước gió để tận hưởng mọi vẻ đẹp của mùa xuân trên cái nền đầy màu xanh mát lạnh ấy, đâu đó cất lên tiếng hót vang như dàn nhạc của chim Yến oanh làm cho cảnh đẹp này còn đẹp hơn nữa, còn sống động hơn nữa. Mùa xuân đến còn đem theo thứ ánh nắng ấm áp như cặp môi, đôi mi của người con gái làm cho nhà thơ như đang sống trong tiên cảnh phải thốt lên rằng.

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, tháng giêng là tháng đẹp nhất của mùa xuân. Xuân Diệu đã nhìn đã cảm nhận được tất cả những tinh tui đẹp đẽ nhất trưa nay người ta cứ tưởng cõi tiên phải ở nơi xa, nhưng Xuân Diệu qua đây đã cho mọi người thấy rằng cõi tiên ở ngay trên mặt đất nơi chúng ta đang sống. Điều quan trọng là mỗi người có cảm nhận được điều đó hay không.

Người con gái đẹp, cũng có lúc vui vẻ tràn đầy sức sống, cũng như một câu thơ hay có lúc thăng hoa nhưng cũng có lúc suy tư chiêm nhiệm. Bên cạnh những câu thơ hay về niềm vui trước cuộc sống của mùa xuân thì vội vàng còn là sự nuối tiếc trước thời gian chảy trôi không ngừng trong khi tuổi xuân đời người lại hữu hạn ngắn ngủi.

“ Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất,
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi răng Xuân văn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thăm lại”.

Nếu như người xưa cho rằng thời gian là tuần hoàn Đông qua, Xuân tới, quá trẻ sang già, hết kiếp này sang kiếp khác đó là điều đương nhiên. Nhưng đối với Xuân Diệu, ông nhìn sao thời gian trôi trẩy tuyến tính, một đi không trở lại đời người hữu hạn so với thời gian vô hạn đã gắn Tuổi Trẻ của con người so với nó lại càng ngắn ngủi hơn Xuân Diệu đã lấy tuổi trẻ làm thước đo của thời gian khiến người đọc như cảm thấy rơi vào sự suy tư lo lắng. Thời gian cứ trôi vạn vật cứ xa dần với cuộc sống. Nếu như trên coi là bức tranh mùa xuân xanh non, tình tứ thì bây giờ sự nhắn lại bao trùm khắp cảnh vật.

“ Mùi tháng năm đều thắm vì chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt,
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi,
Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi,
Phải chăng hờn độ phai tàn sắp sửa,
Chẳng bao giờ tôi chẳng bao giờ nữa”.

Đoạn thơ như là tiếng than, tiếng thở dài sự nuối tiếc lo lắng về sự chảy trôi của thời gian, lan cả ra những thứ vô tri vô giác. Xuân Diệu như đang cảm nhận được tất cả đều sợ sệt trước sự tuyến tính vô tình của thời gian.

Cảnh vật thì lúc nào cũng đẹp nhưng thời gian cứ không ngừng trôi, con người không thể mãi mãi níu giữ thời gian mà chỉ đành phải chấp nhận. Thế nhưng không phải là không có cách, không phải là bất lực buông xuôi, để khống chế được điều đó Xuân Diệu đã khao khát giao cảm trực tiếp và tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp của cuộc sống trần thế. Chỉ có như vậy con người mới có thể sống vui sống hạnh phúc chỉ có nhanh vội vàng thì cái đẹp mới không bị trôi đi lãng phí.

“ Ta muốn ôm cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều,
Và non nước và cây và cỏ dại,
Cho chếnh choáng mùi thơm cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi,
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”.

Đầu tiên để ôm, để tận hưởng trọn vẹn được cuộc sống, sau đó là “siết”, để đi sâu kỹ càng, tiếp đó là “thâu” để say đắm, tràn ngập Xuân Diệu không đơn thuần chỉ nhìn cái bên ngoài mà còn phải cảm cái bên trong cho đến khi đã đẩy chếnh choáng, no nê. Nhưng vậy thôi vẫn chưa đủ cái khoái cảm cái bộc lộ trực tiếp mãnh liệt nhất của Xuân Diệu chính là “cắn”. Có người từng nhận xét Xuân Diệu hưởng thụ thiên nhiên như “hưởng thụ ái tỉnh”. Điều đó quả không sai và qua đây ta đã thấy rõ sự cảm nhận đó thật khác lạ mới mẻ táo bạo đến mãnh liệt.

Người con gái đẹp bên cạnh tâm hồn đẹp còn là cái đẹp về hình thức, nó cũng như Thơ. Thơ hay và thơ phải có cái đặc sắc về hình thức, bên cạnh cái ý nghĩa của nội dung và thiết tha ở tình cảm. Cái đẹp ở hình thức mà không được bộc lộ thì có mà gửi gắm được nội dung đến với người đọc. vội vàng quả thực là người con gái đẹp bởi không chỉ hàm chứa Nội dung sâu sắc mà còn có hình thức phù hợp đặc sắc. Điều đó thể hiện trước hết ở việc lựa chọn thể thơ tự do, với các dòng thơ dài ngắn không đều nhịp, thơ thay đổi linh hoạt phù hợp diễn tả cảm xúc sôi nổi dâng trào của thi sĩ. Hơn nữa bài thơ được cấu trúc theo lối triết luận vừa có sự hấp dẫn của cảm xúc mãnh liệt cháy bỏng, vừa logic chặt chẽ. Cuối cùng ngôn ngữ thơ vừa chính xác vừa mới mẻ táo bạo sử dụng nhiều động từ mạnh, các tính từ miêu tả kết hợp với các biện pháp tu từ như so sánh, điệp từ liệt kê, bút pháp tương giao làm nên vẻ hoàn thiện, hoàn mỹ của bài thơ.

Nếu như Xuân Diệu là nhà thơ có phong cách sống yêu đời thiết tha luôn vui tươi, tình tứ thì đến với Hàn Mặc Tử lại là một nhà thơ của sự đau buồn điên loạn. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng Hàn Mặc Tử đã để lại cho đời biết bao bài thơ hay càng độc càng bị lôi cuốn càng bị thu hút đến không ngờ. Trong số những bài thơ đó thì “Đây Thôn Vĩ Dạ”, có thể được xếp vào nhóm đầu vào những thi phẩm hay nhất của ông. Cảm xúc bao trùm bài thơ là tình yêu đến với mảnh đất con người xứ Huế, nỗi buồn mặc cảm chia ly xa cách và ước mong được đồng cảm sẻ chia đây chính là cái đẹp bên trong của người con gái, là cái ẩn ý của một bài thơ. Những cảm xúc mãnh liệt cao đẹp ấy được thể hiện ở ba khổ thơ với những sắc thái cụ thể.

Đến với khổ thơ thứ nhất đó là nỗi day dứt khi chưa về thăm thôn Vĩ. Đoạn thơ mở đầu bằng một câu thơ tu từ khá đặc biệt.

“ Sao anh không về chơi thôn vĩ”.

Mang biểu hiện là một câu hỏi nhưng tính chất của nó lại rất đa nghĩa. Đó còn có thể là lời mời lời trách móc của một cô gái trách chàng trai hay của chính anh trách anh. Nhưng dù sao đi chăng nữa nó vẫn là nỗi lòng da diết nhớ đến một miền quê xinh đẹp mình đã từng gắn bó thôn Vĩ. Chữ về với một cảm giác thân thuộc, trong khi đó chữ chơi lại gợi sự gần gũi đến thân thiết. Tất cả gợi lên được mảnh đất là máu và xương, là một phần không thể tách rời trong trái tim người nghệ sĩ. Phải chăng chính vì gắn bó như vậy, nên chỉ qua hai nét vẽ thôn Vĩ dường như đã hiện ra toàn diện trước mắt người đọc.

“ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”.

Thôn Vĩ nổi tiếng với những hàng cau thẳng tắp xanh tốt bốn mùa vào mỗi buổi sớm mai nắng dịu nhẹ chiếu lên thân cau càng khiến cho thôn Vĩ trở nên đẹp hơn, thơ mộng hơn. Không như vậy hình ảnh Vĩ Dạ được hiện lên còn quá cảnh vườn tược trần đầy màu xanh và sức sống. Sớm mai cũng là lúc xương dài ở cái nơi mưa nhiều nắng nhiều này. Chính vì vậy khi những giọt sương còn đọng trên lá, được ánh nắng chiếu vào khiến nó long lanh như màu ngọc bích gây ấn tượng mạnh với thi sĩ. Ông cha ta từng nói “yêu nhau yêu cả đường đi”. Vĩ Dạ vốn là mảnh đất của người con gái Hàn Mặc Tử, tình yêu Hoàng Cúc. Khi yêu nhau rồi dù nó có xấu thì trong tâm trí người kia vẫn là đẹp, huống gì Vĩ Dạ đã rất đẹp rồi thì vào tâm trí Hàn Mặc Tử nó không chỉ là đẹp mà còn thơ mộng và rất đỗi thiêng liêng. Không những cảnh Vĩ Dạ đẹp mà người Vĩ Dạ cũng rất đẹp.

“ Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Nét mặt đó hiện lên với bao nhiêu phúc hậu chân thật làm say đắm trái tim thi nhân. Hơn nữa con người nơi đây cũng rất chăm chỉ, bởi vậy mới có cảnh vườn tược xanh tốt thế kia.

Nếu như khổ thơ thứ nhất cái đẹp bộc lộ ở cảnh đẹp, người đẹp thì sang khổ thơ thứ hai cái đẹp bộc lộ ở tâm trạng. Đó là sự đau đau về thời khắc gặp gỡ còn kịp. Tâm trạng đó được mở đầu bằng hai câu thơ “Tả cảnh, ngụ tình”.

“ Gió theo lối gió mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”.

Xưa nay gió, mây cùng lối thế mà giờ đây gió đi một hướng, mây theo một nẻo gợi cảm giác chia ly. Bên cạnh dòng sông buồn thiu là sự đu đưa của hoa bắp lay, gửi một cái gì đó mong manh, yếu ớt. Dường như tâm trạng thi nhân lúc này vừa buồn, vừa đau đớn, thất vọng để rồi từ đó là sự đau đáu hi vọng.

“ Thuyền ai chờ bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay”.

Sông trăng nghe như gì đó rất huyền ảo và thơ mộng, đối với người bình thường Trăng không về tối nay còn có tối mai, tối khác, còn đối với Hàn Mặc Tử Trăng không về tối nay thì quả thực là đã muộn, đã lỡ. Nhà thơ đau đáu đến khuôn nuôi nên khi đọc hai câu thơ đó tâm trạng người đọc cũng đồng cảm đến ray rứt, bồn chồn.

Cuối cùng đến với khổ thơ thứ ba đó chính là hoài nghi về sự bền chặt của tình người, tình đời Hàn Mặc Tử cách ly với đời nhưng luôn một lòng nhớ về Hoàng Cúc về mảnh đất Vĩ Dạ nhỏ bé thân thương.

“Mở khách đường xa khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra”.

Giờ đây trong tâm trí của thi nhân còn có thể mơ được thôi. Mà càng mơ thì càng nhạt nhòa, giống màu áo trắng ẩn hiện trong mây trời sương khói. Khoảng cách ngày càng xa dần, con người ngày càng tiếc nuối với tình người, tình đời. “Em” lẽ nào chính là Hoàng Cúc chính là người để lại dấu ấn trong lòng thi nhân để rồi Hàn Mặc Tử đã viết:

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà”.

Ở đây là Vĩ Dạ vùng đất mưa nhiều nắng nhiều hay là nơi Hàn Mặc Tử đang ở nhưng dù ở đâu thì đều khó nhận ra, khó nhìn được. Trong tâm trí thì nhân lúc bây giờ hắn đang bị vây bùa bởi những làn sương bất hạnh của cuộc đời. Bên ngoài cảnh vật liệu buồn thì chắc rằng lòng người càng không thể vui hơn. Nhưng trông chính lúc con người thế này Hàn Mạc Tử có thể có những suy nghĩ tình cảm chân thành và đúng đắn. Có lẽ vậy trăng lên Hàn Mặc Tử qua dòng thơ cuối cùng đã khẳng định chắc chắn rằng dù người xứ Huế, người Vĩ Dạ giờ đây có tình cảm thế nào với nhà thơ nhưng nhà thơ vẫn luôn nhớ về mảnh đất và con người nơi đây đến thắm thiết, khôn nguôi.

Bên cạnh nội dung đặc sắc với một tình cảm đậm đà thì Đây Thôn Vĩ Dạ còn là người con gái đẹp về cả bề ngoài hình thức.

Bài thơ được tổ chức làm ba khổ thơ dưới hình thức ba câu hỏi đầy day dứt băn khoăn ngôn ngữ được sử dụng giản dị chính xác tinh tế gợi cảm có nhiều lớp từ cực tả. Bút pháp bài thơ vừa cổ điển vừa hiện đại vừa tả thực vừa gợi tả mang màu sắc tượng trưng siêu thực cùng với các biện pháp nghệ thuật so sánh nhân hóa điệp từ được sử dụng thích hợp tạo nên vẻ đẹp hoàn mỹ của bài thơ.

Vội vàng và Đây Thôn Vĩ Dạ của thực là hai bài thơ hay là hai người con gái đẹp cả xác lẫn tâm. Cả hai bài thơ đều là tiếng nói mãnh liệt của Cảm Xúc con tim và được thể hiện qua một hình thức phù hợp gây ấn tượng với độc giả. Cũng qua hai bài thơ ta càng hiểu thêm được về ý kiến của Chế Lan Viên nó không chỉ là thước đo đánh giá bài thơ mà còn là đặt ra yêu cầu sáng tác đối với nhà thơ và tiếp nhận đối với người đọc. Đối với người cầm bút luôn phải sống thật sâu với cuộc đời phải có cảm xúc mãnh liệt và thể hiện bằng một lớp vỏ độc đáo. Đối với độc giả tìm đến với Thơ cần lấy hồn ta để hiểu hồn người phải thấy cái đẹp ở thơ qua từng câu từng chữ.

Người Trung Hoa xưa đã nhận xét thơ hay như người con gái đẹp cái để làm quen là nhan sắc nhưng cái để sống với nhau lâu dài là Đức Hạnh. Chứ nghĩa là nhan sắc của thơ tấm lòng mộc là Đức hạnh của thơ.

Dường như ý kiến trên rất giống với nhận định của Chế Lan Viên. Thơ hay bao giờ cũng để lại được ấn tượng sâu sắc trong lòng mỗi người vội vàng của Xuân Diệu và Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử xứng đáng là minh chứng tiêu biểu cho điều đó. Không những có để ngoài tiêu biểu đẹp đẽ độc đáo mà ý thơ cũng rất chân thật mãnh liệt. Có lẽ chính vì vậy giá trị của bài thơ sẽ còn tồn tại mãi đến với người đọc cả hôm nay và mai sau.

Văn mẫu về bức tranh thiên nhiên trong Đây thôn Vỹ Dạ và Vội vàng - mẫu số 3

Thiên nhiên luôn là chủ đề trong các tác phẩm văn học của các nhà văn và nhà thơ nổi tiếng. Đây thôn Vỹ Dạ ( Hàn Mạc Tử) và Vội Vàng ( Xuân Diệu) cũng là hai bài thơ trữ tình nói nên vẻ đẹp thiên nhiên.

Xuân Diệu đã bao lần tìm đến thiên nhiên để hòa mình vào đó, để cảm nhận từng khoảnh khắc, từng chuyển biến tinh vi của nó. Đến Vội vàng ông vẫn kịp ghi lại cho mình những khoảnh khắc thiên nhiên đặc biệt: đẹp đẽ, tươi non, mơn mởn nhựa sống nhưng cũng có cả sự mất mát, chia lìa. Sở dĩ có điều trái ngược ấy là vì thiên nhiên đóng vai trò như những “dẫn chứng” trong lời tranh biện của nhà thơ về cuộc đời, thời gian. Tuy nhiên, thiên nhiên trong bài thơ vẫn hiện ra với những nét độc đáo, riêng có ở Xuân Diệu.

Trước hết đó là một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp, non xanh, mơn mởn, căng tràn nhựa sống trong khoảng khắc xuân thì. Vốn bắt nguồn từ hai ước muốn rất ngông cuồng, táo bạo là tắt nắng, buộc gió để giữ chặt hương sắc của cuộc đời, bức tranh thiên nhiên hiện lên là minh chứng cho điều khát khao đó.

“ Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”

Xuân Diệu vẽ nên một bức tranh có sự pha trộn của nhiều hình ảnh, nhiều trạng thái, nhiều dáng vẻ để có một “bữa tiệc trần gian” ngập tràn hương sắc mùa xuân. Bằng thủ pháp liệt kê, nhà thơ mang tới những hình ảnh: ong bướm, hoa đồng nội, lá cành tơ, yến anh, ánh sáng… chẳng thuộc về một vùng quê nào, nhưng lại thuộc về bất cứ đâu, hiện hữu ngay xung quanh chúng ta. Vấn đề là ở chỗ đó, thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu ai cũng bắt gặp, ai cũng thấy quen thuộc như ở cuộc đời trần thế hằng ngày vẫn có vậy. Không xa lạ, không sang trọng mà gần gũi, quen thuộc, ai cũng thấy ở ngoài đời.

Bởi vậy trong cách miêu tả, Xuân Diệu không dùng đến những thủ pháp cầu kì, khoa trương, mà chỉ đơn thuần ông thổi hồn sức sống của vạn vật bằng những khoảnh khắc tươi đẹp nhất của nó. Ong bướm trong thời khắc tuần tháng mật, hoa đồng nội trong lúc xanh rì, lá cành tơ phơ phất, yến anh trong khúc tình si. Đó là khoảnh khắc của mùa xuân, của tình yêu thật viên mãn, tròn đầy. Thiên nhiên bởi thế mà lung linh, đẹp đẽ, tươi non ở mức độ căng tràn sức sống nhất. Xuân Diệu đã đưa cặp mắt “xanh non, biếc rờn” của mình để thổi cải cảm xúc “thiết tha, rạo rực” được huy động từ mọi giác quan và lăng kính tình yêu để làm nên sức sống ấy cho cảnh vật. Giọng thơ sôi nổi, phấn trấn như chiếc bút vẽ nên một bức tranh đẹp đẽ giữa chốn trần gian. Điệp từ của, này đây như bàn tay vẫy chào, mời gọi cùng bước vào chốn thiên đường của mặt đất ngay trước mắt chúng ta. Không ngạc nhiên khi gọi Xuân Diệu là con người của trần thế, bởi ngay cả bức tranh thiên nhiên ở đây cũng vô cùng trần thế mà chẳng phải chốn bồng lai tiên cảnh nào quá xa xôi.

Miêu tả vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên như thế, Xuân Diệu đã gửi gắm những giá trị, ý nghĩa mang tính triết lý nhân sinh. Đừng mải mê tìm kiếm ở đâu xa xôi, chỉ cần mỗi chúng ta hãy sống hết mình, cảm nhận hết mình sẽ thấy được cảnh đẹp ở ngay những gì ta có. Và cũng còn bởi một lý do, con người mới thực sự làm cho thiên nhiên trở nên thêm đẹp. Ông đã khéo léo trong cách so sánh để khẳng định thước đo cho cái đẹp không còn thuộc về tự nhiên, mà chính là con người.

“ Này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.”

Ánh sáng của buổi bình minh như cái chớp hàng mi của người thiếu nữ, tháng giêng “ngon” như một nụ hôn say đắm của tình nhân. Chưa bao giờ thơ ca lại có góc nhìn thẩm mĩ đặc biệt như thế. Thiên nhiên bấy lâu nay là chuẩn mực cho mọi cái đẹp, mà giờ đây cũng trở nên nhỏ bé trước con người. Bởi vậy, vẻ đẹp thiên nhiên trong Vội vàng mang theo ý nghĩa đề cao con người và khẳng định ý nghĩa mang tính triết lý nhân sinh.

Nhưng vẫn còn một thiên nhiên khác trong Vội vàng. Nếu bức tranh thiên nhiên như chốn thiên đường của mặt đất kia khiến mỗi chúng ta thêm yêu, thêm gắn bó, thêm động lực để tiếp tục sống, thì trước quy luật thời gian thiên nhiên cũng phải lụi tàn. Không còn đẹp đẽ, mơn mởn, xanh non mà thời gian cuốn theo tất cả, một đi không trở lại, nên lòng người ngậm ngùi thì thiên nhiên cũng tan tác, chia lìa. Cảm thức đầy mất mát trong quan niệm về thời gian của Xuân Diệu đã khiến ông nhìn đâu cũng thấy không còn gắn kết nữa. Khi mà xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua, xuân non rồi xuân gìa… thì đâu đó thi nhân ngửi thấy mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, nghe thấy núi sông than thầm tiễn biệt… Thiên nhiên trong sự biệt li vẫn có cái đẹp, nhưng thực chất nó là nỗi niềm run rẩy, lo lắng, sợ hãi trước quy luật tàn nhẫn của thời gian mà tác giả đã lí luận. Nhà thơ không chấp nhận sự thay thế, bởi con người cũng chỉ có một lần để sống, tuổi trẻ lại quá ngắn ngủi mà cũng chẳng hai lần thắm lại. Thiên nhiên cũng thế! Nên nỗi xót xa, tiếc nuối của thi nhân là không tránh khỏi. Để từ đó mà biết trân trọng từng phút giây, biết nâng niu từng khoảnh khắc, không bỏ lỡ sự sống mới bắt đầu mơn mởn, mây đưa gió lượn, cánh bướm tình yêu… để hưởng trọn cái xuân hồng mà phải cắn mới đã đầy, no nê được. Vẻ đẹp của thiên nhiên găn liền với quan niệm sống vội vàng của nhà thơ, cũng là phương tiện để nhà thơ bộc lộ cách sống ấy.

Nếu như thiên nhiên trong vội vàng là một bức tanh của tuổi trẻ thì bức tranh thiên nhiên trong Đây thôn Vỹ Dạ là một tình yêu sự nhớ nhung người yêu.

"Đây thôn Vỹ Dạ" là bài thơ được ghi sau một bức ảnh được gửi từ người con gái xứ Huế. Khi ấy Hàn Mạc Tử đang ở Quy Nhơn dưỡng bệnh. Nỗi nhớ mong, hoài niệm về con người và thiên nhiên xứ Huế, Hàn Mạc Tử đã viết bài thơ tuyệt đẹp này.

Thiên nhiên trong bài thơ "Đây thôn Vỹ Dạ" dường như cũng mang nhiều gam màu, nhiều cung bậc lẫn lộn trong chính cảm xúc của nhà thơ.

Mở đầu bài thơ là lời trách móc nhẹ nhàng, tình tứ người "khách xa" sao lâu nay không về Huế chơi:

“ Sao anh không về chơi thôn Vỹ”

Tứ thơ thật đẹp, thật tinh tế và ẩn chứa nội dung sâu xa. Nỗi nhớ về Huế được tác giả gửi gắm qua lời trách yêu nhẹ nhàng này. Hàn Mạc Tử đã dẫn dụ người đọc khám phá một bức tranh xứ Huế nhiều nét đẹp riêng.

Sau lời trách móc ấy, một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, tràn đầy sức sống hiện ra:

“ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Bức tranh thiên nhiên xứ Huế vào buổi sáng ban mai tinh khôi, trong lành. Ánh nắng đầu ngày luôn tinh khô, tràn đầy sức sống nhất. Dường như ánh nắng đang lên cao trên những hàng cau dài thẳng tắp. Từ "nắng" được lặp lại hai lần như nhấn mạnh bầu không khí trong lành nhất ở xứ Huế mộng và thơ. Một khu vườn hiện lên thật xinh xắn và tươi đẹp. "Vườn ai" phiếm chỉ một địa danh cụ thể nào đó nhưng tác giả ẩn ý không nói ra. Màu xanh "như ngọc" của khu vườn khiến cho bức tranh bừng lên sức sống. Không phải xanh non, xanh rì mà là "xanh mướt". Từ "mướt" làm mềm cả câu thơ và khiến cho khung cảnh trở nên hiền dịu và nên thơ hơn

Đến câu thơ cuối dường như hình ảnh con người mới xuất hiện. Mặt chữ điền là khuôn mặt phú hậu, hiền lành của người con trai. Cây trúc biểu tượng cho chí trí nam chi. Có lẽ có "khách đường xa" nào đã ghé thăm xứ Huế, nhưng chỉ là ghé thăm một cách thầm lặng như vậy.

Qua ngôn ngữ điêu luyện, giọng văn nhẹ nhàng, Hàn Mạc Tử đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên xứ Huế nên thơ nhất. Tuy nhiên sang đến khổ thơ thứ hai thì dường như bức tranh thiên nhiên ở đây đã bắt đầu chuyển màu:

“ Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

Có một sự chia ly, tan vỡ ở trong hai câu thơ. Mây và gió vốn chung đường nhưng trong thơ Hàn Mạc Tử lại chia lìa đôi ngả. Hình ảnh hoa bắp ven bờ sông hương lay nhẹ rơi rụng xuống mặt nước khiến người đọc liên tưởng đến sự nổi trôi, bấp bênh của một đời người. Thiên nhiên ở đây vẫn đẹp, nhưng đẹp mang nỗi buồn mênh mang và sâu thẳm.

“ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”

Xứ Huế với một đêm nên thơ, tràn ngập ánh trăng nhưng dường như tác giả đang thấp thỏm, lo âu điều gì đó. Từ "kịp" khiến cho mạch thơ vỡ ra, vội vàng và gấp gáp hơn. Tác giả đang hỏi ai hay hỏi chính bản thân mình

Và đến khổ thơ cuối thì dường như thiên nhiên đã chuyển sang gam màu khác, mờ ảo, huyền diệu hơn:

“ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ai biết tình ai có đậm đà”

Một đêm trăng mờ ảo, sông nước mênh mông khiến tác giả có cảm giác như mọi thứ đang ở trong cõi hư không. Màu trắng bao trùm lấy khổ thơ cuối. Sự mộng mị của cảnh sông nước khiến cho tác giả thấy mình chới với, không có điểm tựa. Câu hỏi cuối cùng của bài thơ là một câu hỏi da diết và day dứt, nó như một điệp âm cứ thổn thức mãi trong lòng tác giả.

Bức tranh thiên nhiên của xứ Huế có sự chuyển biến qua ba khổ thơ theo hướng hư không, mờ ảo dần. Tuy nhiên người đọc vẫn nhận ra được sức sống tràn trề, nét đẹp tinh khôi của một bức tranh thiên nhiên ở Huế.

Hai bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp trong hai bài thơ của Hàn Mạc Tử và Xuân Diệu, tuy mỗi bức tranh đều mang một vẻ đẹp khác nhau nhưng bên trong đó đều chứa chan tình cảm và tình yêu thương của con người và những xúc cảm, những xúc cảm, những rung động.

Đánh giá bài viết
6 12.624
Học tốt Ngữ Văn lớp 11 Xem thêm