Soạn văn 10 bài: Khái quát văn học dân gian Việt Nam

3 3.923

VnDoc mời bạn đọc tham khảo tài liệu Soạn văn 10 bài: Khái quát văn học dân gian Việt Nam, qua bộ tài liệu các bạn sẽ nắm chắc nội dung bài học một cách đơn giản hơn để có kết quả cao hơn trong học tập. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo.

1. Soạn văn lớp 10 Khái quát văn học dân gian Việt Nam ngắn gọn mẫu 1

Dưới đây là Soạn văn 11 bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam bản rút gọn, kích vào đây nếu bạn muốn tham khảo Soạn văn 11 bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam bản đầy đủ.

Hướng dẫn soạn bài

1.1. Câu 1 (trang 19 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian (Văn học dân gian)

- Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, nó tồn tại và phát triển nhờ truyền miệng.

- Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể, nó găn bó và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.

1.1.1. Tính truyền miệng

- Truyền miệng là sự ghi nhớ bằng cách nhập tâm và phổ biến bằng lời nói hoặc trình diễn cho người khác xem, nghe. Văn học dân gian được truyền miệng theo không gian (sự di chuyển tác phẩm từ nơi này sang nơi khác) hoặc theo thời gian (sự lưu truyền tác phẩm qua các đời và các thời đại). Quá trình truyền miệng chủ yếu thông qua diễn xướng dân gian.

1.1.2. Tính tập thể

- Tập thể hiểu theo nghĩa hẹp là một nhóm người, theo nghĩa rộng là một cộng đồng dân cư. Tập thể bao gồm nhiều cá nhân nhưng không phải tất cả, mỗi cá nhân tham gia vào quá trình sáng tác này ở những thời điểm khác nhau. Lúc đầu do một người khởi xướng lên, tác phẩm hình thành và được tập thể tiếp nhận. Sau đó những người khác (địa phương khác, thời đại khác) tham gia sửa chữa, bổ sung làm tác phẩm biến đổi dần. Quá trình bổ sung này thường làm cho tác phẩm phong phú và hoàn thiện hơn. Và vì truyền miệng nên lâu ngày, người ta không nhớ được và cũng không cần nhớ ai là tác giả. Tác phẩm dân gian vì thế đã trở thành của chung.

1.1.3. Tính thực hành

- Sinh hoạt cộng đồng là những sinh hoạt chung của nhiều người như lao động tập thể, vui chơi ca hát tập thể, hội hè, lao động... Trong những sinh hoạt này, tác phẩm Văn học dân gian thường đóng vai trò phối hợp hoạt động, tạo nhịp điệu cho hoạt động (hò chèo thuyền, hò đánh cá,...).

- Văn học dân gian còn tạo không khí để kích thích hoạt động, gợi cảm hứng cho người trong cuộc, tạo sự sảng khoái của con người trong các hoạt động vì thế nó tạo ra hiệu quả trong hoạt động.

1.2. Câu 2 (trang 19 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Các thể loại của Văn học dân gian

Thể loại Định nghĩa Ví dụ
Thần thoại Là những tác phẩm kể về các vị thần nhằm giải thích tự nhiên. Phản ánh nhận thức, quan niệm của con người thời cổ về nguồn gốc thế giới và quá trình sáng tạo văn hóa của con người. Thần thoại là loại truyện ra đời sớm nhất. Thần Trụ Trời, Thần Mặt trăng và thần Mặt Trời
Sử thi Còn gọi là anh hùng ca – là những bài ca lịch sử, bài ca ca ngợi các anh hùng, nó gắn liền với những biến cố, sự kiện đặc biệt của lịch sử dân tộc trong một thời kì nhất định. Đăm Săn (dân tộc Ê-đê)
Truyền thuyết Là tác phẩm kể về các nhân vật, sự kiện lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử theo xu hướng lí tưởng hóa, thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn vinh của nhân dân đối với người có công với dân tộc, cộng đồng dân cư. Thánh Gióng, Bà chúa bầu…
Truyện cổ tích Là tác mà cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về những số phận con người bình dân trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và sự lạc quan của nhân dân. Tấm Cám, Sọ Dừa, Cây tre trăm đốt
Truyện ngụ ngôn Là tác phẩm ngắn, kết câu chặt chẽ, sử dụng hình ảnh ẩn dụ để kể về những sự việc liên quan về cuộc sống con người, từ đó nêu lên triết lí nhân sinh, bài học kinh nghiệm. Thầy bói xem voi, Ếch ngồi đáy giếng
Truyện cười Là tác phẩm ngắn, kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu trong cuộc sống nhằm tạo ra tiếng cười giúp giải trí và phê phán. Lợn cưới áo mới
Tục ngữ Câu nói ngắn gọn, hàm súc, phần lớn có hình ảnh, nhịp điệu, đúc kết những kinh nghiệm sống. Tấc đất, tấc vàng. Kiến tha lâu cũng đầy tổ

 

Câu đố Bài văn hoặc câu nói có vần, mô tả sự vật bằng ẩn dụ những hình ảnh, hiện tượng khác lạ để người nghe tìm lời giải nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy.  
Ca dao Tác phẩm thơ trữ tình dân gian, thường được kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, diễn tả thế giới nội tâm của con người. Thân em như tấm lụa đào/Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Tác phẩm tự sự dân gian bằng văn vần, nói về các sự việc, sự kiện của làng, của nước mang tính thời sự qua lối kể mộc mạc. Bà còng đi chợ trời mưa.
Truyện thơ Là tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, phản ảnh số phận và khát vọng của con người về hạnh phúc và sự công bằng.  
Chèo Tác phẩm kịch hát dân gian, kết hợp các yếu tố trữ tình và trào lộng để ca ngợi những tấm gương đạo đức, phê phán thói hư tật xấu của xã hội. “Nữ tướng Thục Nương”, “Bà chúa thượng ngàn”

1.3. Câu 3 (trang 19 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1)

Các giá trị của văn học dân gian

- Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc: Văn học dân gian vừa chưa đựng những tri thức về tự nhiên và xã hội, đem lại những giá trị nhân văn và bản sắc văn hóa của các dân tộc.

- Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người: Văn học dân gian mang đến những bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc về đạo lí nhân sinh để giáo dục con người, giúp chúng ta phân biệt thiện – ác thể hiện khát vọng hạnh phúc, giúp cuộc sống có ý nghĩa hơn.

- Văn học dân gian góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc: Trải qua hàng ngàn năm, Văn học dân gian là nơi lưu giữ những giá trị thẩm mĩ to lớn của mỗi vùng miền, tạo bản sắc riêng biệt là cơ sở cho nền văn học sau này.

2. Soạn văn lớp 10 Khái quát văn học dân gian Việt Nam ngắn gọn mẫu 2

Nội dung bài học

- Văn học dân gian tồn tại dưới hình thức truyền miệng thông qua diễn xướng, được tập thể không ngừng sáng tạo lại và hoàn thiện trong qúa trình lưu truyền

- Văn học dân gian gắn bó phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong cộng đồng

- Văn học dân gian có nhiều giá trị to lớn về nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ cần được trân trọng phát huy

Hướng dẫn soạn bài

2.1. Câu 1 (trang 19 sgk Ngữ văn 10 Tập 1)

Các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian

- Tính truyền miệng

+ Đây là đặc trưng của quá trình sáng tác và lưu truyền từ người này sang người khác bằng lời qua sự ghi nhớ.

+ Nói truyền miệng là nói đến quá trình diễn xướng dân gian với các hình thức như : nói, kể, hát, diễn, … kết hợp nội dung lời thơ, văn với các làn điệu để tạo nên tác phẩm trình diễn chèo, tuồng, cải lương, …

- Tính tập thể

+ Quá trình sáng tác lúc đầu do một cá nhân khởi xướng, nhưng được nhiều người tham gia sửa chữa, trở thành sản phẩm chung, có tính tập thể.

+ Mọi người có quyền tham gia bổ sung sửa chữa sáng tác dân gian.

+ Kể cả khi đã được ghi chép lại, các tác phẩm văn học dân gian vẫn tiếp tục được truyền miệng, chỉnh sửa và hoàn thiện.

- Tính thực hành

+ Phần lớn các tác phẩn văn học dân gian đều được ra đời trong những sinh hoạt như lao động tập thể, vui chơi ca hát tập thể, hội hè... .

+ Văn học dân gian bao giờ cũng gắn với một loại hình hoạt động nhất định của nhân dân lao động như: hát ru, hò đi cấy, hát ví, hát đôi...

+ Những sinh hoạt cộng đồng có vai trò chi phối cả nội dung và hình thức của tác phẩm văn học dân gian.

2.2. Câu 2 (trang 19 sgk Ngữ văn 10 Tập 1)

Các thể loại văn học dân gian

Định nghĩa

Ví dụ

Thần thoại

+ Hình thức văn xuôi tự sự + thường kể về các vị thần nhằm giải thích các hiện tượng tự nhiên + thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và phản ánh quá trình sáng tạo văn hóa của người Việt cổ.

Thần trụ trời, Nữ thần Mặt trăng, Thần mặt trời,.......

Sử thi

+ Tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần nhịp, + Xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn lao diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại

Đẻ đất đẻ nước. Đăm Săn,..........

Truyền thuyết

+ tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) cụ thể theo xu hướng lí tưởng hóa + qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng dân cư của một vùng.

Con rồng cháu tiên, Bánh trưng bánh giầy, An Dương Vương Mị Châu và Trọng Thủy,......

Truyện cổ tích

+ cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận con người bình thường trong xã hội + thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động.

Sọ Dừa, Tấm Cám, Cậu bé thông

Truyện ngụ ngôn

+ tác phẩm tự sự rất ngắn gọn, kết cấu rất chặt chẽ + thông qua các ẩn dụ để kể về những sự việc liên quan đến con người, từ đó rút ra những kinh nghiệm và triết lí sâu sắc

Treo biển, Trí khôn,....

Truyện cười

+ tác phẩm tự sự ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ + kể về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống, có tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí, phê phán

Lợn cưới áo mới, Tam đại con gà,.....

Tục ngữ

+ câu nói ngắn gọn, hàm súc, phần lớn có hình ảnh, vần, nhịp + đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, thường được dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của nhân dân.

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, Gần mực thì đen gần đèn thì sáng,....

Câu đố

+ bài văn vần hoặc câu nói thường có vần, mô tả vật đố bằng ẩn dụ hoặc những hình ảnh, hình tượng khác lạ để người nghe tìm lời giải, nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy và cung cấp những tri thức về đời sống

Đố về mưa, Cây chuối, Đèn kéo quân,..).

Ca dao

tác phẩm thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người

Ca dao than thân, yêu thương,....

văn vần, có lối kể mộc mạc, phần lớn nói về các sự việc, sự kiện của làng, của nước mang tính thời sự

Vè chàng Lía, Vè Thất thủ kinh đô,......

Truyện thơ

thơ, phản ánh số phận và khát vọng của con người về hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội.

Tiễn dặn người yêu, truyện Lục Vân Tiên,.....

Chèo

tác phẩm kịch hát dân gian, kết hợp các yếu tố trữ tình và trào lộng để ca ngợi những tấm gương đạo đức và phê phán, đả kích cái xấu trong xã hội

Quan âm Thị Kính, Súy Vân giả dại,....

2.3. Câu 3 (trang 19 sgk Ngữ văn 10 Tập 1)

Tóm tắt nội dung các giá trị của văn học dân gian

- Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc:

+ Tri thức trong văn học dân gian thuộc đủ mọi lĩnh vực của đời sống.

+ Tri thức dân gian phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân đúc kết từ thực tiễn.

+ Tri thức dân gian thể hiện trình độ và quan điểm nhận thức của nhân dân.

+ Tri thức dân gian vô cùng phong phú và đa dạng.

- Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người

+ Văn học dân gian giáo dục con người tinh thần nhân đạo và lạc quan

+ Văn học dân gian góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp

- Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc

+ Văn học dân gian được chắt lọc, mài giũa trở thành những viên ngọc sáng

+ Đóng vai trò chủ đạo trong giai đoạn lịch sử dân tộc chưa có chữ viết.

+ Khi có văn học viết, văn học dân gian trở thành nguồn nuôi dưỡng và cơ sở của văn học viết.

------------------------------------

Trên đây VnDoc.com đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Soạn văn 10 bài: Khái quát văn học dân gian Việt Nam. Để có kết quả cao hơn trong học tập, VnDoc xin giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu Đề thi học kì 1 lớp 10, Thi thpt Quốc gia môn Văn, Thi thpt Quốc gia môn Địa lý, Thi thpt Quốc gia môn Lịch sử mà VnDoc tổng hợp và đăng tải.

Đánh giá bài viết
3 3.923
Soạn Văn 10 (ngắn nhất) Xem thêm