Tổng hợp quy định của pháp luật về xâm hại trẻ em

1 148

Xâm hại trẻ em là gì? Trẻ em có những quyền lợi gì? Quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em? Xâm hại trẻ em sẽ bị phạt như nào? VnDoc.com xin Tổng hợp tất cả quy định của pháp luật về xâm hại trẻ em, mời các bạn tham khảo bài viết sau đây.

Xâm hại trẻ em là gì?

Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.

Trẻ em có bao nhiêu quyền?

Luật trẻ em có hiệu lực, đảm bảo tốt hơn cho các em, theo như Luật quy định thì trẻ em có 25 quyền gắn với các điều Luật tương ứng sau:

1. Điều 12. Quyền sống

2. Điều 13. Quyền được khai sinh và có quốc tịch

3. Điều 14. Quyền được chăm sóc sức khỏe

4. Điều 15. Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng

5. Điều 16. Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu

6. Điều 17. Quyền vui chơi, giải trí

7. Điều 18. Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc

8. Điều 19. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

9. Điều 20. Quyền về tài sản

10. Điều 21. Quyền bí mật đời sống riêng tư

11. Điều 22. Quyền được sống chung với cha, mẹ

12. Điều 23. Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ

13. Điều 24. Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi

14. Điều 25. Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục

15. Điều 26. Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động

16. Điều 27. Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc

17. Điều 28. Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt

18. Điều 29. Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy

19. Điều 30. Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính

20. Điều 31. Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang

21. Điều 32. Quyền được bảo đảm an sinh xã hội

22. Điều 33. Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội

23. Điều 34. Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp

24. Điều 35. Quyền của trẻ em khuyết tật

25. Điều 36. Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

Quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em:

Có 2 văn bản quy định như sau:

1. Luật trẻ em và các văn bản liên quan

Luật trẻ em năm 2016, sửa đổi bổ sung năm 2018 đã đưa ra khái niệm xâm hại tình dục trẻ em tại Điều 4, điểm 8:

“ Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”.

Xâm hại tình dục trẻ em là một trong các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại mục 3 Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm:

“3. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em”.

Điều 25. Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục quy định rõ:

“Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục”.

Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em, trong đó nêu rõ tại:

“Điều 13. Trẻ em bị xâm hại tình dục

1. Trẻ em bị hiếp dâm.

2. Trẻ em bị cưỡng dâm.

3. Trẻ em bị giao cấu.

4. Trẻ em bị dâm ô.

5. Trẻ em bị sử dụng vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”.

Các trường hợp trẻ em nêu trên “được tham gia vào các vấn đề về trẻ em và được bảo vệ”.

Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 16/5/2017, của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em đã chỉ đạo tại điểm 8:

“8. Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

a) Chỉ đạo Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp tiếp nhận, giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; rà soát hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em để xử lý dứt điểm, không để tồn đọng, kéo dài;

b) Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan sớm ban hành văn bản hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật đối với các điều của Bộ luật Hình sự quy định về xâm hại tình dục trẻ em để giải quyết vướng mắc trong công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với loại tội phạm này”.

- Ngày 15/6/2017 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 856/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về trẻ em. Trong các ủy viên của Ủy ban có lãnh đạo Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao. Trong đó, Ủy ban có nhiệm vụ: giải quyết các vấn đề về trẻ em, thực hiện quyền trẻ em; thực hiện các vấn đề liên quan đến trẻ em và thúc đẩy thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em.

Ngày 21/92018 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 02 quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên, tại khoản 2 Điều 4 quy định “Vụ án hình sự có bị cáo từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm một trong các tội đặc biệt nghiêm trong quy định tại các điều … 142, 144…BLHS. Các vụ án này được thực hiện theo thủ tục xử kín, thân thiện với trẻ em.

Các quy định trên thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo, yêu cầu xử lý nghiêm minh đối với các hành vi xâm hại tình dục trẻ em.

2. Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 tại Chương XIV: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) gồm 5 điều luật cụ thể sau:

- Điều 142 - Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;

- Điều 144 - Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

- Điều 145 - Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi;

- Điều 146 - Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi;

- Điều 147 - Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.

Trong đó, người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể phải chịu mức án cao nhất là chung thân hoặc tử hình.

BLHS năm 2015 so với BLHS năm 2003 đã cụ thể hoá một số khái niệm: “Người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người” được thay bằng “từ 02 người trở lên”; “nhiều lần” được thay bằng “từ 02 lần trở lên”; “gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật..” được thay bằng “gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật...”.

Trong BLHS năm 2015, khái niệm “hiếp dâm trẻ em” được thay bằng “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. Theo đó, khái niệm “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được đưa ra khái niệm cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền.

- Nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự được thể hiện qua việc cụ thể hoá ở mức tối đa các tình tiết định khung của từng tội phạm trong nhóm tội. Cụ thể:

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45% (Điều 142, 144,145,146);

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên (Điều 142, 144,145,146);

+ Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi (Điều 142);

+ Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh (Điều 145);

+ Làm nạn nhân tự sát (Điều 146).

- Về khung hình phạt và hình phạt bổ sung. Cụ thể như sau:

+ Khoản 3, Điều 143, BLHS 2015 tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định mức hình phạt tù là 10 năm đến 18 năm thay cho mức phạt từ 7 năm đến 18 năm tại khoản 3, Điều 113, BLHS 1999.

+ So với Điều 155, BLHS 1999, Điều 145, BLHS 2015 bổ sung thêm khoản 4 quy định về hình phạt bổ sung là người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Sự thay đổi này thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi đã tăng lên dẫn đến quy định mức răn đe đối với hành vi phạm tội cũng phải có sự tăng tiến tương xứng.

- Điều 147 (BLHS 2003 không quy định): Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”).

Những hành vi xâm hại tình dục trẻ em:

Các hành vi sau đây bị coi là hành vi xâm hại tình dục trẻ em:

1. Hành vi hiếp dâm trẻ em: hành vi hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ. Đối với nạn nhân là trẻ em chưa đủ 13 tuổi thì mọi trường hợp giao cấu với những trẻ em này (dù nạn nhân có đồng ý hay không đồng ý) đều bị coi là hành vi hiếp dâm trẻ em. Mọi hành vi hiếp dâm trẻ em đều bị pháp luật hình sự xử lý nghiêm khắc, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ Luật hình sự 1999 15/1999/QH10. Người phạm tội có thể bị phạt tù có thời hạn từ 7 năm đến 10 năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Hành vi cưỡng dâm trẻ em: hành vi cưỡng dâm là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu. Hành vi cưỡng dâm trẻ em cũng bị pháp luật hình sự xử lý nghiêm khắc. Điều 114 Bộ Luật hình sự năm 1999 quy định người nào cưỡng dâm trẻ em có thể bị phạt tù có thời hạn từ 5 đến 20 năm hoặc tù chung thân;

3. Hành vi giao cấu với người chưa thành niên từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi:

Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định, người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi ( khác với trường hợp hiếp dâm hoặc cưỡng dâm, trong trường hợp này nạn nhân không bị ép buộc, cưỡng ép), thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm, trong trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị phạt tù từ 3 đến 10 năm hoặc từ 7 đến 15 năm.

4. Hành vi dâm ô với trẻ em: được hiểu là hành vi sinh hoạt tình dục dưới dưới các dạng khác nhau nhưng không phải ở dạng hành vi giao cấu (như hành vi kích thích, khêu gợi nhu cầu tình dục….). Hành vi dâm ô với trẻ em cũng bị xử lý hình sự, Điều 116 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định người nào đã thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm, trong trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị phạt tù từ 3 đến 7 năm hoặc từ 7 đến 20 năm.

5. Ngoài ra, các hành vi sau cũng đều bị coi là hành vi xâm hại tình dục trẻ em như: dùng tiền, vật chất, uy tín hoặc lợi ích khác để dụ dỗ, lôi kéo trẻ em hoạt động mại dâm; dùng thủ đoạn nói dối, gian lận để trẻ em hoạt động mại dâm; dẫn, chỉ dẫn, môi giới, tổ chức xúi giục trẻ em hoạt động mại dâm; che giấu, cho thuê, mượn hoặc bố trí nơi để trẻ em hoạt động mại dâm; dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy quyền để ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; cho trẻ em tiếp xúc với văn hóa phẩm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm hoặc tác động vào cơ thể trẻ em nhằm kích động tình dục trẻ em…

Trách nhiệm tố giác hành vi xâm hại trẻ em:

Trách nhiệm tố giác hành vi xâm hại trẻ em được quy định tại Điều 51 Luật trẻ em 2016, theo đó:

1. Cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân có trách nhiệm thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em, trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi đến cơ quan có thẩm quyền.

2. Cơ quan lao động - thương binh và xã hội, cơ quan công an các cấp và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác; phối hợp xác minh, đánh giá, Điều tra về hành vi xâm hại, tình trạng mất an toàn hoặc gây tổn hại, mức độ nguy cơ gây tổn hại đối với trẻ em.

3. Chính phủ thiết lập tổng đài điện thoại quốc gia thường trực để tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác nguy cơ, hành vi xâm hại trẻ em; quy định quy trình tiếp nhận và xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em.

Các biện pháp hỗ trợ, can thiệp trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng được quy định như thế nào?

Các biện pháp hỗ trợ, can thiệp trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng được quy định tại Điều 37 Nghị định 56/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật trẻ em như sau:

1. Cơ quan quản lý nhà nước về thông tin, truyền thông và quản lý nhà nước về trẻ em; tổ chức, doanh nghiệp hoạt động, cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận thông tin, đánh giá, phân loại mức độ an toàn cho trẻ em được các cơ quan, tổ chức, cá nhân và trẻ em gửi tới; công bố danh sách các mạng thông tin, dịch vụ, sản phẩm trực tuyến theo mức độ an toàn đối với trẻ em; bảo đảm việc phát hiện, loại bỏ các hình ảnh, tài liệu, thông tin không phù hợp với trẻ em.

2. Cơ quan công an có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp hỗ trợ, can thiệp bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

Thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại như thế nào?

Thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại được quy định tại Điều 29 Nghị định 56/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật trẻ em như sau:

1. Người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã trực tiếp thực hiện một số hoạt động hỗ trợ, can thiệp và chủ trì, phối hợp triển khai thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp cụ thể như sau:

a) Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các dịch vụ, hoạt động hỗ trợ, can thiệp; kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã kịp thời điều chỉnh kế hoạch phù hợp với thay đổi của cá nhân trẻ em và mức độ an toàn của môi trường trẻ em đang sinh sống;

b) Kết nối dịch vụ, hoạt động trên địa bàn xã hoặc yêu cầu sự hỗ trợ của cơ quan có trách nhiệm bảo vệ trẻ em các cấp, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em ngoài địa bàn;

c) Vận động cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng tham gia hỗ trợ.

2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở giáo dục, cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, cơ quan công an, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em các cấp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ trẻ em tham gia thực hiện, hỗ trợ việc thực hiện kế hoạch.

3. Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

4. Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em có trách nhiệm giới thiệu, kết nối các dịch vụ hỗ trợ, can thiệp cần thiết trong trường hợp cấp tỉnh không có dịch vụ hoặc theo đề nghị của người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã.

Xâm hại trẻ em sẽ bị xử lý như thế nào?

Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 đã tăng thêm một tội mới, sửa đổi tên gọi các tội cũ và cụ thể hóa các hành vi. Dưới đây là năm tội sắp áp dụng theo luật mới. Theo đó, Không chỉ hiếp dâm, dâm ô mà mọi hành vi "xâm hại tình dục khác" với người dưới 16 tuổi sẽ cấu thành tội phạm.

Xâm hại trẻ em sẽ bị phạt như nào?Xâm hại trẻ em sẽ bị phạt như nào?Xâm hại trẻ em sẽ bị phạt như nào?Xâm hại trẻ em sẽ bị phạt như nào?Xâm hại trẻ em sẽ bị phạt như nào?Quy định về quyền trẻ em

Tham khảo thêm một số quy định về quyền trẻ em:

Đánh giá bài viết
1 148

Video đang được xem nhiều

Trách nhiệm hình sự Xem thêm