Vội vàng

1 1.044

Vội vàng - Xuân Diệu

Để giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 11 các bạn hãy tham khảo tài liệu: Vội vàng của Xuân Diệu, tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh học tập hiệu quả hơn môn Ngữ văn lớp 11, khi đã hiểu sâu bài thơ các bạn sẽ Soạn bài lớp 11 một cách dễ dàng. Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo.

Vội vàng

Tặng Vũ Đình Liên

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.

Của ong bướm này đây tuần trăng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt...
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa...

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng. Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt, nhưng đằng sau đó là cả một quan niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống.

Bài thơ này được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 11 giai đoạn 1990-2006, Ngữ văn 11 từ 2007.

I. Đôi nét về tác giả Xuân Diệu

- Xuân Diệu (1916-1985), tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu.

- Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho, sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn.

- Tham gia Cách mạng ông hăng say hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.

- Các tác phẩm chính:

+ 15 tập thơ, mở đầu là tập Thơ thơ.

+ một số tập văn xuôi: Phấn thông vàng.

+ một số tập tiểu luận, phê bình nghiên cứu văn học.

- Phong cách nghệ thuật:

+ trước Cách mạng tháng Tám Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới.

• Một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới: khao khát giao cảm với đời, yêu đời ham sống đến bồng bột.

• Quan niệm sống mới: sống mãnh liệt hết mình, thời gian một đi không trở lại ⇒ hối thúc sống vội vàng.

• Quan niệm thẩm mĩ mới: chỉ có con người giữa tuổi trẻ tình yêu là đẹp nhất (thời xưa thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp).

• Những cách tân nghệ thuật táo bạo: câu từ rất lạ rất tây.

+ sau cách mạng tháng Tám có nhiều thay đổi.

- Vị trí:

+ là ông Hoàng thơ tình Việt Nam.

+ là nhà thơ lớn có phong cách nghệ thuật độc đáo.

II. Đôi nét về tác phẩm Vội vàng (Xuân Diệu)

1. Xuất xứ

- Rút ra trong tập Thơ Thơ

- Là thi phẩm kết tinh vẻ đẹp thơ Xuân Diệu trước Cách mạng

2. Bố cục

- Phần 1 (câu 1 đến câu 29): lí do phải sống vội vàng

- Phần 2 (còn lại): biểu hiện của cách sống vội vàng

3. Giá trị nội dung

- Bài thơ là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng phút, từng giây của cuộc đời mình nhất là những năm tháng tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời ham sống đến cuồng nhiệt.

4. Giá trị nghệ thuật

- Hình thức nghệ thuật điêu luyện: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch lí luận, giọng điệu say mê, sôi nổi, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ.

III. Dàn ý phân tích Vội vàng (Xuân Diệu)

1. Tình yêu trần thế tha thiết

a. Ước muốn kì lạ

- Tắt nắng, buộc gió đó đều là những ước muốn không thể thực hiện được ⇒ tác giả muốn níu giữ thời gian, níu giữ những gì đẹp đẽ nhất của cuộc sống, muốn bất tử hóa hương sắc mùa xuân trần thế.

- Thể thơ ngũ ngôn cùng điệp từ Tôi muốn được sử dụng hiệu quả.

b. Mùa xuân thiên đường trên mặt đất

- Câu thơ bất ngờ kéo dài mở rộng tám chữ để dễ dàng vẽ bức tranh cuộc sống, nhịp thơ nhanh hơn, dồn dập hơn, gợi niềm háo hức say mê.

- Điệp từ này đây chỉ sự phong phú, giàu có, đầy đủ, gần gũi muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên.

- Hình ảnh đẹp đẽ, tươi non tràn đầy xuân sắc, gắn với tình yêu tuổi trẻ: những thảm cỏ xanh non, lá non cành tơ phơ phất, hoa đua nhau khoe sắc dâng mật ngọt, ong bướm đắm say, ái ân tuần tự,....

- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần đầy sáng tạo mới mẻ, thú vị.

- Tất cả hài hòa cộng hưởng cùng vẽ nên mùa xuân – thiên đường trên mặt đất.

⇒ Nhà thơ muốn nhắn nhủ đến mọi người: sự đẹp đẽ, tinh túy nhất không phải tìm đâu xa mà nó là cuộc sống xung quanh chúng ta, hãy yêu mến gắn bó hết mình với cuộc sống.

- Hai câu cuối đoạn thơ 1 là niềm tiếc nuối mùa xuân ngay khi nó còn tồn tại:

Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

2. Quan niệm thời gian, tuổi trẻ, tình yêu

a. Đẹp nhất là con người giữa tình yêu và tuổi trẻ

- Thi nhân xưa luôn coi thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp.

- Xuân Diệu lấy con người giữa tuổi trẻ, tình yêu làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp ở đời.

b. Quan niệm sống mới

- Xuân Diệu đã nồng nhiệt khẳng định thiên đường ở ngay trên mặt đất trong cuộc sống này.

- Vậy nên hãy sống cao độ, quý trọng từng phút, từng giây của cuộc đời này nhất là những khoảnh khắc của tuổi trẻ, tình yêu.

3. Lí do tiếc nuối mùa xuân, tuổi trẻ

- Với Xuân Diệu mùa xuân, tuổi trẻ là một đi không trở lại thế nên thi sĩ tiếc nuối, lo âu.

- Hàng loạt các câu thơ định nghĩa, điệp ngữ nghĩa là đã giúp thi nhân khẳng định chắc nịch mùa xuân, tuổi trẻ sẽ qua sẽ hết sẽ già, sẽ mất.

- Giữa cái mênh mông vô cùng, vô tận của vũ trụ, thời gian, sự hiện diện của con người, tuổi trẻ là quá ngắn ngủi mong manh.

- Lời thơ chứa đựng nỗi ngậm ngùi mới mẻ mà thấm thía.

- Và tác giả đã cảm nhận rõ mồn một sự phôi pha phai tàn đang âm thầm diễn ra: thời gian rớm vị chia phôi, sông núi than thầm tiễn biệt, từ cơn gió xinh đến ngọn lá biếc đến bày chim non đều ngậm ngùi vì sự tàn úa, phôi phai.

4. Lời đề nghị và biểu hiện của cách sống vội vàng

- Xuân Diệu giục giã hối thúc mọi người hãy sống chạy đua với thời gian, sống vội vàng: Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm.

- Câu thơ 3 chữ Tôi muốn ôm rất đặc biệt gợi hình ảnh cái tôi ham hố đang ôm trọn tất cả sự sống mơn mởn.

- Thi sĩ muốn tận hưởng tất cả những gì non nhất, ngon nhất của sự sống: đó là mây đưa và gió lượn, cánh bướm với tình yêu, là non nước và cây và cỏ rạng.

⇒ Với Xuân Diệu nàng xuân phải thanh tân và quyến rũ.

- Đâu chỉ có thế thi sĩ còn muốn tận hưởng thiên nhiên như tận hưởng ái tình và phải đạt đến độ ngây ngất no nê:

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi

- Và thậm chí là tận hưởng bằng tất cả các giác quan để rồi lịm đi trong niềm mê đắm ngây ngất: Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi.

5. Nghệ thuật

- Giọng thơ yêu đời vồ vập thấm vào từng câu từng chữ.

- Câu ngắn dài đan xen linh hoạt, nhịp thơ nhanh mạnh.

- Hàng lạt các điệp từ, điệp ngữ tuôn trào hối hả, dồn dập.

- Tất cả tạo nên một hơi thở sôi nổi, mãnh liệt chưa từng thấy.

Tài liệu liên quan đến bài thơ Vội vàng

Bài giảng Vội vàng Ngữ văn 11

Giáo án bài Vội vàng

Văn mẫu lớp 11: Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong Vội vàng của Xuân Diệu

Phân tích bài thơ Vội vàng

Đánh giá bài viết
1 1.044
Ngữ văn lớp 11 Xem thêm