Cảm nhận của em về niềm vui lớn, lẽ sống lớn và tình cảm của Tố Hữu qua bài Từ ấy

Văn mẫu lớp 11: Cảm nhận của em về niềm vui lớn, lẽ sống lớn và tình cảm của Tố Hữu qua bài Từ ấy dưới đây được VnDoc.com tổng hợp và sưu tầm gồm các bài văn mẫu lớp 11 hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra môn Ngữ văn 11 sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

1. Dàn ý Cảm nhận của em về niềm vui lớn, lẽ sống lớn và tình cảm của Tố Hữu qua bài Từ ấy

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Tố Hữu, bài thơ Từ Ấy và lý tưởng sống được thể hiện qua bài thơ.

Lưu ý: học sinh lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân.

2. Thân bài

a. Phân tích bài thơ Từ ấy

Khổ thơ đầu: sự giác ngộ lí tưởng cách mạng của tác giả khi được ánh sáng của Đảng và nhà nước soi sáng. Thể hiện niềm vui sướng tột cùng khi được đứng trong hàng ngũ danh dự của Đảng; chiến đấu vì mục tiêu và lí tưởng cao đẹp.

Khổ thơ thứ hai: tác giả thể hiện sự gắn bó keo sơn, bền chặt của bản thân với cuộc đời, với những kiếp người đau khổ ngoài kia để cùng nhau góp sức tạo nên một khối đại đoàn kết dân tộc vô cùng vững mạnh, bền chặt.

Từ ấy

Khổ thơ cuối cùng: tự nhận mình có mối quan hệ thân mật, gắn bó với những con người trên khắp mọi miền đất nước, cù bất cù bơ không nơi nương tựa, đâu đâu cũng là nhà, cũng là anh em.

→ Tư tưởng của một con người giàu lòng yêu nước, hướng về đại chúng, về mọi người, luôn khao khát được sống, được chiến đấu vì mọi người và bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc.

b. Lí tưởng sống qua bài thơ

Ngày nay chúng ta - những người trẻ tuổi đang được sống trong một đất nước yên bình, một thế hệ không có chiến tranh.

Để tiếp nối lí tưởng, truyền thống của cha ông đi trước, chúng ta phải cố gắng học tập, rèn luyện bản thân để xứng đáng với thành quả đang được thừa hưởng.

Mỗi một người trẻ hãy sống có tư duy, có lí tưởng, chan hòa, yêu thương, đoàn kết với mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn hoạn nạn.

3. Kết bài

Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm đồng thời liên hệ bản thân.

2. Văn mẫu Cảm nhận về niềm vui lớn, lẽ sống lớn và tình cảm của Tố Hữu qua bài Từ ấy

2.1 Cảm nhận của em về niềm vui lớn, lẽ sống lớn và tình cảm của Tố Hữu qua bài Từ ấy - Bài mẫu 1

Chế Lan Viên từng nói "Thơ anh là lối thơ lấy cái đường đi toàn đời, lấy cái hơi toàn tập, lấy cái tứ toàn bài là chính... anh là con chim vụ ở đường bay hơn là bộ lông, bộ cánh, tuy vẫn là lông cánh đẹp". Không ai khác, Chế Lan Viên đang nói đến Tố Hữu- một nhà thơ của lí tưởng cộng sản, một nhà cách mạng yêu nước. Thơ ông luôn gắn liền với cách mạng, tiêu biểu là bài thơ Từ Ấy trích tập thơ cùng tên được ông sáng tác năm 18 tuổi, năm ông ra nhập đảng với niềm vui khôn xiết:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói trong tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim

"Từ ấy" là tên bài thơ, là tên tập thơ cũng là thời điểm trong đời Tố Hữu. Những năm trước cách mạng là "những ngày bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước, chọn một dòng để nước trôi" nhưng vào năm 1938, gặp đảng là lúc tìm được ánh sáng. "Từ ấy" không còn chỉ là thời điểm vô danh trôi chìm trong quên nhớ đời người mà đã trở thành thời khắc thiêng liêng không thể lãng quên phai nhạt. Vào thời khắc ấy, trong hồn thi sĩ "bừng nắng hạ" . Hình ảnh nắng hạ thật chói chang khác cái nắng nhợt nhạt của mùa xuân, cái nắng hanh của mùa thu. Những tia nắng hạ làm lá thêm xanh, hoa thêm ngát, trái thêm ngọt, đất trời thêm cao. Không những vậy, "nắng hạ" trong bài thơ cho ta nguồn sáng rất ấm, rất tươi của tinh thần, của linh hồn. Nó làm "bừng" sáng tâm hồn, bừng lên niềm vui, bừng dậy cả nguồn sống, bừng thức cả một miền kí ức thật đẹp đẽ. Ánh sáng ấy chỉ có thể là của mặt trời, đó là sự sống, hơi ấm bao la bất biến của vũ trụ. Đó là ánh sáng của "mặt trời chân lí" là ánh sáng của đảng.

Niềm vui ấy không hề dừng lại, mà ngày càng tăng lên với các hình ảnh "vườn hoa lá", "tiếng chim ca",.. mở ra cho người độc đó là khu vườn xuân tươi mới tràn ngập sắc xanh của cây, hương thơm của hoa và những tiếng chim hót ríu rít tràn đầy sức sống. Vẻ đẹp tâm hồn, niềm vui của tác giả đã thoát khỏi ước lệ tượng trưng, nó tươi sáng trẻ trung có chút bồng bột say mê của chàng trai xanh tuổi trẻ lòng. Câu thơ với kiểu định nghĩa rất mới mẻ viết bằng cảm xúc dạt dào mãnh liệt với các hình ảnh rất cụ thể khiến cho ta cảm nhận được niềm vui và say mê khi tác giả được kết nạp đảng.

Nếu khổ thơ thứ nhất cho ta cảm nhận được niềm vui, sự say mê của tác giả thì đến khổ hai chính là những nhận thức mới về lí lẽ sống:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với muôn nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Khổ thơ với điệp ngữ kết hợp với nhịp thơ nhanh, trôi chảy, hơi thở liền mạch, giọng thơ sôi nổi thiết tha tràn đầy nhiệt tình nhiệt huyết. Việc sử dụng động từ "buộc" thể hiện một lòng tự nguyện chan hòa lòng mình cùng mọi người, tác giả dường như muốn mình trải lòng cùng quần chúng nhân dân cần lao của bao kiếp người đau khổ. Đó là những trẻ em bán dạo, người ở, đầy tờ, những người nông dân khổ cực sớm hôm,... Tố Hữu với mong muốn đồng cảm, xót thương đoàn kết với những người dân ngoài kia mà mở hồn "trang trải" với "khối đời". Có lẽ đó là một lẽ sống lớn, tình cảm lớn với mọi người.

Tiếp tục mạch cảm xúc là những biến chuyển trong tâm hồn thi sĩ và mong muốn tột cùng hòa mình với đời:

Ta đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ

Khổ thơ cuối là sự xuất hiện của tập thể với các cụm từ chỉ số lượng lớn "vạn nhà", "vạn kiếp" "vạn đầu" và đại từ "ta", tác giả một lần nữa khẳng định tình cảm gắn bó của mình với mọi người, những người sống nghèo khổ, tuổi cao nhưng còn gánh nhiều nỗi cơ cực, những trẻ em thời ấy không có cơm ăn áo mặc, lang thang không nhà và tất cả mọi người trên thế gian này. Đây là bước chuyển từ cái tôi sang cái ta rõ rệt nhất, tình cảm thay đổi cũng bắt nguồn từ nhận thức về lẽ sống, nó ập đến trong lòng tác giả như một mối duyên, có thể nói là mối duyên giữa thi sĩ và ánh sáng chân lý của đảng. Đặt tác phẩm vào thời đại và bối cảnh bấy giờ năm 1938, thời điểm mà các nhà trí thức tiểu tư sản đang đề cao cái tôi cá nhân thì Tố Hữu đã có thể buông bỏ cái tôi để hòa mình cùng cái ta của thế gian. Điều này cho thấy sức mạnh to lớn của lí tưởng cách mạng đã cảm hóa con người, soi sáng đường đi cho họ, hướng họ về phía mặt trời.

Với khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn, và chất trữ tình chính trị sâu sắc, thơ Tố Hữu đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào cho những thế hệ thanh niên yêu nước. Và bài thơ Từ ấy của ông truyền cho ta ngọn lửa, nhiệt huyết và khát vọng tuổi trẻ lớn lao.

2.2 Cảm nhận của em về niềm vui lớn, lẽ sống lớn và tình cảm của Tố Hữu qua bài Từ ấy - Bài mẫu 2

Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng, sự nghiệp và thơ ca của ông gắn liền với cách mạng. Thơ của ông gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ và hy sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi đầy vẻ vang. Bài thơ Từ ấy đã ghi lại bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Tố Hữu với những cảm nhận và suy tư sâu sắc.

"Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Không áo cơm, cù bất cù bơ"

Bài thơ nằm trong phần máu lửa của tập Từ ấy được viết vào ngày mà Tố Hữu được đứng vào hàng ngũ của Đảng.

"Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim".

"Từ ấy" là chỉ cái mốc thời gian đặc biệt trong cuộc đời cách mạng và trong cuộc đời thơ Tố Hữu. Đó là khi Tố hữu 18 tuổi đang hoạt động rất tích cực trong ĐTNCS Huế. Được giác ngộ lý tưởng cộng sản, Tố Hữu vô cùng vui sướng, ông đã hoạt động cách mạng một cách say mê và sau một năm ông được kết nạp vào Đảng. Tức là được đứng vào hàng ngũ danh dự của những con người tiên phong.

Cụm từ "bừng nắng hạ" là biểu tượng cho cảm xúc của bài thơ. "Bừng nắng hạ" là bừng lên vui sướng hân hoan, bừng lên niềm hạnh phúc, bừng lên một chân lý tỏa sáng cho cuộc đời của mình. Hình ảnh "mặt trời chân lí chói qua tim" là hình ảnh ẩn dụ biểu tượng cho lý tưởng cách mạng. Những từ ngữ được sử dụng chính xác, giàu sức gợi ở đây là từ "bừng" và từ "chói". Từ "bừng" chỉ ánh sáng phát ra đột ngột, từ "chói" chỉ ánh sáng xuyên mạnh. Vậy hình ảnh "bừng nắng hạ", "chói qua tim" đã diễn tả được niềm vui đột ngột của nhà thơ. Tố Hữu đã khẳng định lí tưởng cộng sản như một nguồn ánh sáng mới, làm bừng sáng lên tâm hồn. Tác giả gọi chân lí cách mạng là mặt trời chân lí bởi Đảng là một nguồn ánh sáng kì diệu, tỏa ra từ những tư tưởng đúng đắn, hợp với lẽ phải. Nó báo hiệu những điều tốt lành cho cuộc sống. Cách gọi ấy thể hiện thái độ thành kính của nhà thơ đối với cách mạng. Từ "chói qua tim" là tác giả nhấn mạnh ánh sáng của lí tưởng là một nguồn ánh sáng mạnh, nó xua tan đi màn sương mù của ý thức tiểu tư sản và mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, của tư tưởng.

Hai câu thơ sau tác giả viết bằng bút pháp trữ tình lãng mạn cùng với những hình ảnh so sánh rất sinh động, giàu hình tượng để diễn tả niềm vui sướng vô hạn của buổi đầu tiếp xúc với lý tưởng cộng sản:

"Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim"

Hình ảnh "vườn hoa lá" và "rộn tiếng chim" là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho một thế giới tươi sáng, rộn rã, tràn đầy sức sống. Nhà thơ so sánh hồn tôi như vườn hoa lá, một cách so sánh lấy hình ảnh cụ thể để chỉ một khái niệm trừu tượng. Để từ đó bạn đọc chúng ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ khi đến với cách mạng. Đối với Tố Hữu, lí tưởng cách mạng không chỉ khơi dậy một sức sống mới mà còn mang lại một cảm hứng sáng tạo mới cho hồn thơ. Đó là nhà thơ say mê ca ngợi nhân dân, ca ngợi đất nước, say mê hoạt động cống hiến cho cách mạng. Như vậy, khổ thơ mở đầu bài thơ diễn tả niềm vui, niềm say mê và hạnh phúc tràn ngập trong tâm hồn nhà thơ từ khi được giác ngộ lý tưởng cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng Sản. Những câu thơ trên được viết bằng cảm xúc dạt dào diễn tả tâm trạng, tâm hồn bằng những hình ảnh cụ thể và sinh động đã tạo được một ấn tượng độc đáo, mới lạ so với thơ ca cách mạng đương thời và trước đó. Xong cái hấp dẫn lớn nhất trong thơ Tố Hữu là con người chân thành, tâm hồn trong trẻo, nồng nhiệt đã tìm được một cách diễn đạt rất phù hợp.

Khi giác ngộ lý tưởng Tố hữu đã khẳng định quan niệm mới về lẽ sống. Đó là sự gắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của mọi người:

"Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với muôn nơi"
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời"

Động từ "buộc" thể hiện một ý thức tự nguyện và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của cái tôi cá nhân để sống chan hòa với mọi người. "Buộc" còn có nghĩa là tự mình phải có trách nhiệm gắn bó với cộng đồng. Mọi người ở đây là những người lao khổ, những con người cùng chung giai cấp vô sản. Từ "trang trải" khiến ta liên tưởng tới tâm hồn của nhà thơ đang trải rộng với cuộc đời: tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể. "Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời" là tác giả nói đến tinh thần đoàn kết. "Khối đời" là hình ảnh ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung một cảnh ngộ, cùng chung một lý tưởng, đoàn kết với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng phấn đấu vì một mục đích chung: đấu tranh giành lại quyền sống và quyền độc lập dân tộc. Như vậy, toàn bộ khổ thơ trên bằng lối sử dụng những từ ngữ chính xác, giàu ẩn ý, nhà thơ đã gửi gắm một cách sâu sắc về tư tưởng, tình cảm của mình. Đó là tình yêu thương con người của Tố Hữu gắn với tình cảm hữu ái giai cấp. Nó thể hiện niềm tin của tác giả vào sức mạnh đoàn kết, câu thơ trên cũng là một lời khẳng định: khi cái tôi chan hòa với cái ta, khi cá nhân hòa vào tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh nhân lên gấp bội. Những câu thơ cũng là biểu hiện nhận thức mới về lẽ sống chan hòa cá nhân và tập thể, giữa cái tôi và cái ta. Trong lẽ sống ấy con người tìm thấy niềm vui và sức mạnh. Sự thay đổi nhận thức ấy, nó bắt nguồn sâu xa từ sự tự giác ngộ lý tưởng của nhà thơ Tố Hữu.

"Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ"

Ở khổ thơ này, nhà thơ tiếp tục ghi nhận những chuyển biến trong nhận thức và hành động thể hiện trong quan hệ với các tầng lớp khác nhau của quần chúng lao động. Ở đây, tác giả đã khẳng định tình cảm gắn bó với "vạn nhà" (Tôi đã là con của vạn nhà: "vạn nhà" là một tập thể lớn lao, rộng rãi, nhưng rộng hơn là toàn thể quần chúng nhân dân lao động, "vạn kiếp phôi pha" là những người sống nghèo khổ, sa sút, vất vả, cơ cực, "vạn đầu em nhỏ" là những em bé lang thang vất vưởng nay đây mai đó).

Tình cảm của tác giả thể hiện qua cách xưng hô: con, anh và em, cho ta thấy tình hữu ái giai cấp, tình yêu thương ruột thịt. Điệp từ "đã là" là một điểm nhấn, nó giúp tác giả thể hiện sâu sắc tình cảm gắn bó của mình với quần chúng nhân dân lao khổ. Tác giả đã xác định mình là một thành viên trong đại gia đình quần chúng lao khổ. Tình cảm ấy trở nên cao quý hơn khi ta hiểu được Tố Hữu vốn là một trí thức tiểu tư sản, có lối sống đề cao cái tôi cá nhân, ích kỉ, hẹp hòi. Nhà thơ đã vượt qua giai cấp của mình để đến với giai cấp vô sản với tình cảm chân thành và điều này chứng tỏ sức mạnh cảm hóa mạnh mẽ lí tưởng cách mạng đối với những người trí thức tiểu tư sản.

Với cách sử dụng linh hoạt các bút pháp tự sự, trữ tình và lãng mạn, sử dụng linh hoạt và hiệu quả các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, ngôn ngữ rồi sử dụng từ ngữ giàu tình cảm, giàu hình ảnh. Bài thơ đã thể hiện được một cách sâu sắc, tinh tế sự thay đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một thanh niên ưu tú khi được giác ngộ lý tưởng cách mạng và được vinh dự đứng trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng. Bài thơ cũng thể hiện những nhận thức mới về lẽ sống, đó là lẽ sống gắn bó hài hòa giữa cái tôi riêng với cái ta chung của mọi người. Cũng như sự chuyển biến sâu sắc của nhà thơ, bài thơ cũng có ý nghĩa mở đầu cho con đường cách mạng, con đường thơ ca của Tố Hữu. Nó là tuyên ngôn về lẽ sống của người chiến sĩ cách mạng và cũng là tuyên ngôn của nhà thơ chiến sĩ. Bài thơ cũng tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, có sự kết hợp hài hòa giữa trữ tình và chính trị, sử dụng nhuần nhuyễn các thủ pháp nghệ thuật quen thuộc của thơ ca truyền thống nhưng giàu hình ảnh và giàu nhịp điệu lời thơ giản dị khiến nó dễ đi vào lòng người đọc.

2.3 Cảm nhận của em về niềm vui lớn, lẽ sống lớn và tình cảm của Tố Hữu qua bài Từ ấy - Bài mẫu 3

Sức hấp dẫn của tập thơ Từ ấy (1937 - 1946) trước hết là sự hấp dẫn của lí tưởng cách mạng. Lí tưởng vẫy gọi thanh niên Tố Hữu lên đường đấu tranh và anh đã hướng theo lý tưởng như hoa hướng dương hướng về phía mặt trời. Nhà thơ nguyện suốt đời phấn đấu cho lý tưởng.

Bài thơ nói lên lý tưởng, nói đến những chuyển biến trong tâm hồn nhà thơ khi được ánh sáng lý tưởng chiếu rọi. Những vấn đề lí tưởng cách mạng được nhà thơ diễn đạt tự nhiên nhuần nhuyễn, bằng tiếng nói của nghệ thuật, bằng hình ảnh âm thanh, bằng tình cảm chân thành nồng thắm.

Nhan đề Từ ấy có ý nghĩa thông báo thời gian. Từ ấy gợi nhớ về thời điểm may mắn thiêng liêng, xúc động khi tâm tư đang Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời thì bắt gặp ánh sáng của Đảng nên tâm hồn nhà thơ bừng lên niềm vui sướng ngất ngây:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Nhà thơ dùng hàng loạt biện pháp tu từ để nói lên những cảm xúc động mãnh liệt khi đón nhận ánh sáng chân lý. Lí tưởng cách mạng là nguồn sáng dịu kí chói chang như ánh nắng mặt trời giữa những ngày hè rực rỡ đã tràn ngập tâm hồn, khơi dậy những tình cảm mới mẻ, những rung động thiết tha, tạo bước ngoặt mới trong đời. Ánh sáng soi đường đi tới tương lai rõ ràng, rộng mở. Từ bừng vừa diễn tả sức mạnh của lí tưởng xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản vừa diễn tả sự bừng tỉnh của nhận thức, giác ngộ về chân lí, lẽ sống lớn. Từ chói cũng góp phần thể hiện sức mạnh chinh phục của lí tưởng, nhanh chóng chiếm lĩnh mọi trái tim, tâm hồn. Tố Hữu đã ví tâm hồn xao động của mình đang chói chang nắng hạ khác nào như một vườn hoa lá đang đậm hương và rộn tiếng chim. Từ đậm và rộn diễn tả mật độ, mức độ dồi dào của sự sống, thể hiện niềm ngất ngây trong men say hạnh phúc. Tâm hồn thật tắm xanh vì tiếp nhận chân lý là tiếp nhận nguồn sống, nguồn năng lượng mới. Một lí tưởng đẹp nổi bật qua hệ thống hình ảnh đẹp.

Lí tưởng đến với nhà thơ, nhà thơ thắp sáng mình trong lí tưởng tạo nên những chuyển biến về tư tưởng tình cảm mở đầu cho những hoạt động đầy ý nghĩa:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời...

Bước chuyển biến đầu tiên của nhà thơ là hòa mình vào quần chúng lao khổ, thông cảm và chia sẻ với những nỗi khổ đau của họ. Nhà thơ đến với họ không phải từ lòng trắc ẩn mà với tình cảm chan chứa yêu thương. Tình cảm được diễn đạt bằng từ ngữ cô đọng hàm súc. Từ buộc diễn đạt một cách sinh động sự gắn bó khăng khít của nhà thơ quần chúng. Từ trang trải gợi lên tình cảm thương mến bao la. Từ khối cho ta hình dung về sức mạnh đoàn kết. Những từ này vừa có tính hình tượng vừa có giá trị biểu cảm. Lí tưởng dẫn (dắt nhà thơ về với cuộc đời, tìm thấy vị trí chỗ đứng trong đời đứng trên lập trường của nhân

Nhịp điệu câu thơ tạo âm hưởng vang vọng, góp phần biểu đạt trạng thái tâm hồn nhà thơ. Lúc này lí tưởng đã mở đôi cánh của tâm hồn. Tâm hồn anh đang lộng gió bốn phương, hướng về trăm ngả. Tâm hồn ấy đang cố gắng vượt ra khỏi cái tôi tầm thường nhỏ bé để thực hiện tâm nguyện cao đẹp nơi cuộc đời rộng lớn:

Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ.
Không áo cơm, cù bất cù bơ...

Điệp từ là cái gạch nối bền chặt, một bên là cái tôi, bên kia là cuộc đời vạn kiếp thương đau. Cán cân bị lệch nên cái tôi nghiêng về chan hòa với cái ta rộng lớn. Lời thơ trang trọng như lời khẳng định tự nguyện đến với quần chúng lao khổ. Khổ thơ đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong tư tưởng tình cảm của nhà thơ. Gắn bó với quần chúng, nhà thơ nguyện làm một thành viên trong đại gia đình của những người ở bậc thang cuối cùng trong xã hội cũ để thức tỉnh họ cùng đấu tranh và tranh đấu vì họ. Nếu khổ thứ hai chủ yếu hướng nội với cái tôi xuất xứ, thì ở khổ thơ này, cái tôi chủ yếu hướng ngoại nhưng cái láng sâu trong tâm hồn người chiến sĩ là tình thương vô hạn đối với thân phận lạc loài, bé nhỏ, bơ vơ: Hai đứa bé, Đi đi em, Một tiếng rao đêm...Hai khổ thơ sau biểu hiện nhân sinh quan cách mạng, tinh thần nhân đạo cộng sản cao đẹp của nhà thơ

Nếu tập thơ Từ ấy là chặng đường thơ của tâm hồn người thanh niên tư sản được giác ngộ và trở thành người chiến sĩ cách mạng thì bài thơ Từ ấy tóm tắt quá trình chuyển biến ấy. Quá trình chuyển biến tình cảm nhận thức diễn tả cô đọng hàm súc trong một bài thơ ngắn gọn đầy hình ảnh và giàu cảm xúc. Nhà thơ vui sướng ngất ngây khi bắt gặp ánh sáng diệu kỳ, ánh sáng chân lý của Đảng và nhà thơ nguyện sẽ là chiến sĩ cách mạng đấu tranh cho quyền lợi của quần chúng công nông. Bài thơ có ý nghĩa như một tuyên ngôn về quan điểm nhân sinh với những nhận thức, tình cảm mới của nhà thơ, trên cơ sở đó là quan điểm nghệ thuật của nhà thơ: Văn chương phục vụ sự nghiệp cách mạng. Thanh niên phải biết lựa chọn và xây dựng lí tưởng sống cao đẹp thì mới có cuộc sống giàu ý nghĩa.

2.4 Cảm nhận của em về niềm vui lớn, lẽ sống lớn và tình cảm của Tố Hữu qua bài Từ ấy - Bài mẫu 4

Tố Hữu - một tiếng thơ trữ tình chính trị xuất sắc của dòng văn học cách mạng Việt Nam, ông đã thổi vào thơ ca cách mạng một luồng sinh khí nồng nàn, rạo rực, hăm hở, tâm huyết của người lính trẻ với chất giọng đằm thắm dịu ngọt của người dân xứ Huế. Bài thơ Từ ấy được trích từ phần Máu lửa của tập thơ cùng tên đã ghi lại những giây phút say mê của tác giả khi bắt gặp lý tưởng cách mạng. Đó không chỉ là cảm xúc vui sướng phấn khởi mà đó còn là phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản muốn hòa nhập cống hiến hết mình cho cuộc đời.

Không phải ngẫu nhiên mà Tố Hữu đặt tên bài thơ là Từ ấy. Sau bao tháng năm "Hoang mang không định trước tương lai" thì đến tháng 7- 1938 người chiến sĩ trẻ đã tìm được con đường lý tưởng cách mạng của cuộc đời mình. Chính vì thế mà cuộc đời đang tối tăm bỗng hóa thành những bình minh cây xanh nắng dội, tâm hồn đang u tối mịt mù bỗng trở nên vui tươi say mê náo nhiệt hẳn lên. Đó phải chăng chính là cái mốc đánh dấu cho sự trưởng thành trong con người nhà thơ. Và đồng thời nó cũng chính là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của ông. Từ đây nhà thơ đã tìm được con đường đi cho chính bản thân mình. Và cũng từ đây ông sẽ chuyên tâm vào con đường cách mạng với Đảng ấy. Nhà thơ không còn phải bâng khuâng đi tìm kiếm lẽ yêu đời yêu cuộc sống này nữa mà từ ấy sẽ mở ra một chân lý một tương lai hứa hẹn hơn:

"Đâu những ngày xưa tôi nhớ tôi
Bâng khuâng đi tìm lẽ yêu đời
Vẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩn
Muốn thoát than ôi thoát chẳng rời"

Ngay từ khổ thơ đầu nhà thơ không thể nào dấu nổi cảm sướng say mê vui sướng của mình khi bắt gặp lý tưởng cách mạng của Đảng. Niềm vui sướng ấy rất chân thành và đầy thành kính:

"Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim... "

Cái khoảnh khắc nhà thơ bắt gặp lí tưởng cách mạng của Đảng thì trong nhà thơ như có ánh nắng hạ sáng soi. Tại sao nhà thơ lại nói so sánh với ánh nắng hạ, là bởi không ánh nắng nào có thể chói chang như ánh nắng mùa hạ. So sánh như thế nhà thơ muốn thể hiện được sức mạnh soi sáng của chân lý cách mạng kia. lý tưởng cách mạng của Đảng đến với người chiến sĩ cộng sản yêu đời nhiệt huyết hăng say ấy có sức sáng soi tâm hồn như xuyên như thấu cả một lý tưởng hoài bão. Ngày nào Tố Hữu còn bâng khuâng đi kiếm lẽ yêu đời thì bây giờ tâm hồn ấy được xác định một cách chắc chắn nhất về lý tưởng. Ánh sáng chân lý như chói qua tim người chiến sĩ. Một lần nữa nhà thơ lại dùng hình ảnh mặt trời để nói đến chân lý ấy. Có thể nói một chân lý mà nhà thơ dùng đến hai hình ảnh mang sức gợi tả đó là nắng hạ và mặt trời để nhằm thể hiện lên sức mạnh soi sáng tâm hồn của lý tưởng của Đảng.

Và trong thâm tâm người chiến sĩ ấy thì lý tưởng ấy giờ đây trở thành một chân lý của bản thân mình. Không thể giấu nổi sự say mê vui vẻ ấy, tâm hồn của nhà thơ giống như một vườn hoa lá đầy màu sắc. biện pháp so sánh ấy khiến cho chúng ta thấy được niềm vui của nhà thơ đang nảy nở giống như một khu vườn tươi tốt đầy màu sắc của nhiều loại cây. Không những thế trong khu vườn ấy còn có cả những âm thanh, đó là tiếng chim rộn ràng. Tiếng hót ấy hay chính là những khúc nhạc vui tươi réo rắt trong lòng người chiến sĩ khi không còn những ngày bâng khuâng kiếm lẽ yêu đời nữa. Khu vườn ấy lại còn đậm hương thơm, đó phải chăng là sự thơm thảo của tấm lòng con người muốn cống hiến hết mình cho Tổ quốc. Như vậy có thể nói qua khổ thơ đầu ta thấy được niềm vui ngập tràn trong lòng người chiến sĩ khi bắt gặp lý tưởng cách mạng của Đảng. Niềm vui tràn ngập hân hoan như réo rắt ngân vang tràn đầy khí thế sinh sôi như khu vườn hoa lá nọ.

Sang khổ thơ thứ hai nhà thơ thể hiện sự hòa nhập giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung:

"Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời. "

Từ "buộc" ở đây khi nghe thì ta sẽ hiểu là trói buộc nhưng không phải vậy. Nếu như nhà thơ dùng với nghĩa trói buộc thì hóa ra ông bị ép buộc à, trong khi ôn nhiệt huyết hi vọng cống hiến cho nhân dân đất nước. Nhà thơ sử dụng từ buộc ở đây nhằm thể hiện sự tự nguyện gắn kết bản thân mình với nhân dân, với mọi người. Cái tôi cá nhân không sống độc lập một mình nữa mà sống gắn kết với nhân dân đồng bào mình. Sự gắn kết ấy sẽ làm nên những sợi dây vô hình không những đem lại sự đoàn kết của một dân tộc mà nó còn mang để cho tình cảm ấy trang trải trăm nơi. Tất cả những điều ấy làm nên những tình cảm tốt đẹp của một dân tộc. Thi sĩ đồng cảm với những người khốn khổ hơn mình, gần gũi nhau để cho mạnh mẽ vượt qua cuộc sống, cuộc chiến tranh ác liệt này. Nhà thơ bắt gặp lý tưởng cách mạng và cũng từ đó nhà thơ thấy được sự gắn kết với mọi người. "khối đời" thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc của ta. Tâm hồn người cộng sản đồng điệu với tâm hồn của những con người khổ để từ đó thấy được lá lành đùm lá rách của nhân dân ta.

Cũng chính vì lý tưởng soi sáng ấy mà nhà thơ nhận ra được những tình cảm với mọi người trong cuộc chiến cũng như trong cuộc sống này:

"Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ. . . "

Buộc mình với nhân dân mọi người Tố Hữu nhận thức được mình đã là con của vạn nhà, là anh em của kiếp con người chịu nhiều đau thương mất mát. Cả nhưng em nhỏ không áo cơm cù bất cù bơ nữa. Điệp từ "là" các thể hiện sự khẳng định chắc nịch của nhà thơ về sự nhận thức tình cảm của mình. các từ "anh", "em", "con" là những từ xưng hô trong một gia đình kết hợp với những từ chỉ số từ bé đến lớn như "Vạn", "đầu" đã thể hiện được trong tâm hồn, trong nhận thức của Tố Hữu thì ngoài gia đình nhỏ của mình thì anh còn có cả một đại gia đình lớn đó là tất cả những con người Việt Nam. Chính vì thế mà anh ý thức được trách nhiệm của mình với họ. Anh là con của tất cả những gia đình trên đất nước, là anh em trong một đại gia đình. Nhà thơ xưng hô như thế và tự nhận thấy trách nhiệm của cá nhân mình với những kiếp phôi pha khổ cực, với những em nhỏ không cha không mẹ không chốn nương thân.

Tóm lại khi bắt gặp được lý tưởng cách mạng của Đảng thì Tố Hữu đã không còn một thời đi kiếm lẽ yêu đời nữa mà anh đã tìm thấy chân lý cuộc đời mình. Bài thơ từ ấy như thể hiện được niềm vui sướng của người chiến sĩ bắt gặp lý tưởng cách mạng Đảng. Đồng thời cũng qua đó Tố Hữu nhận thức được những tình cảm và trách nhiệm với đại gia đình lớn của mình.

2.5 Cảm nhận của em về niềm vui lớn, lẽ sống lớn và tình cảm của Tố Hữu qua bài Từ ấy - Bài mẫu 5

Tố Hữu là một trong những nhà thơ đi đầu trong nền thơ ca Cách mạng Việt Nam. Ông có nhiều tuyển tập các bài thơ về lòng yêu nước, về lý tưởng Cộng sản, một trong số đó là tác phẩm Từ ấy. Từ ấy là bài thơ viết về niềm vui, những sự thay đổi về lẽ sống và tình cảm của một thanh niên trẻ khi anh tìm ra được lý tưởng sống của cuộc đời mình và được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Bài thơ được nằm trong tập thơ mang tên Máu lửa, miêu tả lại những cảm xúc của Tố hữu những ngày đầu tiên được tham dự vào hàng ngũ Cách mạng - dấu ấn quan trọng của cuộc đời ông. Bài thơ là những xúc cảm vừa vui sướng vừa nghẹn ngào khi tìm thấy được chân lý của cuộc đời mình. Ba khổ thơ bộc lộ ba quan điểm của tác giả, niềm vui lớn lao, lẽ sống lớn và tình cảm lớn của Tố hữu.

Bước vào khổ thơ thứ nhất, đọc những dòng thơ đầu tiên, người ta có thể nhận thấy một niềm vui lan tỏa mạnh mẽ qua từng vần thơ, từng nhịp điệu thơ của Từ ấy:

"Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim"

Đọc thơ mà người đọc như đang được nghe kể về một câu chuyện của chính nhà thơ với lối thơ tự sự, nhịp điệu chậm rãi đầy xúc cảm. Hai câu thơ đầu tiên thể hiện niềm vui sướng đến ngỡ ngàng của một thanh niên trẻ khi tìm ra lý tưởng của cuộc đời mình. Ông viết:

"Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim"

Tố Hữu được sinh ra trong một gia đình khá giả, ông trở thành một người trí thức tiểu tư sản trong giai cấp xã hội, có lẽ vì thế mà đến tận những năm mười tám tuổi, ông vẫn chưa thể tìm ra được con đường đi đúng đắn cho mình. Người thanh niên trẻ ấy loay hoay giữa cuộc đời, băn khoăn tìm cho mình một dòng nước, một con đường:

"Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước

Chọn một dòng hay để nước cuốn trôi"

Và chính ngay lúc ấy, ông bắt gặp được lý tưởng Cộng sản - lý tưởng đã đưa ông tìm ra chân lý của cuộc đời mình. Và cũng chính từ giây phút đó, tâm hồn ông bừng lên những xúc cảm tươi vui, rộn rã. Ông ví von ánh sáng của Cách mạng như thứ ánh "nắng hạ" vô cùng rực rỡ, vô cùng chói lọi soi tỏ trái tim, tâm hồn của ông. "Nắng hạ" là cách nói ẩn dụ, ví như nguồn nhiệt lượng dồi dào, bừng cháy mạnh mẽ trong tâm hồn của nhà thơ chính từ "từ ấy". "Từ ấy" là một từ ngữ ước định thời gian, không rõ khoảng nào, không phải thứ hai, cũng chẳng phải ngày mấy, nó là một từ ngữ định lượng về thời gian, chỉ phiếm chỉ một khoảng thời gian nhất định trong đời người. Thế nhưng chính từ giây phút ấy, con người nhà thơ đã biến chuyển khi ông được tiếp nhận thứ "nắng hạ" chói chang soi tỏ tâm hồn mình và trong ông, bừng lên một niềm vui to lớn. Đặt "nắng hạ' là hình ảnh ẩn dụ cho lý tưởng Cách mạng, Tố Hữu còn muốn khẳng định, ngợi ca thứ sức mạnh to lớn mà lý tưởng Cộng sản đã mang đến cho ông, bao trọn lấy con người ông. Cùng với các động từ mạnh như "bừng, chói", nhà thơ muốn thể hiện một sự đột ngột khi nguồn sáng rực rỡ ấy chiếu rọi vào tâm hồn mình, nhấn mạnh sự biến chuyển đột ngột, mạnh mẽ trong tâm hồn của Tố Hữu.

Không chỉ ẩn dụ với hình ảnh "nắng hạ", Tố Hữu còn so sánh lý tưởng Cách mạng như một mặt trời thứ hai soi sáng con đường đi của mình:

"Mặt trời chân lý chói qua tim".

Hình ảnh "mặt trời chân lý" là hình ảnh ẩn dụ cho lý tưởng Cách mạng, là nguồn sáng thứ hai chiếu lên cuộc đời đang còn băn khoăn, lạc lối của ông, để ông tìm thấy cho mình một con đường đi đúng đắn.

Mỗi câu thơ như một niềm cảm xúc vui mừng vỡ òa trong xúc cảm, ở đó, người ta thấy có một sự rưng rưng xúc động, biết ơn của Tố Hữu trước thứ ánh sáng Cách mạng chói chang. Đó là niềm vui mà ông có khi thực sự bước vào cuộc đời.

Và để làm rõ hơn cái niềm vui to lớn ấy, ông đã viết nó lên hai câu thơ tiếp theo, hai câu thơ với những từ ngữ tươi vui, với những màu sắc thực sự tươi sáng:

"Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim"

Niềm vui của Tố Hữu nảy nở trong tâm hồn ông, biến nó trở thành một khu vườn với đủ sắc màu, mùi hương, âm thanh rực rỡ. Ở đây, Tố Hữu đã sử dụng lối thơ vắt dòng để truyền tải cái cảm xúc vui mừng của mình đang trào dâng lên trong lòng. Mượn hình ảnh của một khu vườn với âm thanh rộn rã, với sức màu rực rỡ, nhà thơ muốn khẳng định niềm vui khi được lý tưởng Cộng sản soi đường. Khu vườn ấy của nhà thơ thật rộn rã với tiếng chim hót véo von, thật ngát hương với muôn loài hoa thắm. Phải hạnh phúc biết bao, vui sướng biết bao mới có thể có được một sự so sánh độc đáo đến nhường này?

Ở khổ thơ thứ nhất, Tố Hữu đã diễn tả niềm vui sướng vô bờ của mình khi bắt gặp được lý tưởng Cách mạng. Niềm hạnh phúc, hân hoan cứ trào dâng trong từng câu chữ mà khi đọc lên, người đọc cũng cảm nhận được niềm vui ấy lan tỏa đến tận tâm hồn của mình. Và ông đã diễn tả nó thật ấn tượng, thật độc đáo, mới lạ, vừa nhấn mạnh được sự biến chuyển của bản thân vừa khẳng định được sức mạnh to lớn của lý tưởng Cộng sản.

Và cũng bắt đầu từ khi ấy, Tố Hữu cũng đã tìm được cho mình một lẽ sống lớn ở đời. Quay ngược thời gian về trước đây, khi Tố Hữu còn là một thanh niên tiểu tư sản, mang trong mình một cái tôi lớn. Tầng lớp tiểu tư sản là những thanh niên trí thức, đứng trên lớp người lao động cần lao, và có lẽ vì thế mà ông mới không hiểu được cuộc đời, loay hoay giữa những con đường đời. Thế nhưng, từ khi bắt gặp lý tưởng cách mạng, ông đã hiểu được lẽ sống của đời mình, đó là hòa cái tôi riêng của mình vào cái tôi chung của toàn xã hội, vào với mọi tầng lớp con người ở đời, sống gắn bó, hòa nhập với mọi người. Đây chính là lẽ sống lớn mà ông tìm được sau niềm vui bắt gặp lý tưởng cuộc đời mình.

Và cứ như vậy, cả đời mình, Tố Hữu đang dâng hiến hết lòng cho cái lẽ sống ấy. Ông viết trong Từ ấy:

"Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời"

Ở đây, Tố Hữu sử dụng động từ "buộc" và nhấn mạnh "tôi buộc", đây là một hành động tự nguyện, thể hiện sự quyết tâm của chàng thanh niên trẻ khi gắn bó cuộc đời của mình vào cuộc đời của những con người cùng khổ. "Buộc" - đó như sự gắn kết, như một kết nối những con người với nhau, Tố Hữu đã không còn là một chàng thanh niên tiểu tư sản, sống ở tầng lớp trên nữa mà ông đã hòa mình vào với những con người lao động ngoài xã hội kia, để mà yêu thương mà trân trọng họ.

Không chỉ thế, ông còn muốn trải tấm chân tình của mình ra để nó tới được với muôn người:

"Để tình trang trải với trăm nơi"

Động từ "trang trải" thể hiện một sự chủ động san sẻ những yêu thương của mình tới với khắp nơi trên mọi miền Tổ quốc. Ông muốn được gắn bó, được sẻ chia, được lan tỏa những yêu thương tới với mọi người, để đồng cảm với những con người lao động nghèo khổ. Cũng từ sự san sẻ này, ông muốn kết nối những con người khắp "trăm nơi" ấy thành một khối vững chắc bằng tinh thần đoàn kết, sự gắn bó keo sơn và tình yêu thương dành cho quần chúng lao động. Hình ảnh "khối đời" thể hiện sự liên kết chắc chắn, là ẩn dụ cho khối những con người đông đảo, cùng cảnh ngộ , cùng nhau chung sức chung lòng , chung lý tưởng, cùng nhau phấn đấu vì mục tiêu chung.

Ở khổ thơ này, Tố Hữu đã viết lên những dòng thơ thể hiện lẽ sống lớn của cuộc đời mình: đó là được san sẻ yêu thương, được gắn bó và gần gũi với quần chúng lao động, được hòa mình vào với những tầng lớp con người lao động, chia sẻ với nhau, phấn đấu cùng nhau vì lý tưởng Cách mạnh, vì độc lập, tự do của dân tộc.

Thế nhưng, nếu nói Từ ấy của Tố Hữu chỉ thể hiện niềm vui sướng của ông, thể hiện lẽ sống lớn của ông thì dường như là chưa đủ, bởi nó còn chứa cả một thứ tình cảm lớn lao mà ông dành cho tầng lớp lao động nữa.

"Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm cù bất cù bơ'

Tố Hữu đã tự nhận mình "là con, là em, là anh" của "vạn kiếp, vạn nhà, vạn đầu em nhỏ" trong xã hội. Ông muốn biến mình trở thành một phần trong đại gia đình lớn của dân tộc, muốn trở thành ruột thịt với tất cả các giai cấp trong xã hội và hơn thế, ông muốn được gánh trên vai một phần trách nhiệm với mọi người. Tố Hữu muốn mọi người hiểu rằng hành động của ông là hành động của một người thân trong gia đình, mang ý nghĩa trách nhiệm, sự giúp đỡ chứ không phải hành động ban ơn cho kẻ khác. Ông cũng sử dụng ở trong đoạn thơ này hai từ "đã là", điệp từ này lặp đi lặp lại như muốn nhấn mạnh tình cảm mà nhà thơ dành cho mọi người đã có từ rất lâu, ông cũng đã trở thành một phần của đại gia đình đó từ rất lâu rồi chứ không phải mới nữa.

Tố Hữu đã vượt qua giới hạn của giai cấp để hòa mình vào trong thế giới của những con người lao động một cách chân thành, tự nhiên nhất. Vượt qua khoảng cách giữa giai cấp tiểu tư sản với giai cấp vô sản, tình cảm của Tố Hữu không chỉ còn ở cái tôi nữa mà đã hòa vào với cái chung lớn của quần chúng lao động, của dân tộc Việt Nam. Đây chính là sự chuyển biến mới về tình cảm lớn trong tâm hồn của Tố Hữu sau khi bắt gặp được lý tưởng Cách mạng.

Qua Từ ấy, Tố Hữu đã thể hiện một niềm vui lớn, một lẽ sống lớn và một tình cảm lớn của cuộc đời mình. Niềm vui lớn là khi chàng thanh niên trẻ ở tuổi mười tám loay hoay đi tìm đường đi cho cuộc đời thì bắt gặp được thứ ánh sáng Cách mạng chói lòa chiếu rọi và điều đó đã khiến ông vui mừng khôn xiết, một niềm vui rạng rỡ cả tâm hồn. Về lẽ sống lớn, ông đã thay đổi quan điểm sống của mình. Bởi trước khi khi còn là một thanh niên tiểu tư sản, ông sống vì bản thân, vì cái tôi của mình thì giờ đây, ông hòa mình vào với tầng lớp khổ lao để san sẻ, gắn bó, yêu thương hết thảy những con người ấy. Về tình cảm lớn, ở đây, đó là sự biến chuyển về mặt xúc cảm của Tố Hữu, ông tự nhận mình là một người thân, một phần trong đại gia đình những con người ở xã hội, trở thành ruột thịt với những con người vô sản ấy.

Về mặt nghệ thuật, Tố Hữu đã rất thành công khi xây dựng những hình ảnh ẩn dụ hết sức tinh tế, những lời thơ giản dị, chân thành hết mực. Ngôn từ trong thơ cũng dung dị, nhiều sức gợi, bộc lộ tư tưởng Cách mạng sâu sắc.

Bài thơ Từ ấy thể hiện được niềm hân hoan vui sướng của người thanh niên trẻ, thể hiện một lẽ sống lớn lao, một tình cảm lớn. Từ ấy đánh dấu một cột mốc quan trọng trong cuộc đời của người thanh niên Tố Hữu để từ đó ông trở thành một phần của Cách mạng, một phần của đại gia đình những con người lao động. Bài thơ cũng đánh dấu sự trưởng thành trong hồn thơ dạt dào của Tố Hữu, xứng đáng là một trong những bài thơ hay nhất của ông.

----------------------

Trên đây VnDoc đã tổng hợp các bài văn mẫu Cảm nhận của em về niềm vui lớn, lẽ sống lớn và tình cảm của Tố Hữu qua bài Từ ấy cho các bạn tham khảo ý tưởng khi viết bài. Ngoài ra các bạn có thể xem thêm chuyên mục Soạn văn 11 mà VnDoc đã chuẩn bị để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 11 và biết cách soạn bài lớp 11 các bài Tác giả - Tác phẩm Ngữ Văn 11 trong sách Văn tập 1 và tập 2. Mời các em học sinh, các thầy cô cùng các bậc phụ huynh tham khảo.

Các bài liên quan đến tác phẩm:

Đánh giá bài viết
1 12.456
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Văn mẫu lớp 11 Xem thêm