Cảm nhận về đoạn trích "Lẽ ghét thương" của Nguyễn Đình Chiểu

Văn mẫu lớp 11: Cảm nhận về đoạn trích "Lẽ ghét thương" của Nguyễn Đình Chiểu gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

Dàn ý cảm nhận về đoạn trích "Lẽ ghét thương" của Nguyễn Đình Chiểu

1. Mở bài

- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu

- Giới thiệu khái quát về đoạn trích Lẽ ghét thương

2. Thân bài

* Vài nét khái quát về tác phẩm:

- Xuất xứ: Lẽ ghét thương là đoạn trích nằm ở phần đầu của tập truyện thơ "Lục Vân Tiên"

- Nội dung chính: Cuộc gặp mặt, trò chuyện của ông Quán và bốn chàng nho sinh đi thi, qua đó thấy được lẽ ghét thương phân minh của nhân vật ông Quán (hay chính là hóa thân của tác giả)

* Cảm nhận về 4 câu thơ đầu: "Quán rằng... hay thương"

- Quan điểm của ông Quán - người đã trau dồi mài kinh sử cũng học và thi trước sự ngụy biện của hai tên Trịnh Hâm và Bùi Kiệm khi bị thua trong cuộc so tài: "Vì chưng hay ghét cũng là hay thương"

* Cảm nhận về 12 câu tiếp theo: "Tiên rằng... lằng nhằng dối dân": Tầm hiểu biết sâu rộng của ông Quán khi ông bàn về "lẽ ghét"

- Ghét việc tầm phào: Những việc chẳng có nghĩa lí gì, chẳng đâu vào đâu

- Ông đưa ta điển cổ, điển tích để chứng minh:

+ Đời Kiệt, đời Trụ: Hoang dâm vô độ, không chăm lo cho nhân dân để dân rơi vào cuộc sống cùng cực

+ Đời U, đời Lệ: "đa đoan" lắm chuyện rắc rối khiến dân chúng không khỏi lầm than

- Nghệ thuật: Điệp từ "ghét" 8 lần, điệp từ "dân" 4 lần

=> Khẳng định "lẽ ghét" và tình yêu thương muôn dân của ông Quán hay cũng chính là của tác giả.

* Cảm nhận về 14 câu tiếp: "Thương là thương đức thánh nhân... đuổi về nhà giáo dân"

- Niềm thương xót của ông Quán cho những bậc hiền tài của đất nước:

+ Thánh nhân Khổng Tử lậ đận trong việc truyền đạo

+ Thầy Nhan Tử tài đức nhưng cuộc đời kết thúc quá sớm

+ Gia Cát Lượng, Đồng Tử, Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc đều là người tài giỏi, mưu trí, học cao hiểu rộng nhưng không gặp thời

- Nghệ thuật điệp từ, liệt kê thể hiện rõ tấm lòng yêu thương da diết đầy tính bác ái của tác giả đối với những người tài giỏi nhưng bạc mệnh.

* Cảm nhận về hai câu cuối bài thơ: "Xem qua... lại thương"

- Nửa phần "ghét" kết hợp với nửa phần "thương": Thái độ dứt khoát của ông Quán

- Sự ghét - thương luôn tồn tại song song dù nó có trái ngược nhau nhưng đều bắt đầu từ "thương" - nguồn của tình cảm

3. Kết bài

- Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Lẽ ghét thương

- Nêu suy nghĩ, cảm xúc của bản thân.

Cảm nhận về đoạn trích "Lẽ ghét thương" của Nguyễn Đình Chiểu mẫu 1

Nguyễn Đình Chiểu là tiêu biểu cho một nhân cách cao đẹp trong bối cảnh đất nước loạn lạc, chế độ phong kiến suy tàn, đế quốc xâm lược. Ở con người vĩ đại ấy, trước hết ta thấy được cái ý chí nghị lực phi thường vượt qua số phận nghiệt ngã. Sau là thấy được cái tấm lòng chính nghĩa thể hiện trong văn, thơ một cách thật thâm thúy và sâu sắc. Đọc thơ văn của ông, người ta rút ra được những bài học về đạo đức, về tấm lòng yêu nước thương dân của một nhà nho chân chính. Lại cũng phân biệt được đâu chính, đâu tà, thế nào là thương, ghét, thế nào biểu dương, phê phán. Một ví dụ tiêu biểu nhất cho những lời tâm huyết ấy của Nguyễn Đình Chiểu chính là đoạn trích Lẽ ghét thương thuộc truyện thơ Lục Vân Tiên.

Chẳng ngẫu nhiên mà nhân vật ông Quán trong đoạn trích ngắn này lại được nhiều người yêu mến đến vậy. Đọc những vần thơ phân tích lẽ ghét, lời thương của ông Quán ta mới thấu hiểu được ẩn chứa trong đó là những lời tâm huyết nhất của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu. Ông luôn viết văn, thơ bằng một ngòi bút chân chính, thẳng thắn, chẳng bao giờ ngại ngùng và hơn tất cả suy cho cùng tấm lòng người thầy ấy vẫn luôn hướng về nhân dân. Sâu xa cái lẽ ghét, thương của ông Quán cũng bắt nguồn từ việc coi nhiều sử sách, với cái cốt cách nho gia khi xưa thì rất dễ thấu hiểu và phải thốt lên rằng: "Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa". Bởi âu những chuyện trong sử sách chẳng bao giờ dối gian, ông Quán thấy nhiều bất công, đau đớn trải dài mấy ngàn năm lịch sử, thì trở nên đau buồn hơn cả. Từ đó, ông đã rút ra một câu hết sức tâm đắc, có thể nói đây là linh hồn của cả đoạn trích và cũng là căn nguyên của nỗi ghét, niềm thương, ấy là: "Vì chưng hay ghét cũng là hay thương". Và tất nhiên khởi đầu như thế chẳng ai hiểu được ý nghĩ của ông Quán, chẳng thế mà Lục Vân Tiên mới phải xin ông Quán giải thích. Ngay từ những lời đầu, nhân vật này đã thể hiện cái sự ghét của mình một cách rất sâu sắc. Ông ghét "chuyện tầm phào", suy rộng ra thì ghét những kẻ mồm năm miệng mười, chuyên buôn chuyện, dựng chuyện nhảm nhí, vô nghĩa. Cái sự ghét của ông nó tăng tiến dần dần, chẳng phải chỉ ghét khơi khơi, mà là "ghét vào tận tâm", cái ghét đã ăn vào máu và linh hồn, chẳng bao giờ thay đổi được. Ông Quán ghét những cái rộng lớn, tầm vóc ấy là nỗi căm ghét các triều đại thối nát suy tàn, "ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm", "ghét đời U, Lệ đa đoan", "ghét đời Ngũ bá phân vân", "ghét thúc quý phân băng". Ông Quán ghét những triều đại mà vua quan chỉ lo ăn chơi sa đọa, chìm đắm tửu sắc, tranh quyền đoạt lợi, trọng dụng nịnh thần để đất nước phải lầm than, nhân dân phải đói khổ vật vã. Âý chính là cái lẽ ghét cũng là do thương mà ra cả, ông Quán thương xót cho số phận dân đen phải lao đao cực khổ, phải chịu nhiều vất vả chỉ vì cái thú sa đọa của triều đình xưa. Chính vì cái tình thương cao cả như vậy nên cái ghét bỏ của ông Quán, hay là Nguyễn Đình Chiểu cũng mang tầm vóc lịch sử như thế.

Khác với lẽ ghét, nếu Nguyễn Đình Chiểu chỉ chung các triều đại xa xưa, thì ở lẽ thương ông lại nói về các cá nhân, các bậc thánh nhân với một nỗi niềm tiếc hận. Ông thương cho Khổng Tử, người khai sinh ra nền Nho giáo với nhiều tinh hoa tốt đẹp, ấy thế mà chẳng phải thời vận. Dù đã bôn ba gắng sức truyền bá, nhưng kết quả chẳng mấy ai hưởng ứng, mang lại một nỗi hụt hẫng, chán chường vì không tìm được người chung chí hướng. Rồi lại thương cho thầy Nhan Tử, cũng là thương cho lớp những bậc anh tài đoản mệnh, chưa đóng góp được cho đời đã phải lìa xa nhân thế. Ông Quán thương cả cho những bậc cao nhân khi xưa như Gia Cát Lượng, Đổng Trọng Thư, Đào Uyên Minh, Hàn Dũ, Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di. Tất cả họ đều là những bậc kỳ tài, nhân cách cao cả, tuy nhiên kẻ thì không gặp thời, người không được trọng dụng, thế nên dù có biết bao tài năng đi nữa thì cũng phải chịu cảnh tàn lụi, tài năng bị chôn vùi. Điều ấy để lại cho hậu thế về sau biết bao cảm xúc, vừa thương tiếc lại cũng vừa ngưỡng mộ, xót xa. Tuy ông Quán không đề cập, nhưng chắc hẳn sâu trong tâm khảm ông là nỗi mong ước đất nước có những bậc kỳ tài như thế, lại có những vị vua anh minh, để họ có cơ hội ra phò vua giúp nước, để nhân dân có một cuộc sống tốt đẹp hơn, chứ không phải chịu cái cảnh lầm than cơ cực.

Đọc đoạn trích Lẽ ghét thương, ta càng thêm thấm thía cái nhân cách cao đẹp của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu. Bằng ngòi bút của một nhà nho chân chính, một người quân tử đức hạnh, lẽ ghét thương đã được khai thác một cách rạch ròi, sáng tỏ tựa như tấm lòng của tác giả. Thông qua đó, ta càng thêm thấu hiểu tấm lòng yêu nước thương dân, tấm lòng yêu thương, ca ngợi những con người có nhân cách và tài năng tốt đẹp của Nguyễn Đình Chiểu. Cùng với đó là tấm lòng căm ghét cái nhiễu nhương rối ren của triều đình phong kiến xưa, tuy Nguyễn Đình Chiểu không trực tiếp nói ra nhưng đọc thơ ta có thể nhận thấy rõ ràng những lời phê phán ấy.

Cảm nhận về đoạn trích "Lẽ ghét thương" của Nguyễn Đình Chiểu mẫu 2

Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học trung đại Việt Nam. Các sáng tác của ông đã thể hiện rõ quan điểm nghệ thuật:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

Đặc biệt vấn dề về đạo đức của con người được nhà thơ quan tâm và thế hiện ở nhiều góc độ. Và Lục Vàn Tiên là tác phẩm tiêu biểu cho vấn đề này. Đó là điều cốt lõi, là khát vọng xây dựng mối quan hệ bè bạn giữa người với người. Trong hệ thống nhân vật lí tưởng của tác phẩm, ông Quán là một nhân vật hấp dẫn. Đó là một nhà Nho ở ẩn, thực chất cũng chính là bản thân Đồ Chiểu tự bộc bạch tình cảm của mình trước sự đời.

Lục Vân Tiên không phải là tác phẩm đề cao trung, hiếu, tiết, hạnh mà là tác phẩm đề cao nhân nghĩa và phê phán tất cả những cái gì là bất nhân, bất nghĩa. Bao trùm tác phẩm là những tình cảm rất đẹp đẽ, hổn nhiên của những con người biết cứu giúp nhau trong hoạn nạn, yêu thương nhau lúc khó khăn, những con người sống chí tình chí nghĩa. Ngòi bút của nhà thơ bao giờ cùng sôi nổi, tràn đầy yêu thương. Viết Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu như có ý muốn nêu lên những tấm gương về luân lí đạo đức. Mà nói đến đạo đức phong kiến thì đều cơ bản là ái quốc. Trung quân là trung với nước, với lẽ phải, với lương tri con người.

Đoạn trích Lẽ ghét thương trong Lục Vân Tiên gồm hai mươi sáu câu thơ lục bát, là lời của ông Quán. Trong lời ông Quán ta thấy rõ tư tưởng trung quân của Nguyễn Đình Chiểu trước hết không phải xuất phát từ vua mà từ dân, từ lợi ích của dân. Nhà thơ thấy chỉ có thể trung với những ông vua tốt, biết chăm lo cho dân, chứ đối với những tên vua xấu, vua ác làm hại dân, gây đau khổ cho dân thì ông lên án gay gắt. Bởi vậy cái ghét, tình thương của ông xuất phát từ một tấm lòng yêu thương sâu xa nồng thắm:

Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương.

Lẽ ghét thương là những lời tâm huyết về nỗi ghét, tình thương nhân bản của Nguyễn Đình Chiểu. Trong đoạn trích nói về lẽ ghét thương có hai mươi sáu câu thì trong đó có mười câu nói về lẽ ghét, mười sáu câu nói về tình thương, về lẽ thương (dài gần gấp đôi so với lời nói về ghét). Ta thấy căn nguyên, gốc rễ của cái ghét: ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm, những cái tầm phào, những cái đa đoan, những cái dối trá, những cái mê dâm là vì chúng làm dối dân, làm dân nhọc nhằn, dân luống chịu lầm than muôn phần, làm dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Như vậy căn nguyên của cái ghét là bởi vì tình thương sâu sắc đối với người dân. Những kẻ có quyền, có ô lọng đã lợi dụng chỗ dựa để lừa gạt, làm hại dân... Thực ra là những ông vua bạo ngược, những kẻ kéo bè kéo phái gây chiến tranh hại dân... đời Kiệt, Trụ; đời U, Lệ; đời Ngũ Bá, đời Thúc, Quý.

Trong số mười câu thơ nói về lẽ ghét thì bốn câu có từ dân nói về nỗi khổ của dân:

Đề dân đến nồi sa hẩm sẩy hang.

Khiến dăn luống chịu lẩm than muôn phần.

Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn.

Sớm đâu tối đánh lằng nhằng dối dân.

Nỗi ghét được giãi bày sâu đậm, cao độ. Bằng việc sử dụng điệp từ ghét trong câu thơ tám tiếng:

Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.

Đã diễn tả thái độ căm thù, khinh bỉ cực sâu. Đặc biệt nghệ thuật tăng cấp: cay - đắng - vào tận tâm tả cụ thể màu sắc, mùi vị và độ sâu tăng dần của cái ghét: Từ cái ghét có vị cay, sang cái ghét có vị đắng, đến cái ghét có độ sâu của lòng người: ghét vào tận tâm. Như vậy, nhà thơ đã vận dụng quy luật chuyển đổi cảm giác: Từ vị giác (cay - đắng kết hợp với từ ghét tạo nên một thứ cảm xúc đặc biệt ghét cay, ghét đắng, đến ghét vào tận tâm. Với cách diễn đạt tăng cấp này; Nguyễn Đình Chiểu cho thấy cái ghét của ông Quán chính là lòng căm cao độ, sâu cay. Ông căm thù tất cả những kẻ làm tổn hại đến cuộc sống, hạnh phúc của nhân dân. Chính điều này đã thể hiện rõ tính nhân dân sâu sắc của thơ Đồ Chiểu).

Từ lẽ ghét, ông Quán bộc lộ tình thương bao la. Lời tự bạch của ông qua mười sáu câu thơ đã tỏ rõ thái độ kính yêu, trân trọng và tấm lòng cảm thương sâu sắc với những bậc hiền tài, đức hạnh, những người làm việc giúp dân. Mở đầu là ông nói tình thương của mình đối với Khổng Tử vất vả, gian lao trong công việc truyền đạo Nho:

Thương là thương đức thánh nhân

Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông.

Sau đó ông bộc lộ tình thương với thầy Nhan Tử, với Gia Cát, Đổng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Dũ, Liêm, Lạc. Đó là những hiền nhân, quân tử, kiểu mẫu của dạo Nho, muốn hành đạo giúp vua cứu đời, cứu dân nhưng rút cục là gặp bất hạnh hoặc chết yểu, hoặc không được vua tin dùng... mơ ước và nguyện vọng hành đạo, cứu đời, cứu dân của họ không thành. Như vậy tình thương của ông Quán với những bậc quân tử cuối cùng cũng bởi tình thương dân, vì thương dân mà thương những người bị thất bại trong việc cứu giúp dân.

Nếu đoạn thơ mười câu nói về lẽ ghét của ông Quán thì ở đoạn thơ mười sáu câu ông Quán lại bộc lộ lòng thương yêu trực tiếp đối với những người có tài cao, chí lớn, muốn cứu đời, giúp dân... mà gặp rủi ro bất trắc nên nguyện vọng cứu đời, cứu dân không thực hiện được trọn vẹn.

Đoạn thơ mười sáu câu đã thể hiện rõ tính chất bác ái, nhân bản bao la. Vẫn là nghệ thuật điệp từ thương lặp lại 9 lần với những cặp câu đối xứng hài hòa. Đặc biệt, mở đầu đoạn thơ nhà thơ dùng hai từ thương: Thương là thương đức thánh nhân. Từ thương lặp lại nhiều lần đã biểu hiện niềm yêu thương tha thiết của ông Quán đối với Khổng Tử khi gặp gian nan, vất vả trên đường hành đạo.

Lòng thương của ông Quán rộng lớn bao la, thương cả những người chết yểu khi công danh còn dang dở:

Thương thầy Nhan Tử dở dang

Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.

Thương cả những người không gặp may trên đường đời:

Thương ông Gia Cát tài lành

Gặp cơn Hán mạt đã đành phui pha.

Và cả những người bị oan khiên bị giáng chức, ngồi tù: Đổng Tử, Nguyên Lượng.. Từ tình thương những người cụ thể, ông Quán bộc lộ tình thương đến số phận cay đắng của con người trước những quy luật khắc nghiệt của tạo hóa và xã hội. Đó cũng chính là tình cảm gắn bó máu thịt với nhân dân mà cốt lối là mong cho dân tộc được hạnh phúc, bình an.

Đoạn trích có bố cục chặt chẽ, mạch lạc và lô-gích. Có câu mở dầu nói về nỗi ghét:

Quản rằng: Ghét việc tầm phào

Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.

Đối lập lại là những câu nói về tình thương và cũng có câu mở đầu:

Thương là thương đức thánh nhân

Kết cho cả hai đoạn là câu nói về cả ghét - thương:

Xem qua kinh sử mấy lần

Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương.

Những điệp từ ghét - thương trong các ý nhỏ vừa tách biệt, vừa liên kết các ý đã làm cho đoạn thơ liền mạch, chặt chẽ... tạo nên giọng thơ vừa trang nghiêm, vừa thống thiết xót xa.

Thông qua lời ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu đã giãi bày tâm huyết của mình về lẽ ghét, tình thương với con người. Lời giãi bày đó thể hiện được quan điểm đạo đức yêu - ghét trước cuộc đời mà xuất phát của tình cảm đó là bởi vì cuộc sống của nhân dân. Bởi vậy có thể khẳng định tư tưởng cốt lõi của đoạn trích là ở tấm lòng yêu thương nhân dân sâu sắc, tha thiết của nhà thơ.

Cảm nhận về đoạn trích "Lẽ ghét thương" của Nguyễn Đình Chiểu mẫu 3

Nguyễn Đình Chiểu là một trong số những tác giả tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam với nhiều tác phẩm xuất sắc, thể hiện rõ tư tưởng nhân nghĩa và lòng yêu nước, thương dân. Tác phẩm “Truyện Lục Vân Tiên” là một trong số những tác phẩm xuất sắc, nổi tiếng bậc nhất của ông. Đọc toàn bộ tác phẩm nói chung và đoạn trích “Lẽ ghét thương” nói riêng, người đọc sẽ thấy được tấm lòng thương dân sâu sắc và lẽ thương ghét rạch ròi của nhà thơ mù xứ Nam Bộ.

Mười sáu câu thơ đầu đoạn trích đã tái hiện lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và Lục Vân Tiên, để từ đó thể hiện quan niệm về lẽ ghét của ông Quán. Trước hết, những câu thơ mở đầu đoạn trích chính là lời tự giới thiệu của ông Quán về mình:

Quán rằng: kinh sử đã từng

Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa.

Hỏi thời ta lại nói ra

Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.

Ông Quán không phải là một cái tên hay một nhân vật cụ thể, ông chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm song lại để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Có thể dễ dàng nhận thấy, ông Quán có dáng dấp của một kẻ sĩ, một nhà Nho ở ẩn thông hiểu kinh sử, tính cách bộc trực, thẳng thắn và yêu ghét rõ ràng. Đặc biệt, câu khép lại lời giới thiệu của ông Quán “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” đã gợi lên mối quan hệ giữa ghét và thương. Hai phạm trù tư tưởng “ghét”, ‘thương” tưởng như đối lập song chúng lại có mối quan hệ gắn bó, mật thiết với nhau.

Trước lời giới thiệu của ông Quán, Vân Tiên đã đáp lại một cách khiêm nhường, từ đó, thể hiện ước muốn được nghe ông Quán giải thích, nói rõ hơn, tường tận hơn về lẽ ghét thương.

Tiên rằng: Trong đục chưa tường

Chẳng hay thương ghét, ghét thương thế nào?

Sau lời đối đáp giữa ông Quán và Vân Tiên, ông Quán đã đi sâu giải thích, làm rõ quan điểm của mình về lẽ ghét:

Quán rằng: Ghét việc tầm phào

Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.

Có thể thấy, cái đầu tiên ông Quán ghét đó chính là “việc tầm phào”. Như chúng ta đã biết, “việc tầm phào” là những việc vu vơ, hão huyền, những việc vô nghĩa. Đặc biệt, cái ghét ấy như được nhấn mạnh, tăng lên bội phần khi từ “ghét” được tác giả nhắc đi nhắc lại ba lần cùng với đó là cấp độ ngày cảng một tăng lên. Để rồi, từ đó, tác giả đã liệt kê, làm rõ những “việc tầm phào” mà ông ghét trong những câu thơ tiếp theo:

Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,

Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.

Ghét đời U, Lệ đa đoan,

Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.

Ghét đời Ngũ, Bá phân vân,

Chuộng bề dối trá, làm dân nhọc nhằn.

Ghét đời Thúc quý phân băng,

Sớm đầu tối đánh, lằng nhằng hại dân.

Bằng thủ pháp liệt kê, ông Quán đã liệt kê ra hàng loạt những đối tượng mà mình ghét. Đó là “đời Kiệt, Trụ mê dâm”, “đời U, Lệ đa đoan”, “đời Ngũ, Bá đa đoan”, “đời Thúc Quý phân băng”. Ông Quán đã bày tỏ thái độ ghét của mình với hàng loạt các đời vua khác nhau nhưng có thể nhận thấy giữa các đời vua ấy có những điểm tương đồng như ăn chơi hoang dân vô độ, kết bè kết cánh gây chiến tranh loạn lạc, chia li, làm nhiều việc nhũng nhiễu trong nhân dân. Đặc biệt, những việc làm, hành động của các đời vua bạo chúa ấy đã khiến cho đời sống của nhân dân “lầm than muôn phần”, phải chịu cảnh “sa hầm sẩy hang”. Như vậy, có thể thấy, ông Quán đã đứng trên lập trường, vị trí của nhân dân để bày tỏ thái độ ghét của mình, đồng thời qua đó có thể thấy ông đã gián tiếp nói lên nỗi thống khổ của nhân dân dưới các thời vua chúa bạo ngược, không chăm lo, quan tâm đời sống của nhân dân.

Không chỉ dừng lại ở việc làm rõ quan điểm về thái độ, tình cảm “ghét” của mình, ông Quán còn đưa đến cho người đọc những suy ngẫm về điều “thương”.

Thương là thương Đức thánh nhân

Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuôn.

Thương thầy Nhan tử dở dang

Ba mươi mốt tuổi, tách đàng công danh.

Thương ông Gia Cát tài lành,

Gặp cơn Hán mạt, đã đành phôi pha.

Thương thầy Đồng tử cao xa,

Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi.

Thương người Nguyên Lượng bùi ngùi,

Lỡ bề giúp nước lại lui về cày,

Thương ông Hàn Dũ chẳng may,

Sớm dâng sớ biểu tối đày đi xa.

Thương thầy Liêm Lạc đã ra

Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.

Nếu như khi nói về lẽ ghét, khi nhắc đến những đối tượng mà mình ghét, ông Quán thể hiện thái độ tức giận, căm phẫn thì giờ đây, khi nhắc đến những đối tượng của lẽ thương giọng thơ như chùng xuống, mang trong mình sự trìu mến và thiết tha. Ông Quán thương cho Khổng Tử - một con người đã đi qua nhiều nước để hành đạo nhưng đáng tiếc thay không thành. Ông thương cho thầy Nhan tử, có tài, có đức nhưng lại chết sớm khi mọi thứ còn dở dang, thương cho Gia Cát Lượng có tài nhưng không gặp thời nên cũng đành “phôi pha”, thương cho thầy Đổng tử có chí lớn, học rộng nhưng không được trọng dụng nên không được thi tài năng. Ông còn thương cho Nguyên Lượng, Hàn Dũ, Liêm, Lạc - những con người có tài, muốn giúp nước giúp dân nhưng không được. Có thể thấy, điểm chung của những đối tượng mà ông Quán thương chính là sự tài đức, có chí, nhưng vì thời vận nên họ không đạt được mong ước, sở nguyện của bản thân mình. Bày tỏ quan điểm về lẽ thương nhưng ẩn sau đó ông Quán cũng bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc của mình với những con người đó.

Đưa ra quan điểm của mình về lẽ ghét và lẽ thương, ông Quán đã thể hiện rõ quan điểm yêu, ghét rạch ròi của mình. Thêm vào đó, trong hai câu cuối của đoạn trích, ông cũng đã làm rõ mối quan hệ giữa ghét và thương.

Xem qua kinh sử mấy lần,

Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương.

Với nghệ thuật đối cùng cắt ngắt nhịp 4/4, hai câu thơ khép lại bài thơ như một lời chiêm nghiệm của ông Quán về lẽ ghét, thương. Đồng thời, thêm vào đó, với cách nói “nửa phần” được lặp lại hai lần cho thấy với tác giả, thương và ghét luôn lồng vào nhau, trong thương có ghét, trong ghét lại vẫn có thương.

Tóm lại, với việc sử dụng thể thơ lục bát cùng ngôn ngữ giản dị, chân chất, đậm sắc thái của người Nam Bộ, đoạn trích “Lẽ ghét thương” đã thể hiện một cách rõ nét và sâu sắc quan điểm yêu ghét rạch ròi, phân minh của tác giả. Đồng thời, qua đó cũng giúp người đọc cảm nhận được tình cảm yêu thương nhân dân của nhà thơ.

Cảm nhận về đoạn trích "Lẽ ghét thương" của Nguyễn Đình Chiểu mẫu 4

Văn học là những sáng tác tinh tế tái hiện lại cuộc sống, đời thực của con người qua các thời đại. Nó mang những giá trị cốt lõi bài học của cuộc sống, nhân cách, đạo đức để giáo dục con người ta đến cái thiện. Đúng như vậy đoạn trích Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu- một ngôi sao trên nền văn học trung đại Việt Nam, đã truyền tải đến người đọc những vấn đề về đạo đức qua nhân vật ông Quán trong đoạn trích. Ông Quán- một nhà nho ở ẩn, một người cương trực đã bộc bạch ra “lẽ ghét thương” của mình qua đó cũng thể hiện tấm lòng của tác giả Nguyễn Đình Chiểu: yêu nước, thương dân.

Đoạn trích “Lẽ ghét thương” được trích ra từ tác phẩm “Lục Vân Tiên”. Tác phẩm được ông sáng tác khi ông đã bị mù, cốt truyện xung quanh cái ác và cái thiện. Ông luôn đề cao tinh thần nghĩa hiệp, phê phán cái ác và đưa ra một quy luật bất biến: chính nghĩa luôn thắng gian tà. Đoạn trích được trích ra từ phần đầu của tác phẩm, kể về cuộc gặp mặt, trò chuyện của ông Quán và bốn chàng nho sinh đi thi.Qua đoạn trích có thể thấy rõ được lẽ ghét thương phân minh của ông Quán được bộc lộ rõ như thế nào.

Người đọc có thể thấy rõ được quan điểm của ông Quán, một người đã trau dồi mài kinh sử cũng học và thi, qua bốn câu thơ:

Quán rằng: “Kinh sử đã từng.

Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa

Hỏi thời ta phải nói ra

Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.

Ông Quán đã thẳng thắn đưa ra ngay suy nghĩ của mình trước sự ngụy biện hai tên Trịnh Hâm và Bùi Kiệm khi bị thua trong cuộc so tài. Ông cảm thấy bất bình và rồi ông đã giải thích cho chính cái nguyên căn ấy “ Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”.

Qua mười hai câu tiếp theo, ta có thể cảm nhận rõ hơn rất nhiều về tầm hiểu biết sâu rộng của ông Quán khi ông bàn về “lẽ ghét”:

Tiên rằng: “Trong đục chưa tường,

Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào?”

Quán rằng: “Ghét việc tầm phào,

Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tới tâm.

Ghét đời Kiệt, Trụ,mê dâm

Để dân đến nỗi sa hầm sảy hang.

Ghét đời U, Lệ đa đoan,

Kiến dân luống chịu lầm than muôn phần.

Ghét đời Ngũ Bá phân vân

Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn

Ghét đời Thúc Quý phân băng

Sớm đầu, tối đánh, lằng nhằng dối dân.”

Vân Tiên muốn hiểu rõ hơn về ý tứ của ông Quán, đồng thời cũng muốn học hỏi thêm nhiều điều đã không ngần ngại hỏi lại “Trong đục chưa tường,/Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào?”Ông Quán đã không ngần ngại câu trả lời mà còn giải thích rõ tại sao. Ông nhấn mạnh rằng ông ghét việc tầm phào, ghét đến tận tâm can của ông. Việc tầm phào ở đây nghĩa là những việc chẳng có nghĩa lí gì, chẳng đâu vào với đâu, những việc đó khiến ông căm ghét tột cùng. Để làm rõ, ông đã đưa ra nhiều điển cổ , điển tích để chứng minh. Đời Kiệt, đời Trụ hoang dâm vô độ, không lo cho dân, để cho dân rơi vào cuộc sống cùng cực.Đến đời U, đời Lệ “đa đoan” lắm chuyện rắc rối, kiến dân chúng không khỏi lầm than.Rồi đến nhà Ngũ Bá, Thúc Quý triền miên chiến tranh làm cho nhân dân khổ cực thêm.Qua những dẫn chứng mà ông đưa ra, ông luôn đứng về phía nhân dân, bình xét lịch sử. Nguyễn Đình Chiểu đã làm rõ được “lẽ ghét” qua nghệ thuật lặp từ “ ghét” được lặp lại tám lần và tình yêu thương dân muôn phần qua từ “dân” được lặp lại bốn lần. Có thể thấy rằng ông Quán mà cũng chính là tác giả có lòng thương dân sâu sắc như thế nào.

Mười bốn dòng tiếp theo của cuối đoạn trích, ta càng cảm nhận được ông Quán là một người có lòng nhân hậu, ông thương những bậc hiền tài của đất nước nhưng cuộc đời của họ luôn gặp những rủi ro khôn lường:

Thương là thương đức thánh nhân,

Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông.

Thương thầy Nhan Tử dở dang

Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.

Thương ông Gia Cát tài lành

Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha.

Thương thầy Đồng Tử cao xa

Chí đà có chí, ngôi mà không ngôi

Thương người Nguyên lượng ngùi ngùi

Lỡ bề giúp nước lại lui về cày

Thương ông Hàn Dũ chẳng may

Sớm dâng lời biểu tối đày đi xa

Thương thầy Liêm, Lạc đã ra

Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.

Nếu như mười hai câu thơ đầu ông thể hiện rõ lòng căm thù , ghét cay, ghét đắng bao nhiêu thì sang những câu thơ cuối ông lại bộc lộ ra niềm thương xót bấy nhiêu cho những hiền tài của đất nước. Từ thánh nhân Khổng Tử lận đận trong việc truyền đạo đến thầy Nhan Tử tài đức vậy lại kết thúc cuộc đời quá sớm. Hay Gia Cát, Đồng Tử, Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc đều là người tài giỏi, mưu trí, học cao hiểu rộng nhưng đều không gặp thời. Ở đây, tác giả đã sử dụng nghệ thuật điệp từ cũng như liệt kê để thể hiện rõ tấm lòng yêu thương da diết đầy tính bác ái đối với những con người tài giỏi nhưng bạc mệnh.

Hai câu cuối của bài thơ tác giả đã đúc kết lại lẽ ghét thương của mình:

Xem qua kinh sử mấy lần

Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương.

Nửa phần ghét kết hợp với nửa phần thương, qua đó cho thấy thái độ dứt khoát rõ ràng của ông Quán cũng như tác giả. Và sự thương và ghét ấy nó luôn tồn tại song song dù nó có trái ngược nhau, nhưng song đều bắt đầu từ “thương” – cái nguồn của tình cảm.

Với những biệt pháp nghệ thuật như điệp từ, liệt kê, sử dụng điển tích, điển cố, ta có thể thấy được tài năng trong sáng tác văn chương của Nguyễn Đình Chiểu. Chính những phép nghệ thuật ấy đã giúp đoạn thơ mang tính chất triết lí cao nhưng lại dạt dào cảm xúc. Từ đó ta càng thấy được ghét, thương tưởng chừng như đối lập mà lại hoàn toàn là thống nhất.

Nguyễn Đình Chiểu không những đã làm rạch ròi ra lẽ thương và lẽ ghét mà còn thể hiện nó một cách sâu sắc khiến cho người đọc cảm thấy ấn tượng. Ta có thể thấy một tầm nhìn xa, một tầm nhìn khái quát về đất nước, một lòng yêu thương dân vô bờ bến của một con người tài giỏi nhưng cuộc đời lại gặp bất hạnh như ông.

Cảm nhận về đoạn trích "Lẽ ghét thương" của Nguyễn Đình Chiểu mẫu 5

Nguyễn Đình Chiểu là một trong những tác giả nổi tiếng nhất của văn học Trung đại Việt Nam. Ông để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm nổi bật như: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Chạy giặc,… và không thể không nhắc đến truyện thơ Lục Vân Tiên với trích đoạn Lẽ ghét thương đã in những dấu ấn đậm nét trong lòng bạn đọc suốt bao thế hệ qua.

Đoạn trích Lẽ ghét thương được trích từ câu 473 đến câu 504, kể về sự kiện bốn chàng nho sinh lên kinh dự thi tình cờ gặp nhau trong quán rượu của ông Quán. Trịnh Hâm đã đưa lời thách đố làm thơ để so tài cao thấp, Vân Tiên tỏ ra vượt trội hơn hẳn khiến cho Trịnh Hâm và Bùi Kiệm tỏ ý nghi ngờ tài năng của chàng. Trước tình huống đó, ông Quán đã ra và trò chuyện về lẽ ghét thương ở đời.

Với bốn câu tự giới thiệu hết sức ngắn gọn của ông Quán, người đọc đã có đôi nét thông tin và hiểu về nhân cách đáng kính của ông:

Quán rằng: Kinh sử đã từng

Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa.

Hỏi thời ta phải nói ra,

Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.

Ông Quán cũng như ông Tiều, ông Ngư sống cuộc đời mai danh, ẩn tích, tránh phường danh lợi, hướng đến cuộc sống an nhàn, thư thái trong tâm hồn. Hình ảnh của họ cũng phảng phất hình ảnh của Đồ Chiểu sau khi bị mù trở về quê hương làm nghề dạy học và sáng tác. Bởi vậy, các nhân vật này cũng chính là những người thể hiện và phát ngôn những tư tưởng, quan điểm của tác giả.

Trong câu nói của ông Quán còn thể hiện mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa ghét và thương. Thương và ghét là hai mặt tình cảm trong mỗi con người. Cái người ta thương là những điều tốt đẹp, lay động trái tim, ngược lại họ thường ghét cái xấu xa, độc ác, làm ảnh hưởng xấu đến con người. Như vậy, ghét cũng chính là xuất phát từ lòng thương, bởi vì thương người dân nên mới ghét những điều xấu xa, bạo ngược. Tình cảm này của ông Quán được thể hiện một cách tha thiết chân thành:

“Quán rằng: ghét việc tầm phào

Ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm”

“Tầm phào” là những việc vu vơ, hão huyền, không có ý nghĩa. Đó chính là những điều ông Quán ghét. Cái ghét ấy càng được khắc đậm hơn qua việc lặp lại từ “ghét” ba lần theo chiều tăng tiến. Và tám câu thơ tiếp đó là những dẫn chứng cụ thể, trực tiếp để làm rõ những điều mà ông Quán ghét. Ông ghét đời Kiệt Trụ mê dâm, đời U, Lê đa đoạn, Thời Ngũ bá phân vân,… khiến cho người dân phải chịu nhiều cay đắng, khổ cực, chiến tranh khiến biết bao gia đình phải li tán. Dường như trong từng câu thơ người đọc cảm nhận được nỗi phẫn uất cuộn trào trong lòng ông Quán. Qua những lời bộc bạch hết sức chân thành của ông Quán, ta có thể thấy rằng, ông hay chính Nguyễn Đình Chiểu đứng trên lập trường nhân dân, vì dân mà nêu lên quan điểm về lẽ ghét thương. Đồng thời lẽ ghét ấy cũng là cơ sở để tác giả thể hiện lẽ thương của mình. Ông thương những nhà hiền triết, bậc chí nhân, quân tử như: Khổng Tử, Đào Tiềm, Nguyên Lượng, Hàn Dũ,… Họ đều là những con người tài giỏi, mang trong mình tâm niệm đem tài năng ra giúp ích cho đời song lại không đạt được sở nguyện. Thấp thoáng ở những nhân vật đó ta thấy hình ảnh của Nguyễn Đình Chiểu, ông cũng mang trong mình những suy nghĩ, khát vọng lớn lao nhưng đều đi vào bế tắc. Bởi vậy khi nhắc đến những nhân vật này ta cảm nhận được niềm cảm thông và đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với họ. Tác giả kết thúc tác phẩm bằng hai câu thơ: “Xem qua kinh sử mấy lần/ Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương” như là một lời tóm lại lẽ ghét thương ở đời.

Lẽ ghét thương của ông Quán là những tình cảm đạo đức của một con người vốn là học trò của nơi của Khổng sân Trình, đã thấm những đạo lí nho gia tốt đẹp. Tuy nhiên, ta cũng cần thấy rằng lẽ ghét thương đó được xuất phát từ một con người sống gần gũi với nhân dân và có tình yêu thương tha thiết với họ. Lời lẽ trong bài vô cùng đanh thép, mạch lạc, dõng dạc cho thấy tính cách bộc trực, đầy hào khí rất đúng với cốt cách, tinh thần của con người Nam Bộ. Như đã khái quát từ đầu, ông Quán cũng là một trong rất nhiều nhân vật được dùng để thể hiện tư tưởng quan điểm của tác giả. Bởi vậy, khi khẳng định những phẩm chất tư tưởng này ta cũng không nên đồng nhất chúng chỉ là của riêng nhân vật trong tác phẩm. Đây cũng chính là quan niệm, lẽ sống của tác giả Nguyễn Đình Chiểu “một nhà nho nghĩa khí, đầy lòng yêu nước, thương dân và nhuần thấm rất sâu “chất Nam Bộ” trong cách sống, cách nhìn, cách nghĩ và cách nói”.

Để tạo nên sự thành công của đoạn trích, những đặc sắc nghệ thuật ta cũng không thể không nhắc đến. Văn bản được viết bằng thứ ngôn ngữ dung dị, đậm chất Nam Bộ nhưng cũng hết sức truyền cảm, giàu cảm xúc. Sử dụng hình thức liệt kê, phép điệp cho thấy rõ lẽ ghét thương ở đời của tác giả. Giọng thơ linh hoạt, đa dạng lúc cuồn cuộn sục sôi khi nói về lẽ ghét, lúc lại da diết, trầm buồn khi nói về lẽ thương.

Tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm nơi người đọc bởi sự kết tinh hài hòa giữa nội dung và hình thức nghệ thuật. Lẽ ghét thương đã nói lên những tình cảm yêu ghét chân thành, thẳng thắn mà cũng hết sức tha thiết của một tấm lòng vĩ đại, suốt một đời yêu nước, thương dân.

Trên đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 11: Cảm nhận về đoạn trích "Lẽ ghét thương" của Nguyễn Đình Chiểu. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 11 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn 11.

Mời bạn đọc cùng tham gia nhóm Tài liệu học tập lớp 11 để có thêm tài liệu học tập nhé

Các bài liên quan đến tác phẩm

Bài tiếp theo: Cảm nhận của em về nhân vật Vũ Như Tô qua Hồi V vở kịch "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng

Đánh giá bài viết
1 33
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Văn mẫu lớp 11 Xem thêm