Dàn ý Thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và bài Bạch Đằng giang phú

VnDoc xin giới thiệu bạn đọc tài liệu Dàn ý Thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và bài Bạch Đằng giang phú, tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh làm bài được tốt hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo.

Dàn ý thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và bài Bạch Đằng giang phú mẫu 1

1. Mở bài

Nhắc đến Trương Hán Siêu, người ta nghĩ đến Phú sông Bạch Đằng. Và trở lại, Phú sông Bạch Đằng cũng đủ làm nên tên tuổi Trương Hán Siêu.

2. Thân bài

- Vài nét về Trương Hán Siêu.

- Thuyết minh về Phú sông Bạch Đằng:

+ Được viết vào khoảng năm mươi năm sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, đời Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, khi nhà Trần có dấu hiệu bắt đầu suy thoái.

+ Bạch Đằng là con sông ghi dấu nhiều chiến công hiển hách trong sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta, từ thời Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán đến nhà Trần chiến thắng quân Nguyên Mông.

+ Bài phú được viết theo lối phú cổ thể.

+ Cảm hứng: Niềm tự hào, vừa đọng nỗi đau, vừa thể hiện triết lí về sự thay đổi, biến thiên và xoay vần của tạo hóa.

+ Nội dung: Cuộc gặp gỡ giữa hai nhân vật khách và các bô lão trên sông Bạch Đằng. khách và các bô lão bình luận về chiến thắng, công đức của các vua Trần.

Phú sông Bạch Đằng bộc lộ lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về truyền thống anh hùng, truyền thống nhân nghĩa của đất nước ta.

+ Nghệ thuật: Tác phẩm có cấu tứ đơn giản, lời văn linh hoạt, hình tượng nghệ thuật sinh động, từ ngữ gợi hình sắc, giọng điệu hào hùng trang trọng, có lúc lắng đọng gợi cảm, lúc lại triết lí sâu xa.

3. Kết bài

- Phú sông Bạch Đằng là đỉnh cao nghệ thuật phú trong văn học trung đại.

Dàn ý thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và bài Bạch Đằng giang phú mẫu 2

Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và tác giả cần chứng minh: Trương Hán Siêu và "Phú sông Bạch Đằng".

Thân bài:

- Giới thiệu về tác giả Trương Hán Siêu:

+ Cuộc đời.

+ Sự nghiệp văn chương.

- Giới thiệu về tác phẩm "Phú sông Bạch Đằng":

+ Vị trí của bài phú trong sáng tác của Trương Hán Siêu.

+ Thể loại.

+ Hoàn cảnh sáng tác.

+ Giá trị nội dung.

+ Giá trị nghệ thuật.

- Đánh giá về giá trị của "Phú sông Bạch Đằng" và vị trí của Trương Hán Siêu trong văn học Việt Nam.

Kết bài:

- Khẳng định lại vị trí của Trương Hán Siêu và "Phú sông Bạch Đằng".

Dàn ý thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và bài Bạch Đằng giang phú mẫu 3

I/ Mở bài

- Giới thiệu về Trương Hán Siêu và bài "Phú sông Bạch Đằng".

- Trong "Cảm tưởng đọc Thiên gia thi", Hồ Chí Minh từng viết: "Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp / Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông". Thi nhân xưa thường tức cảnh mà tức cảnh sinh tình như thế. Trương Hán Siêu khi đối diện với Bạch Đằng giang cũng trào dâng những cảm xúc bồi hồi, xúc động như thế. Niềm xúc cảm khôn nguôi ấy thôi thúc thi nhân cầm bút viết lên "Bạch Đằng giang phú" có giá trị nhân văn cao đẹp.

II/ Thân bài

1/ Giới thiệu về Trương Hán Siêu

- Trương Hán Siêu là một nhân vật lớn đời Trần. Ông tên chữ Thăng Phủ, quê ở làng Phúc Am, huyện Yên Ninh, Ninh Bình. Trương Hán Siêu lúc trẻ làm môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trương Hán Siêu là một người cương trực, học vấn uyên thâm, thông hiểu sâu sắc đạo Nho, đạo Phật, có tài thơ văn được vua, dân nể trọng, lại giàu lòng yêu nước và có nhiều công lao đối với triều Trần.

- Năm 1308, vua Trần Anh Tông phong ông làm Hàn Lâm học sĩ. Đời Minh Tông ông giữ chức Hành khiển. Đời Trần Dụ Tông, năm 1339, ông làm Hữu ti Lang trung ở Môn hạ. Đời Trần Dụ Tông đổi sang Tả Tư Lang kiêm chức Kinh Lược sứ ở Lạng Giang, năm 1345 ông được thăng chức Gián nghị Đại phu tham chính sự. Ông được vua Dụ Tông sai cùng với Nguyễn Trung Ngạn hợp soạn bộ "Hoàng Triều Đại Điển" và bộ "Hình Luật Thư". Năm 1351, ông được phong Tham tri Chính sự. Năm 1354, ông cáo bệnh xin nghỉ nhưng trên đường về Bắc chưa kịp đến nhà thì mất, sau được truy tặng Thái phó và cho phối thờ ở Văn Miếu, Thăng Long. Sau khi mất, Trương Hán Siêu được truy tặng chức Thái phó và được đưa vào thờ tại Văn Miếu ngang với các bậc hiền triết xưa.

- Sáng tác của ông còn lại không nhiều: hai bia văn, bốn bài thơ và một bài phú.

2/ Giới thiệu về "Bạch Đằng giang phú"

- "Bạch Đằng giang phú" được viết theo thể phú, là thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần, văn xuôi, thường tả cảnh, kể về phong tục, kể sự việc, bàn chuyện đời.

- Có thể dự đoán Trương Hán Siêu viết bài phú này vào khoảng năm mươi năm sau chiến thắng quân Mông - Nguyên lần thứ ba. Đây là giai đoạn cuối của nhà Trần - triều đại lúc ấy đang suy vong như ánh hoàng hôn cuối ngày song hào khí Đông A một thời vẫn vang vọng trong tâm khảm những danh sĩ nặng lòng với giang sơn xã tắc.

- Bài phú viết về sông Bạch Đằng - dòng sông của lịch sử, văn hóa và thi ca. Đây là dòng sông đã ghi dấu lại những chiến tích anh hùng của cha ông. Bởi vậy, bài phú mang cảm hứng hoài niệm, hoài cổ rõ nét. Đây là tác phẩm thể hiện đỉnh cao của tài hoa viết phú đồng thời là áng văn tràn đầy lòng yêu nước, tráng chí chất ngất, cùng tinh thần tự hào dân tộc và hàm chứa một triết lý lịch sử sâu sắc khi nhìn nhận nguyên nhân thành công của dân tộc trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước.

Phân tích bài phú "Bạch Đằng giang phú"

- Mở đầu bài phú là lời giới thiệu nhân vật khách và tâm trạng của khách trước dòng sông Bạch Đằng: "Khách có kẻ ... Tiếc thay dấu vết luống còn lưu". Đoạn văn đã làm hiện lên chân dung con người với tư thế ung dung đang mở rộng tâm hồn khoáng đạt để thu vào tất cả những bao la, rộng lớn của đất trời. Hành động "giương buồm giong gió", "lướt bể chơi trăng" đã mở ra không gian khoáng đạt cùng những hình ảnh kỳ vĩ của thiên nhiên, thể hiện niềm say mê bất tận của khách khi được đắm mình với thú ngao du sơn thủy.

- Nhịp điệu đoạn văn tự do, linh hoạt, có câu ngắn, câu dài đan xen giống như nhịp con thuyền đi trên sông, có lúc dừng lại để thưởng ngoạn, có lúc lại lướt băng băng.

- Khách là người đi nhiều, biết nhiều, đã từng đi nhiều miền sông bể. Đó là những địa danh của Trung Quốc như Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Tam Ngô, Bách Việt,... Đây đều là những thắng cảnh nổi tiếng chủ yếu gắn với không gian sông nước. Cách nói ước lệ có phần khoa trương: "Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương / Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt", "Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều" chứng tỏ có những địa danh khách đã đi qua bằng thực tế, cũng có những địa danh khách đi du ngoạn bằng sự tưởng tượng, bằng sự hiểu biết qua sách vở.

- Biện pháp liệt kê đã mở ra một không gian bao la với những địa danh khác nhau đồng thời cho ta hiểu biết về khách: mặc dù đã đi qua nhiều nơi nhưng vẫn luôn khao khát được khám phá bốn phương. Phải chăng khách cũng muốn đặt chân lên mọi miền đất nước để viết nên lịch sử về nước mình?

- Đứng trước sông Bạch Đằng là đứng trước vẻ đẹp của bức tranh diễm lệ về sông nước. Bạch Đằng một bức tranh vừa hùng vĩ vừa nên thơ: "Bát ngát sóng kình muôn dặm / Thướt tha đuôi trĩ một màu". Sông nước, đất trời cuối thu xanh biếc một màu tưởng như đất trời nối liền một dải: "Nước trời: một sắc, phong cảnh ba thu". Cảnh hiện lên không chỉ hùng vĩ, thơ mộng mà còn mang màu sắc ảm đạm, hắt hiu với bờ lau, bến lách san sát đôi bờ, với "sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô" gợi nhắc sự hoang tàn của chiến trường xưa.

- Trước cảnh sông nước Bạch Đằng, tâm trạng khách đan xen nhiều cung bậc: vui, tự hào trước cảnh nước trời hùng vĩ; buồn vì cảnh đôi bờ trước mắt đều hoang vắng, đìu hiu; thương tiếc, tưởng nhớ những người anh hùng đã khuất; tiếc nuối nuối vì chiến trường xưa một thời oanh liệt giờ phai nhạt dấu vết vì thời gian.

- Nhân vật khách cũng chính là sự phân thân của tác giả. Đến với dòng sông lịch sử này, tác giả có một phong thái ung dung để thưởng ngoạn, đồng thời cũng bày tỏ niềm xúc động tự hào và nuối tiếc trước trận chiến trường xưa.

- Đoạn văn thứ hai là lời kể của các bô lão về những chiến công trên sông Bạch Đằng. Sau những cảm xúc chung của khách trước sông Bạch Đằng là lời của các bô lão. Hình thức đối đáp giữa khách và chủ là thủ pháp đặc trưng của thể cổ phú, giúp cho lời kể thêm chân thực, sự việc trở nên khách quan, đáng tin cậy. Các bô lão đến với khách bằng một thái độ nhiệt tình, trân trọng.

- Qua lời kể của các bô lão, sông Bạch Đằng hiện lên là nơi ghi dấu những chiến công chói lọi. Đó là chiến công hào hùng của các thế hệ trước: "Ngô chúa phá Hoằng Thao", đó là chiến công của "Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã".

- Khi nói về quân địch, các bô lão đã nhấn mạnh vào sức mạnh vật chất của chúng, còn về phía ta thì nhấn mạnh vào sức mạnh tinh thần. Điều đó cho thấy cuộc chiến đó không chỉ là sự đối đầu về lực lượng mà còn là về ý chí.

- Cảnh chiến sự dữ dội, ác liệt được miêu tả bằng những hình ảnh giàu sức biểu cảm, mang tầm vóc của đất trời: "Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, / Bầu trời đất chừ sắp đổi".

- Miêu tả sức mạnh của kẻ địch trước hết để nói đến tình thế cam go của trận đánh, cũng là một cách để làm nổi bật sức mạnh của quân ta, thể hiện niềm tự hào của các bô lão về những chiến công. Lời kể ngắn gọn nhưng cụ thể, sinh động khi dồn dập, gấp gáp với những câu ngắn; khi chậm rãi với những câu dài đã tái hiện một cách sinh động về diễn biến, không khí của trận đánh.

- Đoạn văn thứ ba là những suy ngẫm và bình luận của các bô lão về chiến công. Trong lời suy ngẫm, bình luận của các bô lão về chiến công trên sông Bạch Đằng, có thể nhận thấy nguyên nhân của chiến thắng theo các bô lão là nhờ có địa linh nhân kiệt. Nhắc tới hình ảnh Trần Hưng Đạo với câu nói lưu cùng sử sách, so sánh với những nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Trung Hoa: "vương sư họ Lã, quốc sĩ họ Hàn", lời suy ngẫm của các bô lão đã chỉ ra vai trò quyết định của con người trong việc làm nên chiến thắng. Đó cũng là một tư tưởng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

- Đoạn văn cuối cùng là lời ca của các bô lão. Lời các bô lão mang ý nghĩa tổng kết quy luật lịch sử: bất nghĩa thì tiêu vong, còn có nhân nghĩa thì lưu danh thiên cổ.

- Lời ca của khách là sự tiếp nối lời ca của các bô lão không chỉ ở hình thức đối đáp trong phú mà còn là sự tiếp nối và mở rộng về tư tưởng, đề cao vai trò của đức sáng trong con người. Đó chính là hạt nhân của mọi chiến thắng.

- Lợi kết thúc bài phú thể hiện niềm tự hào dân tộc và tư tưởng nhân văn cao đẹp: đề cao vai trò, vị trí con người trong lịch sử đồng thời cũng là minh chứng cho sự kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và chất trữ tình trong phú.

3/ Đánh giá

- Nghệ thuật: Bài phú là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam. Bài phú với bố cục chặt chẽ, lời văn linh hoạt ngôn từ vừa trang trọng vừa gợi cảm, bút pháp miêu tả linh hoạt, xây dựng thành công hình tượng chủ - khách, kết hợp hài hòa giữa chất văn xuôi và chất thơ.

- Nội dung: Bài phú thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc qua tiếng nói ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, truyền thống lịch sử hào hùng, truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lý nhân nghĩa sáng ngời của dân tộc Việt Nam. Bài phú cũng chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp: đề cao vai trò, vị trí của con người trong lịch sử.

III/ Kết bài

- Khẳng định lại vị trí, thành công của Trương Hán Siêu và "Bạch Đằng giang phú", nêu suy nghĩ bản thân.

- "Phú sông Bạch Đằng" của Trương Hán Siêu là một tác phẩm tiêu biểu cho dòng văn học yêu nước và là lời nhắc nhở mỗi người, mỗi dân tộc lòng tự hào truyền thống, đạo lý nhân nghĩa sáng ngời của dân tộc Việt Nam, thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc để cập vai trò và vị trí của con người.

-----------------------------

VnDoc.com đã giới thiệu tới bạn đọc bài: Dàn ý Thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và bài Bạch Đằng giang phú. Cùng chủ đề này, VnDoc.com mời các bạn tham khảo tài liệu Học tốt Ngữ văn 11, Đề thi học kì 1 lớp 11, giải bài tập Toán lớp 10, đề thi học kì 1 lớp 10, Thi thpt Quốc gia môn Toán mà VnDoc.com đã sưu tầm, tổng hợp. Chúc các bạn học sinh học tập hiệu quả.

Đánh giá bài viết
8 19.367
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Ngữ văn lớp 10 Xem thêm