Trao duyên

VnDoc xin giới thiệu tới các bạn Đoạn thơ Trao duyên thuộc chương trình Ngữ văn lớp 10. Qua tài liệu sẽ giúp các bạn nắm chắc tác phẩm đồng thời hoàn thiện phân tích thơ, soạn bài lớp 10 hay hơn. Chúc các bạn học tốt, mời các bạn cùng tham khảo

Ngoài ra, VnDoc.com đã thành lập group chia sẻ tài liệu học tập THCS miễn phí trên Facebook: Tài liệu học tập lớp 10. Mời các bạn học sinh tham gia nhóm, để có thể nhận được những tài liệu mới nhất.

Ngữ văn lớp 10: Trao duyên sẽ giúp các bạn học sinh có thêm tài liệu tham khảo phục vụ quá trình học tập; đồng thời có thêm hiểu biết về vấn đề tự học từ đó rút ra những kinh nghiệm riêng cho bản thân mình.

1. Đoạn thơ Trao duyên

Trao duyên

“Cậy em, em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kỳ,

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ, thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

Chiếc thoa với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!

Mất người còn chút của tin,

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ gió cây,

Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.

Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt, khuất lời,

Rảy xin chén nước cho người thác oan.

Bây giờ trâm gãy bình tan,

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lạy tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phận sao phận bạc như vôi?

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

(Trích "Truyện Kiều" - Nguyễn Du)

2. Đôi nét về tác giả

Xem thêm: Tác giả Nguyễn Du

3. Đoạn thơ Trao duyên

3.1. Vị trí đoạn thơ

Đoạn thơ trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều, là lời của Thúy Kiều nói với Thúy Vân.

3.2. Bố cục (3 phần)

  • Phần 1 (12 câu đầu): Kiều thuyết phục và trao duyên cho Thúy Vân.
  • Phần 2 (14 câu tiếp): Kiều trao kỉ vật và dặn dò.
  • Phần 3 (còn lại): Kiều đau đớn và độc thoại nội tâm.

3.3. Giá trị nội dung

Đoạn thơ thể hiện bi kịch trong tình yêu của Thúy Kiều qua đó thể hiện tiếng kêu đau đớn của tác giả về số phận con người trong xã hội phong kiến.

3.4. Giá trị nghệ thuật

Bằng hình thức độc thoại và kết hợp sử dụng giữa ngôn ngữ trang trọng với thể thơ lục bát dân giản dị, tác giả đã thể hiện đặc sắc diễn biến tâm trạng phức tạp và bế tắc của Thúy Kiều trong đêm trao duyên.

4. Dàn ý phân tích Trao duyên (Trích Truyện Kiều)

Dàn ý phân tích Trao duyên

4.1. Mở bài

  • Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều”.
  • Giới thiệu về đoạn trích Trao duyên.

4.2. Thân bài

a. Kiều thuyết phục và trao duyên cho Thúy Vân (12 câu đầu)

“Cậy em, em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”

“Lạy, thưa”: trang nghiêm, hệ trọng, kính cẩn với bề trên hoặc người lớn tuổi hơn mình.

⇒ Không khí trao duyên trang trọng, thiêng liêng. Sự việc bất ngờ, phi lý mà lại hợp lý, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sắp nhờ, thấy được sự nhạy cảm, tinh tế và khôn khéo của Thúy Kiều.

“Giữa đường đứt gánh tương tư,

….……………………………

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

Cảnh ngộ của Thúy Kiều: mối tình dang dở, dứt quãng; tai họa ập đến gia đình nàng, phải lựa chọn giữa hiếu và tình. Thúy Vân là người nhận lại mối tình dang dở đó, Kiều hiểu rõ sự thiệt thòi của em.

Thúy Kiều kể vắn tắt mối tình với Kim Trọng

“Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.”

Mối tình còn dang dở, lời hẹn ước của Thúy Kiều với Kim Trọng vẫn còn đó.

Lời lẽ thuyết phục Thúy Vân: Thúy Vân còn trẻ, còn có tương lai, hãy xót thương tình chị em, tình ruột thịt thiêng liêng, Kiều tưởng tượng đến cái chết của mình để khơi gợi lòng thương cảm của Thúy Vân. Cách lập luận hết sức chặt chẽ, thấu tình cho thấy Thúy Kiều là người sắc sảo tinh tế, có đức hi sinh, một người con hiếu thảo, trọng tình nghĩa.

⇒ 12 câu thơ đầu là lời nhờ cậy, giãi bày, thuyết phục của Thúy Kiều với Thúy Vân trước một sự việc hệ trọng mà nàng sắp thực hiện.

b. Kiều trao kỉ vật và dặn dò em (14 câu tiếp theo)

“Chiếc thoa với bức tờ mây

….………………………………..

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”

“Chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền”: Đó là những kỉ vật thiêng liêng, quan trọng đối với Thúy Kiều và Kim Trọng.

“Duyên này thì giữ, vật này của chung.”

“Duyên này”: tình riêng của Kiều với Kim Trọng. “Vật này của chung”: của kim, Kiều và của cả Vân nữa. “Của tin”: những kỉ vật gắn bó, chứng minh cho tình yêu của Kim, Kiều.

⇒ Sự giằng xé trong tâm trạng của Thúy Kiều.

“Mai sau dù có bao giờ,

….…………………………..

Rảy xin chén nước cho người thác oan.”

Từ ngữ mang tính giả định: “mai này, dù có”: Kiều tưởng tượng về cảnh ngộ của mình trong tương lai. Hình ảnh: “lò hương, ngọn cỏ, lá cấy, hiu hiu gió, hồn, thân bồ liễu, đền nghì trúc mai, dạ đài, giọt nước, người thác oan” gợi ra cuộc sống cõi âm, đầy thần linh, ma mị. Nhịp điệu: chậm rãi, nhịp nhàng, thiết tha, tức tưởi như tiếng khóc não nùng, cố nén lại để không bật lên thành lời thể hiện sự giằng xé, đau đớn và nhớ thương Kim Trọng đến tột cùng của Kiều.

⇒ 14 câu thơ tiếp là một khối mâu thuẫn lớn trong tâm trạng Thúy Kiều: trao kỉ vật cho em mà lời gửi trao chất chứa bao đau đớn, giằng xé và chua chát.

c. Kiều đau đớn và độc thoại nội tâm (còn lại)

“Bây giờ trâm gãy bình tan,

….………………………….

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Sử dụng các thành ngữ chỉ sự tan vỡ, dở dang, bạc bẽo, trôi nổi của tình duyên và số phận con người: trâm gãy gương tan, hoa trôi lỡ làng, phận bạc như vôi. Nghệ thuật đối lập giữa quá khứ và hiện tại gợi nên nỗi đau của Kiều ở hiện tại. Nghệ thuật độc thoại nội tâm: Lời nói hướng đến Kim Trọng (người vắng mặt) nhưng lại là tự dằn vặt, dày vò chính mình thể hiên tâm trạng của Thúy Kiều: vật vã, đau đớn rồi ngất đi trong tiếng kêu thảnh thốt, ai oán.

⇒ Tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Thúy Kiều khi hướng về tình yêu của mình và Kim Trọng.

4.3. Kết bài

  • Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
  • Cảm nhận của bản thân: là đoạn trích giàu cảm xúc, cho thấy vẻ đẹp của Thúy Kiều và tài năng của Nguyễn Du.

5. Mở bài Trao duyên hay

5.1. Mở bài Trao Duyên trực tiếp

Nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du chắc hẳn mỗi người Việt Nam chúng ta không khỏi tự hào về kiệt tác Truyện Kiều mà ông đã để lại cho đời. Nổi bật trong tác phẩm phải kể đến chính là đoạn trích Trao duyên.

5.2. Mở bài Trao Duyên gián tiếp

Người phụ nữ từ xưa đến nay luôn phải chịu những nỗi khổ, những bất công của xã hội. Dân gian có câu: “hồng nhan bạc phận” quả thật không sai khi nhiều cô gái vừa thông minh lại xinh đẹp nhưng lại có cuộc đời lại bất hạnh. Nói đến đây, tôi liên tưởng ngay đến hình ảnh cô Kiều “mười phân vẹn mười” tuy nhiên cuộc đời đẫm nước mắt. Đoạn trích “Trao duyên” đã phần nào giúp chúng ta hiểu hơn về hoàn cảnh của nàng dưới ngòi bút của Đại thi hào Nguyễn Du.

6. Kết bài Trao duyên

6.1. Kết bài Trao Duyên ngắn nhất

Đoạn trích đã khắc họa thành công bức tranh Trao duyên đẫm nước mắt của Thúy Kiều đồng thời lột tả chân thực, rõ nét tâm trạng của một người con gái đáng thương khiến bạn đọc thêm phần yêu quý và trân trọng nàng.

6.2. Kết bài Trao Duyên mở rộng

Trao duyên không chỉ khắc họa thành công nội tâm của Thúy Kiều mà nó còn thể hiện tài hoa hiếm có của Nguyễn Du thông qua việc diễn tả câu chuyện bằng thể thơ lục bát dân gian của dân tộc. Nhiều năm tháng qua đi nhưng câu chuyện vẫn giữ nguyên những giá trị ban đầu của nó và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc. Không những thế, Nguyễn Du cùng Trao duyên nói riêng và Truyện Kiều nói chung còn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

7. Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của đoạn thơ Trao duyên

7.1. Giá trị hiện thực

Đoạn trích Trao duyên đã tái hiện bức tranh phong kiến đầy chân thực. Đó không chỉ là việc một gia đình trung lưu bị án oan mà còn là hình ảnh người con gái xinh đẹp nhưng phải bán mình chuộc cha, chuộc em. Một xã hội coi con người như món hàng để trao đổi, mua bán; một xã hội mà người phụ nữ không được tôn trọng và không được sống cuộc sống theo mong ước của mình mà luôn phải nghe theo sự sắp đặt của người khác.

7.2. Giá trị nhân đạo

Nguyễn Du đã miêu tả chân thực số phận đau khổ, bất công của Kiều khiến chúng ta đồng cảm với nàng, thêm yêu thương và đau xót trước nỗi đau mà nàng phải chịu đựng; đồng thời khiến ta thêm trân trọng vẻ đẹp cũng như tài năng hiếm có, đáng ngưỡng mộ của một cô gái xuân xanh. Từ đó, ta thêm căm ghét xã hội phong kiến đầy bất công đẩy con người vào cảnh bần cùng không lối thoát, đó là một xã hội đáng bị lên án.

8. Soạn bài Trao duyên

1. Tìm hiểu xuất xứ

Gợi ý:

Đây là một trong những đoạn ở vị trí mở đầu cho cuộc đời lưu lạc đầy đau khổ của Thuý Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt giam do có kẻ vu oan, Thuý Kiều phải bán mình làm vợ Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót quan lại cứu cha và em. Việc nhà đã tạm yên, Kiều mới nghĩ đến tình duyên lỡ dở của mình. Trước hết, nàng nghĩ cho người mình yêu, phận mình dù thế cũng đành, nhưng cảm thấy có lỗi với Kim Trọng. Phải làm thế nào cho người yêu đỡ khổ, suy nghĩ mãi, trong đêm cuối cùng, nàng quyết định nhờ em thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.

Trao duyên trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều.

2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích

Gợi ý:

Có thể chia đoạn trích làm hai đoạn nhỏ:

- Đoạn 1 (14 câu đầu): Thuý Kiều “trao duyên” cho Thuý Vân.

+ Kiều nói với em về nỗi bất hạnh của mình.

+ Nhờ em và trao kỉ vật tình yêu cho em.

- Đoạn 2 (20 câu còn lại): Tâm trạng Kiều sau khi “trao duyên”.

+ Kiều mong muốn “trở về” gặp lại người yêu.

+ Kiều hướng đến sự đồng cảm với người yêu.

+Tâm trạng tuyệt vọng của Kiều bởi mâu thuẫn trong tâm hồn nàng (tình yêu sâu nặng và sự chia biệt vĩnh viễn) vẫn không thể giải quyết.

3. Phân tích nghệ thuật xây dựng lời thoại và độc thoại của nhân vật

Gợi ý:

Đoạn trích là một đoạn lời thoại hoàn chỉnh của nhân vật. Nhưng tính chất đối thoại đổi thay dần theo diễn biến tâm lí và cảm xúc của Kiều. Thoạt đầu xưng hô “chị em”; nhưng từ dòng 15 đến dòng 26, Kiều cảm thấy hạnh phúc đời mình đến đây chấm dứt nên tự xưng mình là “người mệnh bạc”, “người thác oan”, “hồn”. Từ dòng 27 cho đến hết, Kiều như quên đang nói với em, chuyển sang nói với Kim Trọng đang vắng mặt, đó là lời đối thoại đau đớn với người yêu trong tưởng tượng. Dòng 27 – 28 là lời than, dòng 29 – 30 là lời nói với Kim Trọng trong tưởng tượng, dòng 31 – 32 lại là lời than, dòng 33 – 34 lại nói với Kim Trọng trong tưởng tượng. Ở đây, dấu hiệu độc thoại nội tâm là người đối thoại trực tiếp (Thuý Vân) không hiện diện nữa. Cho dù Thuý Vân vẫn còn ngồi ở đó, nhưng lời của Kiều không hướng tới nàng. Kiều lúc này chỉ sống với chính mình, với người yêu của mình nên lời nàng hướng vào nội tâm, thể hiện nỗi đau đớn đến quằn quại của riêng nàng. Ở vào trạng thái đau đớn đến cùng cực, người ta mất luôn ý thức về thực tại. Lời độc thoại này có tác dụng thể hiện trạng thái tâm lí ấy. Và giọng thơ từ chỗ đau đớn bỗng oà thành tiếng khóc: “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! – Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

4. Bình luận về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong đoạn trích

Gợi ý: Nguyễn Du đã thể hiện một nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện.

Thuý Kiều nhờ em gái là Thuý Vân thay mình lấy một người mà em chưa thực quen biết. Dù Thuý Vân tính tình đơn giản thế nào thì yêu cầu này cũng quá ư đột ngột, bởi đây là chuyện quan hệ đến cả một đời người. Vì thế lời của Kiều vừa trông cậy, vừa nài ép. Để thể hiện sắc thái này, Nguyễn Du đã rất công phu trong lựa chọn từ ngữ trong ngôn ngữ nhân vật: “cậy”, mời em “ngồi lên cho chị lạy”, rồi sẽ “thưa”,…

Cậy em, em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Kiều dùng “cậy” mà không dùng “nhờ” vì “cậy” có ý nói khó, vật nài buộc người khác phải nghe mình, không cho từ chối; còn nhờ thì tuỳ ý, không có ý nài ép. Kiều dùng “chịu lời” mà không nói “nhận lời”. “chịu lời” là nhận lời làm việc không do mình tự nguyện, hoặc một việc khó chối từ. Chữ “có” ở đây tuy được dùng với ý ướm hỏi cho lịch sự, nhưng thực chất là ép buộc: “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”. Hai chữ “mặc em” nói rõ cái ý ép buộc.

5. Bi kịch tình yêu của Kiều được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

Gợi ý:

Bi kịch ở đây được hiểu là tâm trạng của một người biết rất rõ, ý thức rất rõ về nỗi đau khổ của mình mà không có cách nào để giải thoát được. Với Thuý Kiều, bi kịch tình yêu là nỗi đau về sự tan vỡ tình yêu hoàn toàn do khách quan đ­ưa lại. Kiều thiết tha yêu Kim Trọng và mong muốn tình yêu được đẹp mãi, đã thề nguyền kết duyên trăm năm nhưng vì để cứu gia đình mà nàng phải phụ tình Kim Trọng. Biết rằng như thế sẽ rất đau khổ, trao duyên cho em cũng chỉ là một cách an ủi phần nào tình yêu với Kim Trọng mà thôi. Biết tr­ước đau khổ mà không có cách nào giải thoát. Đó là nguồn cơn tâm trạng bi kịch của nhân vật trong đoạn trích.

6. Bình luận nhan đề Trao duyên

Gợi ý:

- Chữ duyên theo giáo lí của nhà Phật là nguyên do tạo ra số phận, sau này được hiểu rộng hơn là sự định sẵn từ kiếp trước cho tình cảm của hai người (thường là tình cảm vợ chồng).

- Duyên là một khái niệm có tính chất vô hình, do đó trao duyên là một điều khó khăn, nhất là với những người có đời sống nội tâm sâu sắc như Thuý Kiều. Trao duyên là một sự hi sinh rất lớn. Tr­ước đó Kiều đã hi sinh tình yêu để làm bổn phận người con hiếu thảo: “Làm con tr­ước phải đền ơn sinh thành”. Nay, trao duyên cho Vân là hi sinh tình yêu của mình vì hạnh phúc của người mà mình yêu. Do vậy, hành động của Kiều làm cho hình tượng nhân vật trở nên cao cả hơn, đẹp đẽ và đáng khâm phục hơn.

7. Phân tích tâm trạng Thuý Kiều thể hiện qua hai câu thơ:

Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung.

Gợi ý:

Trong màn kịch trao duyên, Thuý Kiều đã trao kỉ vật của tình yêu cho Thuý Vân, đó là tờ hoa tiên ghi lời thề nguyền của Kiều và Kim Trọng, chiếc vành tr­ước đây Kim Trọng trao cho Kiều làm của tin, bây giờ đều được trao lại cho Vân. Nhưng mâu thuẫn nảy sinh ở chi tiết, vật thì trao cho em “giữ” nhưng duyên thì muốn để lại làm “của chung”. Cũng có thể xem là mâu thuẫn giữa cảm xúc và lí trí. Về lí trí, Kiều muốn Kim Trọng được hạnh phúc nên gá nghĩa Thuý Vân cho chàng. Nhưng về tình, vì tình yêu của Kiều với chàng Kim sâu sắc quá nên không muốn trao gửi. Đây hoàn toàn là tâm lí của tình yêu sâu nặng và đích thực. Tình yêu sâu nặng mà vẫn phải trao duyên chứng tỏ sự hi sinh của Kiều rất lớn lao.

8. Tác giả đã khắc hoạ tâm trạng Kiều như thế nào sau khi “trao duyên”?

Gợi ý:

Nếu như phần trên của đoạn trích còn là sự đấu tranh giữa lí và tình, là sự hi sinh vì người mình yêu, thì đến đoạn cuối, sau khi trao duyên, Kiều đã nghĩ đến mình. Giọng điệu của đoạn thơ trở thành giọng điệu thương thân của chính nhân vật.

Kiều quan niệm trao duyên tức là đã mất Kim Trọng, như thế thì đời mình coi như cũng hết. Nghĩ đến tương lai, Kiều thấy cái chết hiện diện và khi đó oan hồn của bản thân sẽ theo gió tìm về chốn cũ:

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

Và Kiều đã tưởng tượng oan hồn của mình sẽ cất lời cầu xin chân thành và tội nghiệp:

Rảy xin chén n­ước cho người thác oan

Nàng vô cùng đau khổ khi nghĩ đó là tương lai sắp tới mà mình không tránh được. Do đó, Kiều đã khóc, khóc một cách tuyệt vọng cho tình yêu ngắn ngủi của mình:

Bây giờ trâm gãy bình tan

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân

Tiếng khóc cho mối tình tan vỡ, tiếng khóc cho thân phận khổ đau cất lên từ nhân vật chính của tác phẩm đã đánh động tâm can bao người đương thời và hậu thế. Như thế, ở đây tiếp tục xuất hiện mâu thuẫn không thể giải quyết giữa tình yêu mãnh liệt và sự chia biệt vĩnh viễn, tức là giữa lí và tình.

9. Thông điệp được gửi gắm qua đoạn thơ Trao duyên

Đoạn trích không chỉ giàu giá trị nghệ thuật cũng như nội dung sâu sắc mà nó còn mang nhiều thông điệp ý nghĩa:

  • Xã hội cần có sự thay đổi trong hệ thống pháp luật để con người không phải chịu những bản án oan ức.
  • Người phụ nữ cần được coi trọng, không phải là món hàng hóa để có thể mua bán. Phụ nữ cần được yêu thương, nâng niu, bao bọc, che chở.
  • Tình yêu đóng góp một phần rất quan trọng trong cuộc sống tuy nhiên phải đặt chữ hiếu lên trên; phải biết đền đáp công ơn của cha mẹ bằng những hành động, việc làm thiết thực.

10. Từ đoạn thơ Trao duyên, liên hệ hình ảnh Kiều với hình ảnh người phụ nữ trong xã hội hiện nay

  • Thúy Kiều là hình ảnh đại diện cho những người phụ nữ trong xã hội phong kiến, họ không có tiếng nói, không được tôn trọng. Dù nàng là một thiếu nữ xinh đẹp, tài năng nhưng không tránh khỏi cuộc đời long đong, lận đận. Chính xã hội bất công đã đẩy cuộc đời nàng trôi nổi, khốn khổ suốt bao nhiêu năm. Tuy nhiên, họ không có quyền cất lên tiếng nói đòi quyền bình đẳng cho mình mà chỉ im lặng, cam chịu.
  • Ngày nay, khi xã hội phát triển, con người được đối xử công bằng hơn, người phụ nữ cũng từ đó mà được tôn trọng, được đối xử bình đẳng hơn. Họ có địa vị trong xã hội, có tiếng nói, được tôn trọng và có những thành công nhất định của mình. Ngoài ra, xã hội cũng như chính phủ các nước cũng có những chính sách thiết thực bảo vệ quyền và lợi ích của người phụ nữ.

⇒ Xã hội phát triển, người phụ nữ cũng ngày càng được coi trọng và có những giá trị riêng của mình. Họ được yêu thương và trân trọng nhiều hơn.

Bài Trao duyên trên đây được VnDoc tổng hợp và chia sẻ tới các bạn. Hy vọng với tài liệu này sẽ giúp ích cho các bạn học sinh biết cách làm bài phân tích, soạn văn thế nào cho hay, các thầy cô giáo cũng có thể lấy đây là tài liệu tham khảo. Đồng thời VnDoc cũng gửi đến các bạn học sinh cùng quý thầy cô những chủ đề liên quan dưới đây để tham khảo

------------------------------------

Trên đây VnDoc.com đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Trao duyên. Để có kết quả cao hơn trong học tập, VnDoc xin giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu Đề thi học kì 1 lớp 10, Thi thpt Quốc gia môn Văn, Thi thpt Quốc gia môn Địa lý, Thi thpt Quốc gia môn Lịch sử mà VnDoc tổng hợp và đăng tải.

Đánh giá bài viết
12 17.648
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Ngữ văn lớp 10 Xem thêm