Phân tích đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây

Các bạn học sinh thân mến! Để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 10, VnDoc.com đã tổng hợp và đăng tải tài liệu: Phân tích đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây, với những bài văn mẫu hay sẽ phục vụ các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập.

Học tốt Ngữ văn lớp 10: Phân tích đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây

Dàn ý Phân tích đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây

1) Mở bài: Nguyên nhân trận đánh

  • Đã từ lâu, ở trên cao nguyên hùng vĩ, tù trưởng Mtao Mxây nổi tiếng giàu có khắp vùng.
  • Hắn cậy thế mạnh, dám cướp vợ ta là Hơ Nhị mang về nhà trong lúc ta đi vắng.

2) Thân bài: Diễn biến trận đánh:

  • Nghe tin, ta giắt dao vào thắt lưng, vội vã đến nhà hắn
  • Miêu tả sơ qua về nhà Mtao Mxây: rất lớn, đầu sàn hiên đẽo hình mặt trăng, dầu cầu thang đẽo hình chim ngói, rất đẹp, cầu thang rộng bằng một lá chiếu, người nối đuôi nhau lên xuống mà khiêng một ché rượu lớn vẫn không sợ chật.
  • Bắc tay lên miệng gọi to: "Mtao Mxây xuống đây! ...", Mtao Mxây nói vọng ra: "Ta không xuống đâu......"
  • Ta tức giận thét lên" Ngươi không xuống ư....."
  • Mxây biết tính ta xưa nay nói là làm nên hắn hoảng hốt hứa rằng từ từ sẽ xuống nhưng chỉ xin ta đừng đâm hắn.
  • Ta cười nhạt bảo đến con lợn nái của nhà hắn ở dưới đất, ta cũng chẳng thèm đâm nữa là.
  • Miêu tả bề ngoài (dáng vẻ, quần áo, dáng đi....) của Mtao Mxây khi ra mặt qua mắt Đăm Săn.
  • Hai người giao đấu. Ta dồn hắn vào thế bị động chống đỡ, đuổi hăn chạy khắp núi rừng nhưng không thể nào đâm chết hắn.(Chú ý miêu tả qua khí thế vào cách múa khiên của cả 2 nhân vật).
  • Ta than thở kêu trời. Trời mách cho ta cách ném chày vào vành tai hắn. Hắn đã bị ta hạ gục và cắt đầu bêu ngoài đường (Chú ý tự miêu tả chi tiết cảnh Đăm Săn bị thương ....).
  • Dân làng và tôi tớ vủa Mtao Mxây quyết định đi theo ta (Miêu tả chi tiết cảnh kêu gọi của Đăm Săn).

3) Kết bài: Thế là từ đó, ta trở thành vị tù trưởng giàu mạnh nhất khắp vùng. Ta mở tiệc tùng linh đình, ăn uống đông vui, kéo dài suốt cả mùa khô. Cho đến lúc rượu đã nhạt, ché đẫ phai thì khách mới lần lượt ai về nhà nấy

Phân tích tác phẩm Chiến thắng Mtao Mxây mẫu 1

Nhân vật Đăm Săn nổi bật lên trong toàn bộ cuốn sử thi nói chung và đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” nói riêng hai khía cạnh. Một mặt, đó là con người hội đủ những phẩm chất cá nhân như trí tuệ, tài năng, nhân cách, khát vọng. Mặt khác, đó còn là sự gắn bó, liên kết với cộng đồng mà chính chàng là tù trưởng. Với cái nhìn ấy, ta thấy nhân vật Đăm Săn đã tự khẳng định mình trong những biến cố, sự kiện ở đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây”.

Xét về tình tiết trong mô hình cốt truyện thì cuộc giao tranh giữa Đăm Săn với các tù trưởng khác không chỉ xảy ra có một lần. Dường như nhu cầu mở rộng lãnh địa, tăng cường lực lượng, khẳng định quyền uy... là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những cuộc giao tranh ấy. Nhưng trong các cuộc chiến xảy ra thì cuộc đối mặt giữa Đăm Săn với Mtao Mxây có tính chất điển hình hơn cả.

Đối thủ của Đăm Săn là Mtao Mxây, một đối thủ ngang tầm. Tuy võ nghệ không thuộc hàng cao thủ nhưng Mtao Mxây là một kẻ “túc trí đa mưu”, lấy sự sắc sảo, khôn ngoan làm sức mạnh cho mình. Không tin vào bản thân thì làm sao dám táo tợn cướp vợ của Đăm Săn! Và khi biết Đăm Săn tới để làm gì rồi mà còn khiêu khích “Ta không xuống đâu, diêng ơi. Tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta…”.

Thái độ nghênh chiến của Mtao Mxây khá đàng hoàng: “Bà con xem, khiên hắn tròn như đầu cú, gươm hắn óng ánh như cái cầu vồng. Trông hắn dữ tợn như một vị thần”. Có thể nói, đó là tư thế tự tin. Tự tin nhưng thận trọng. Hai lần Mtao Mxây nhắc Đăm Săn không được đâm mình khi Mtao Mxây đi xuống và lúc đi xuống rồi vẫn còn do dự, đắn đo. Cách ứng xử của Mtao Mxây theo lối “quân tử phòng thân” luôn đề phòng bất trắc.

Bước vào cuộc chiến, Mtao Mxây nhường cho Đăm Săn múa khiên trước với một thái độ khiêm tốn giả vờ. Giả vờ nói rằng võ nghệ của mình kém cỏi: “Ta như gà làng mới mọc cựa, như gà rừng mới mọc cựa êchăm, chưa ai giẫm phải mà đã gãy mất cánh”. Võ nghệ ấy là chắp vá: “Có cậu, ta học cậu. Có bác, ta học bác. Có thần Rồng, ta học thần Rồng”. Nhưng từ sự giả vờ ấy đã lộ ra một câu nói thật: “Thế ngươi không biết ta đây là một tướng đã quen đi đánh thiên hạ, bắt tù binh, đã quên đi xéo nát đất đai thiên hạ hay sao?”. Không phải vô tình mà câu kể khan của người dẫn truyện ngay từ đầu đã phác ra cái vẻ sang trọng, tôn nghiêm, bề thế của Mtao Mxây, một tù trưởng giàu mạnh trong vùng. Cái cách giả vờ ấy phải chăng làm cho đối thủ chủ quan, khinh suất?

Mặc cho Đăm Săn khinh bỉ, mặc cho mình múa khiên không đẹp (múa “kêu lạch xạch như quả mướp khô”), tốc độ lại chậm chạp, nặng nề (“bước cao bước thấp”) nhưng Mtao Mxây không nản lòng. Y rắp tâm chờ cơ hội. Và khi cơ hội đến, hành động của Mtao Mxây nhanh hơn một chớp mắt: đâm lén Đăm Săn. Khi Mtao Mxây “chém phập một cái”, chắc chắn Đăm Săn không khỏi giật mình. May cho Đăm Săn là nhát chém quá nhanh và không ngờ ấy của địch lợi hại “chỉ vừa trúng một cái chão cột trâu”.

Hai trợ thủ cuối cùng của Mtao Mxây là miếng trầu của Hơ Nhị và cái áo giáp che thân. Đăm Săn chỉ vô hiệu hóa được con bài thứ nhất, đến con bài thứ hai thì Đăm Săn đã bất lực hoàn toàn. Đùi Mtao Mxây bị đâm trúng nhưng không thủng, người Mtao Mxây cũng thế. Nếu không có sự giúp sức của Ông Trời thì Đăm Săn chắc chắn sẽ trắng tay, cả danh dự và quyền uy vì chàng sẽ là người bại trận.

Nhìn chung cách khắc họa nhân vật (cả Mtao Mxây và Đăm Săn) của đoạn trích là kết hợp hai yếu tố: đối thoại giữa các nhân vật và lời người dẫn chuyện. Riêng với nhân vật Đăm Săn, tác giả cuốn truyện còn thực hiện phép đối xứng nghệ thuật nữa. Bằng cách ấy, nhân vật Đăm Săn xuất hiện như một điểm nhấn rực rỡ, sáng ngời.

Trước hết, chàng là người cương trực, thẳng thắn, không đê tiện, nhỏ nhen. Bởi vậy khi chạm vào những ý nghĩa hèn hạ, mờ ám của Mtao Mxây, Đăm Săn như người đụng phải lửa. Hai lần Mtao Mxây cất tiếng (“không được đàm ta khi ta đang đi xuống”) là hai lần Đăm Săn như thấy lòng tự trọng bị tổn thương. Qua đối thoại của chàng, ta cảm nhận được sự khinh khi, tức giận: “Ngươi xem, đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đất, ta cũng không thèm đâm nữa là!”. Và đối lập với những ý nghĩ vẩn đục của Mtao Mxây, tâm hồn của Đăm Săn thật là trong sáng.

Mặc dù đến nhà Mtao Mxây để gây chiến vì Đăm Săn có lý do khiêu chiến, nhưng chàng không vội ra tay. Phải bình tĩnh đến mức nào đó để không làm cho cơn giận bùng lên, Đăm Săn mới nhường cho Mtao Mxây múa khiên trước. Chỉ thực sự gai mắt khi chứng kiến lời nói của đối thủ, khoác lác huênh hoang mà thực tài kém cỏi, Đăm Săn mới thực sự rung khiên.

Tài nghệ phi thường của Đăm Săn được chứng thực trong cuộc múa khiên hùng tráng. Có đến hai dụng ý nghệ thuật của tác phẩm sử thi mà người kể khan đã dùng đắc địa. Thứ nhất là biện pháp đối lập hai chiều (giữa cảnh Mtao Mxây múa gươm trước với cái cách múa khiên đầy tốc độ của Đăm Săn “Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh. Một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô” là những đường gươm chậm chạp, nặng nề của Mtao Mxây: “bước cao bước thấp chạy hết bãi tây sang bãi đông”. Thứ hai là vai trò của người dẫn truyện. Trong đợt múa khiên tiếp theo, đối xứng nghệ thuật đã không còn. Thay vào đó là lời thuyết minh của người chứng kiến. Trong lần múa khiên này, võ nghệ của Đăm Săn không còn là tốc độ mà chuyển sang cường độ. Nếu tốc độ múa khiên của chàng cứ thấy “vun vút” (“vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”) thì cường độ múa khiên của chàng lại là một trận bão lớn. Chỉ còn lại một hào hứng, một tung hô đầy kinh ngạc: “Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc. Chòi lẫm đổ lãn lóc. Cầy cối chết rụi. Khi chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng đĩa khiên đồng. Khi chàng múa trên cao, vang lên tiếng đĩa khiên kênh. Khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung…”. Thủ pháp cường điệu khoa trương thật thích hợp trong văn cảnh này. Nó làm đậm lên một sức mạnh, một năng lực phi phàm chỉ những người xuất chúng như Đăm Săn mới có. Như thế là kịch tính đã phát triển tới tốc độ, tính hàm súc, lắng đọng cũng đạt đến độ cao.

Nhưng sự cường điệu khoa trương không bao giờ là vô hạn. Sức mạnh của Đăm Săn quả là có giới hạn. Nó biết dừng lại ở sự có lý ngay cả trong tư duy có yếu tố thần thoại của tác phẩm sử thi. Trong trường hợp ấy cần có thần linh trợ giúp. Ông trời, ông bụt hiện lên đúng lúc từ những giấc mơ. Trời, bụt giúp người hoạn nạn. Trời, bụt cũng giúp cho những khát vọng lớn của con người. Nhân vật ông trời ở đây đứng về phía Đăm Săn, phát hiện cho chàng cái “gót chân A-sin” của địch thủ. Chỉ tới lúc đó, Mtao Mxây mới không còn một thành lũy nào ẩn nấp. Khi cái áo giáp của Mtao Mxây rơi xuống, hắn mới hiện nguyên hình là một kẻ yếu đuối biết bao! Hình ảnh cái chuồng lợn, chuồng trâu bẩn thỉu đã xuất hiện ở đầu đoạn văn, nay được lặp lại với một ý vị mỉa mai trên một tinh thần khác. Ở lần thứ nhất nó liên quan đến nhân cách của Mtao Mxây thì lần thứ hai nó lại liên quan đến sức mạnh của một kẻ không còn gì đáng sợ nữa.

Nếu cuộc chiến giữa Đăm Săn với Mtao Mxây khắc họa một phương diện của Đăm Săn, phương diện con người cá nhân thì cảnh trở về và lễ ăn mừng chiến thắng lại mở ra một góc khác của con người anh hùng đó: con người cộng đồng, con người xã hội.

Vốn là một tù trưởng giàu mạnh, Đám Săn có trách nhiệm với bộ tộc đã đành. Chính vì danh dự của Đăm Săn bị xúc phạm (Mtao Mxây cướp vợ của Đăm Săn) cũng là danh dự của bộ tộc bị xúc phạm mà chàng đã dấy binh. Chiến thắng kẻ thù rồi, danh dự được bảo vệ rồi, trách nhiệm của Đăm Săn tăng lên gấp đôi. Có trách nhiệm với tôi tớ, dân làng của mình, chàng có nghĩa vụ che chở cho tôi tớ, dân làng của Mtao Mxây nữa. Sự mở rộng địa bàn ở đây không có nghĩa thôn tính một cách áp đặt, giản đơn. Nó dựa trên nguyên tắc tự nguyện và người thủ lĩnh mới không hề có định kiến mà ngược lại hết sức bình đẳng, chân tình. Không một hiệu lệnh nào thúc ép, không một lời nói nào cao giọng răn đe. Đăm Săn đã gõ cửa từng nhà. Biện pháp nghệ thuật ở đây là hình thức tiếng vang. Một câu nói của Đăm Săn truyền đi, một câu trả lời vọng lại để rồi một câu hỏi từ đó lại lan xa từ nhà này qua nhà khác. Câu hỏi thứ nhất (của Đăm Săn): “Ơ nghìn chim sẻ, ơ vạn chim ngói! ơ tất cả tôi tớ bằng này! Các ngươi có đi với ta không?”. Câu trả lời thứ nhất (của dân làng): “Không đi sao được! Tù trưởng chúng tôi đã chết, lúa chúng tôi đã mục, chúng tôi còn ở với ai?”... Câu hỏi thứ hai (của Đăm Săn): “Ơ tất cả dân làng này, các ngươi có đi với ta không? Tù trưởng các ngươi đã chết, lúa các ngươi đã mục. Ai đi chăn ngựa hãy đi bắt ngựa! Ai giữ voi hãy đi bắt voi! Ai giữ trâu hãy đi lùa trâu về!”. Cứ như thế một cuộc chạy tiếp diễn ra tạo nên sự kết tinh, hòa đồng gắn bó hai bộ tộc của Đăm Săn và Mtao Mxây làm một.

Lễ mừng chiến thắng do đó không chỉ đóng khung trong nghĩa hẹp là trừng trị một kẻ ác (Mtao Mxây) đã thành công. Nó mang một ý nghĩa kép: vừa chiến thắng kẻ thù vừa nhân lên gấp đôi sức mạnh của bộ tộc. Bởi vậy, âm hưởng của bản anh hùng ca mới ngát trời hào hứng: rộn rã âm thanh của các loại chiêng có tiếng đồng tiếng bạc cùng với vòng nhạc rung lên làm cho tất cả mọi giống loài phải im tiếng để nhường chỗ cho một sự kiện trang nghiêm chưa từng có bao giờ. Và rồi sau cái phút nín lặng âm thanh ấy, một bản hòa ca còn hùng tráng hơn bởi có sự tham gia của “Lươn trong hang, giun trong bùn, rắn hổ, rắn mang đều chui lên nằm trên cao sưởi nắng”. Ếch nhái cũng hoan hỷ, vui mừng, cùng kỳ nhông ngoài bãi “kêu rên inh ỏi suốt ngày đêm”. Không gian cứ mở rộng ra đến cùng trời cuối đất. Không gian của niềm vui và không gian của danh tiếng Đăm Săn: “Nhà Đăm Săn đông nghịt khách... Các khách tù trưởng đều từ phương xa đến”. Lại nữa: “Danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi, đông tây đâu đâu cũng nghe danh tiếng Đăm Săn”.

Trong bối cảnh nhộn nhịp tưng bừng ấy, hình tượng Đăm Săn hiện lên như một vị thần: oai phong về ngoại hình và đầy sức sống tiền tàng nội lực. Lúc Đăm Săn nằm trên võng nghỉ ngơi “Tóc thả trên sàn, hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa”. Còn khi xuất hiện trước đám đông thì rực rỡ với “Ngực quấn chéo một tấm mên chiến, mình khoác một tấm áo chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang đủ giáo gươm, đôi mắt long lanh như mắt chim ghếch ăn hoa tre”. Đăm Săn, trong con mắt của tôi tớ, dân làng, khách khứa là một sức mạnh vô địch, “một trang tù trưởng mới giàu lên, đang tràn đầy sức trai, tiếng tăm lừng lẫy”.

Về nghệ thuật kể chuyện trong đoạn văn có những đặc điểm nổi bật như kể chuyện kết hợp với miêu tả tạo nên hứng thú của cảm giác liền mạch nhưng lại có điểm dừng, vừa bao quát vừa đi sâu vào từng chi tiết. Ở đây còn một sự kết hợp thứ hai giữa câu chuyện được kể và người kể nhằm cá thể hóa vai trò chủ quan vừa tạo không khí đang diễn ra vừa gây được sự đồng cảm của những người nghe trong hình thức diễn xướng. Riêng ngôn ngữ sử thi thì đoạn văn là một ví dụ điển hình. Ngôn ngữ ấy vừa giàu chất hội họa (thông qua hình ảnh) vừa giàu chất âm nhạc (thông qua nhịp điệu). Hình ảnh thì có khi là tả thực, có khi là phóng đại, cường điệu, khoa trương. Riêng về âm nhạc thì tuy đoạn văn được kể dưới hình thức văn xuôi nhưng rất gần với thơ ở nhịp điệu, tiết tấu cân xứng, hài hòa, du dương trầm bổng. Để chứng minh những điều nhận định trên đây không khó. Có điều chắc chắn là với cách kể ấy, với ngôn ngữ ấy, ta được lắng nghe một thứ phối hợp của nhiều thể loại, một thứ hòa thanh của nhiều nhạc cụ, làm thức dậy nhiều giác quan. Sức hấp dẫn của nó là không thể nào cưỡng nổi. Đó là dấu hiệu của một tác phẩm sử thi đạt tới đỉnh cao trong sự sáng tạo tuyệt vời.

Phân tích tác phẩm Chiến thắng Mtao Mxây mẫu 2

“Đăm Săn” là sử thi anh hùng nổi tiếng nhất của dân tộc Ê-đê nói riêng và của Việt Nam nói chung. Tác phẩm cho thấy vẻ đẹp ngoại hình và sức mạnh phi thường của người anh hùng Đăm Săn, không chỉ vậy người anh hùng Đăm Săn còn mang trong mình nhiều phẩm chất cao quý, lập nhiều chiến công lừng lẫy. Tất cả vẻ đẹp đó đã được tái hiện một cách đầy đủ trong đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây”.

Khi Đăm Săn cùng nô lệ của mình lên rẫy làm nương, Mtao Mxây - một tù trưởng tham lam, độc ác đã nhân cơ hội đó bắt cóc Hơ Nhị về làm vợ. Đăm Săn đến tận nhà chiến đấu đòi lại vợ, sau khi chiến thắng đã đưa nô lệ của Mtao Mxây về hợp nhất với bộ tộc của mình để trở nên hùng mạnh hơn. Đoạn trích đã thể hiện được vẻ đẹp phẩm chất anh hùng của Đăm Săn và sự hèn nhát, thất bại thảm hại của Mtao Mxây.

Trước và trong trận chiến đã bộc lộ đầy đủ vẻ đẹp phẩm chất của Đăm Săn và sự hèn nhát, tự kiêu của Mtao Mxây. Vợ bị bắt, Đăm Săn ngay lập tức dẫn dân làng đến nhà của Mtao Mxây để khiêu chiến với hắn, giọng điệu của Đăm Săn hết sức khinh bỉ kẻ thù: “Ơ diêng! Ơ diêng! Xuống đây! Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy”. Gọi Mtao Mxây là “diêng” - người bạn kết nghĩa với hàm ý mỉa mai, bởi họ trước đây đã từng là bạn bè tốt nhưng Mtao Mxây tráo trở lại đến cướp vợ của bạn. Trước lời khiêu chiến của Đăm Săn, Mtao Mxây sợ hãi từ chối không dám xuống, dáng điệu hết sức rụt rè, đắn đo “ngươi không được đâm ta khi ta đang đi xuống đó, nghe”. Trái ngược với thái độ rụt rè của Mtao Mxây, Đăm Săn khẳng khái khẳng định: “Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang xuống nhỉ? Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang đi nhỉ?” Kèm theo thái độ khinh bỉ: “Ngươi xem, đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đất ta cũng không thèm đâm nữa là. Ngươi xem đến con trâu nhà ngươi trong chuồng ta cũng không thèm đâm nữa là”. Chỉ qua những lời nói, cử chỉ ấy ta cũng thấy hai tính cách hoàn toàn trái ngược nhau, nếu như Đăm Săn chủ động, dũng cảm đối mặt với kẻ thù thì Mtao Mxây lại bị động, hèn nhát, sợ hãi không đáng mặt làm anh hùng, làm tù trưởng của mọi người.

Tính cách, phẩm chất của hai nhân vật càng được bộc lộ rõ hơn trong trận chiến. Với tinh thần thượng võ, Đăm Săn nhường cho kẻ thù quyền chủ động tấn công. Trái với dáng điệu Mtao Mxây “dữ tợn như một vị thần”, lời nói huênh hoang: “Ta là tướng quen đánh trăm trận, quen giày xéo đất đai thiên hạ”, thực tế hắn lại chạy bước thấp bước cao, hết sang bãi Đông lại bãi Tây, vung dao chém yếu ớt nên chỉ trúng vào chão cột trâu. Còn Đăm Săn trước những hành động đó của kẻ địch chỉ đứng im thể hiện thái độ khinh bỉ. Khi chàng múa khiên đã thể hiện tất cả vẻ đẹp dũng mãnh, oai hùng của mình: “Một lần xốc tới chàng vượt một đồi tranh. Một lần xốc tới nữa chàng vượt một đồi lồ ô. Chàng chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”. Hiệp đấu thứ ba đã quyết định thắng thua của cả hai nhân vật. Trong thế bí bách, Mtao Mxây yêu cầu nàng Hơ Nhị ném cho miếng trầu nhưng vì kém cỏi nên hắn không bắt trúng. Còn chàng Đăm Săn đã bắt trúng miếng trầu, khiến sức mạnh tăng lên gấp bội và chàng đã giành chiến thắng, mang được người vợ yêu quý trở về.

Đăm Săn trở về trong chiến thắng vang dội. Trước khi cùng dân làng trở về, chàng đã có những hành động, ứng xử hết sức đẹp đẽ: kêu gọi tôi tớ của Mtao Mxây đi theo mình để xây dựng một cộng đồng lớn, giàu mạnh. Lời kêu gọi ấy vô cùng tha thiết, hướng đến từng gia đình nhỏ để mong nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của họ. Không chỉ vậy, lời kêu gọi ấy còn rất thấu tình, đạt lý: “Ơ tất cả dân làng này, các ngươi có đi với ta không? Tù trưởng các ngươi đã chết, lúa các ngươi đã mục. Ai chăn ngựa, hãy đi bắt ngựa. Ai giữ voi, hãy đi bắt voi. Ai giữ trâu, hãy đi lùa trâu về”. Bởi vậy, lời kêu gọi đó đã nhận được sự đồng thuận của tất cả dân làng, họ đều có chung một mục đích xây dựng một cộng đồng to lớn, hùng mạnh để tất cả mọi người được hưởng ấm no, hạnh phúc: “Không đi sao được, làng chúng tôi phía bắc đã mọc cỏ gấu, phía nam đã mọc cỏ hoang, người giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa”. Họ về cùng Đăm Săn: “Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến, như mối. Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước”. Và khi trở về họ mở tiệc ăn mừng vô cùng lớn, kéo dài suốt mùa khô, tù trưởng các nơi tụ hội về chật ních người. Hình ảnh đó cho thấy sự lớn mạnh của buôn làng Đăm Săn, đã giàu có nay lại càng giàu có hơn. Tiếng tăm, vẻ đẹp phẩm chất và sức mạnh của chàng lại càng vang xa, khiến ai cũng ngưỡng mộ.

Bên cạnh hai nhân vật chính là Đăm Săn và Mtao Mxây cũng cần kể đến một số nhân vật khác như: Hơ Nhị và ông Trời, đây là hai nhân vật trợ thủ, xuất hiện để giúp Đăm Săn chiến thắng. Không chỉ vậy, họ còn giúp tôn vinh Đăm Săn, khẳng định tính chất chính nghĩa của nhân vật này. Ngoài ra cũng cần kể đến nhân vật quần chúng, đám đông, họ là những người hậu thuẫn cho Đăm Săn hoặc bị chàng thuyết phục bằng tài năng, phẩm chất. Tất cả bọn họ đều có một mục đích chung tôn vinh vẻ đẹp sức mạnh và phẩm chất của Đăm Săn.

Tác phẩm không chỉ hấp dẫn ở nội dung mà còn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật. Mỗi nhân vật đề có vai trò khác nhau với diễn biến sử thi khiến cho sử thi liên tục phát triển. Các nhân vật có một tính cách riêng. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ đặc sắc, linh hoạt; ngôn ngữ người kể chuyện có xen lời đối thoại khiến cho tác phẩm thêm sinh động, hấp dẫn. Nghệ thuật miêu tả sinh động, kết hợp linh hoạt các thủ pháp so sánh, phóng đại.

Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ đặc sắc, đoạn trích đã làm nổi bật vẻ đẹp anh hùng, dũng cảm của Đăm Săn. Vẻ đẹp của Đăm Săn là vẻ đẹp kết tinh của cả cộng đồng, nhân vật hội tụ sức mạnh của nhân dân, đó là vẻ đẹp, sức mạnh của lòng tự trọng, danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và luôn hướng đến mục đích cao cả xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phục cho cộng đồng.

Phân tích bài Chiến thắng Mtao Mxây mẫu 3

Đã bao đời nay những giọng kể khan trầm hùng vẫn cứ vang lên bên bếp lửa của nhà Rông các buôn làng Tây Nguyên, lưu truyền những truyền thuyết anh hùng Đam San, Xinh Nhã… Hình như nó đã tạo nên sự mạnh mẽ, gan góc, liều lĩnh, kiêu hùng ở mỗi người trai Tây Nguyên. Một trong những niềm tự hào của đồng bào Ê-đê chính là sử thi Tây Nguyên. Đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” đã thể hiện rõ vẻ đẹp của thiên sử thi này.

Về sử thi, có hai loại sử thi. Đó là sử thi thần thoại và sử thi anh hùng. Sử thi thần thoại kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài, sự hình thành các dân tộc và các vùng cư trú cổ đại của họ, sự xuất hiện nền văn minh buổi đầu. Nhân vật thường là các thần thánh, gần với thần thoại. Sử thi anh hùng Kể về cuộc đời và sự nghiệp của các tù trưởng anh hùng. Nhân vật là con người cụ thể, các anh hùng có sức mạnh, có tài năng và vẻ đẹp phi thường tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, ý chí của cả cộng đồng. Đăm Săn thuộc kiểu sử thi anh hùng.

Sử thi Đăm Săn của dân tộc Ê-đê kể về những chiến công của người anh hùng Đăm Săn, một tù trưởng hùng mạnh. Người anh hùng dám chống lại cả tục nối dây (chuê nuê), chặt cả cây thần Smuk. Chiến thắng các tù trưởng thù địch, làm cho buôn làng ngày càng giàu mạnh. Cuối cùng chàng chết trong rừng Sáp đen vì đi cầu hôn nữ thần Mặt trời, thể hiện khát vọng phóng túng của một tù trưởng hùng mạnh. Đăm Săn Chết nhưng con cháu của chàng tiếp tục con đường của cậu mình.

Thông qua nhân vật Đăm Săn, tác phẩm phản ánh những khát vọng to lớn của người Ê-đê trong buổi đầu của lịch sử bộ tộc. Khát vọng chinh phục khám phá tự nhiên huyền bí, họ đã bắt đầu chặt cây, đốt nương, biết xuống sông bắt cá, khát vọng có sức mạnh phi thường để chiến thắng kẻ thù, khát vọng tự do (thoát khỏi tục chuê nuê) và cuối cùng là khát vọng giàu có và hùng mạnh. Tác phẩm còn dựng lên một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống, con người của đồng bào Tây Nguyên, về thiên nhiên hùng vĩ nơi đây. Đây là một cuốn sĩ thư hay với ngôn ngữ sử thi có nhiều hình ảnh so sánh, phóng đại. Tác giả dân gian đã xây dựng thành công hình tượng người anh hùng Đăm Săn, đại diện cho cộng đồng Ê đê về vẻ đẹp, sức mạnh, lòng dũng cảm. Kết cấu trùng điệp. Mỗi khúc ca là một chiến công của người anh hùng Đăm Săn. Cốt truyện mang màu sắc thần thoại.

Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây nằm ở phần giữa tác phẩm, ngay sau sự kiện Mtao Mxây lợi dụng lúc Đăm Săn đi vắng, bắt người vợ xinh đẹp Hơ Nhị của chàng. Đoạn trích được chia làm hai cảnh: Cảnh đọ sức giữa Đăm Săn và Mtao Mxây, cảnh ăn mừng chiến thắng.

Toàn bộ diễn biến cuộc đọ sức giữa Đăm Săn và Mtao Mxây được miêu tả khá giàu kịch tích qua ba hiệp. Hiệp đấu thứ nhất diễn ra ở nhà Mtao Mxây. Với nghệ thuật so sánh người kể chuyện đã miêu tả và làm nổi bật được thật cụ thể quang cảnh giàu có của nhà Mtao Mxây: “Nhà Mtao Mxây đầu sàn hiên… không sợ chật”. Đăm Săn đang phải đối diện với kẻ thù giàu mạnh. Nhưng với thái độ dũng cảm, chẳng e sợ, ngại ngùng. Sự hùng mạnh của nhà Mtao Mxây chẳng có tác động gì tới chàng cả. Chàng đến tận nhà của Mtao Mxây: “Ơ diêng, xuống đây! Ta thách nhà người đọ dao với ta đấy”. Trước thái độ ấy của Đăm Săn, Mtao Mxây cũng ngạo nghễ, khiêu khích Đăm Săn: “Ta không xuống đâu, diềng ơi. Tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta ở trên nhà này cơ mà”. Thái độ ấy như lửa dội thêm dầu, nó càng làm cho Đăm Săn trở nên tức giận, khiêu chiến quyết liệt hơn “ Xuống, diêng ! Xuống, diêng ! Ngươi không xuống ư? Ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi ta bổ đôi, ta sẽ lấy cái cầu thang của nhà ngươi ta chẻ ra kéo lửa, ta hun cái nhà của nhà người cho mà xem”. Giọng điệu thách thức của Đăm Săn bừng bừng hơi nóng của sự giận dữ, chứa đựng sức mạnh của người có tính gan dạ, quả quyết, chàng đe dọa phá tan cái hiên nhà, cái cầu thang và ngôi nhà. Trước thái độ ấy của Đăm Săn, Mtao Mxây run sợ: “Người không được đâm ta… Ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang xuống…”. Đăm Săn thì đàng hoàng khẳng định “ Sao ta lại phải đâm ngươi… Đến con lợn… thèm đâm”. Cảnh khiêu chiến đã cho ta nhận thấy hai tính cách đối lập nhau. Nếu Mtao Mxây tỏ ra kém cỏi, hèn nhát thì Đăm Săn đàng hoàng. Lời thoại còn cho ta thấy rõ thái độ kể chuyện của tác giả dân gian đối với mỗi nhân vật. Ở đây, chân dung Mtao Mxây được miêu tả trực diện “Bà con xem, khiên hắn… dày nút…”, dáng điệu cử chỉ lại rất tần ngần “Mỗi bước đi mỗi bước đắn đo”. Tác giả dân gian đã sử dụng triệt để hiệu quả của thủ pháp đối lập làm nổi bật được bản chất ở hai con người.

Lúc vào trận, cả hai bên đều múa khiên nhưng thật đối nghịch. Mtao Mxây múa khiên trước nhưng hắn lại tỏ ra kém cỏi “Khiên hắn kêu… hắn múa một mình. Hắn bước cao bước thấp chạy hết bãi tây sang bãi đông…”, “Hắn vung dao… cái chão cột trâu”. Trong khi đó Đăm Săn thì rung khiên múa “Một lần xốc tới… vun vút qua phía tây”. Lời lẽ của Mtao Mxây khoe khoang, Đăm Săn không kể tài mà chỉ thể hiện bằng hành động. Nhưng mỗi lời chàng nói thể hiện sự khinh bỉ kẻ thù. Kết thúc hiệp đấu thứ nhất, Đăm Săn vẫn tạm thời chưa đánh được kẻ thù.

Cuộc đọ sức càng quyết liệt từ khi Hơ Nhị ném miếng trầu, Đăm Săn dành được sức khoẻ tăng lên gấp bội, chàng tiếp tục hiệp đấu thứ hai. Ở hiệp này Đăm Săn múa khiên trước, hành động của chàng nhanh thoăn thoắt và dũng mãnh. Người kể chuyện sử dụng những phóng đại kết hợp với so sánh bay bổng “chàng múa… bật rễ tung bay”. Với hình ảnh này, tác giả đã ngợi ca, thần thánh hoá người anh hùng Đăm Săn sánh ngang với sức mạnh gió bão thiên nhiên. Người kể chuyện có thái độ tôn vinh người anh hùng Đăm Săn. Ở hiệp này, hai lần đâm trúng Mtao Mxây nhưng cả hai lần đều đâm không thủng. Đăm Săn thấm mệt. Cuộc chiến vẫn tiếp diễn căng thẳng với hiệp đấu thứ ba.

Chàng Đăm Săn nằm mơ thấy ông Trời. Trời chỉ cho cách đánh thắng Mtao Mxây bằng cách ném cái chày mòn vào vành tai kẻ địch. Chàng nghe vậy bừng tỉnh chộp cái chày mòn ném vào vành tai kẻ địch. Ngay lập tức “cái giáp của Mtao Mxây rơi xuống… chuồng trâu” rồi nhanh chóng chàng đã đẩy Mtao Mxây đến chỗ phải cầu xin và điều đình“. Kết thúc hiệp đấu thứ ba, Đăm Săn cắt đầu Mtao Mxây bên ngoài đường. Chàng trở thành người thắng trận. Như vậy, chúng ta thấy chiến thắng này của Đăm Săn có vai trò trợ giúp đặc biệt của nhân vật ông Trời. Nhân vật ông Trời là một kiểu nhân vật phù trợ thường thấy trong văn học dân gian giống như ông Tiên, Bụt ở truyện cổ tích. Nhân vật này thường xuất hiện vào lúc con người bế tắc. Đó chỉ là phù trợ còn quyết định chiến thắng phải là Đăm Săn.

Chiến thắng của Đăm Săn thể hiện sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khát vọng cá nhân anh hùng với quyền lợi khát vọng của cả cộng đồng. Thể hiện lòng yêu mến của tập thể cộng đồng đối với cá nhân. Qua đó sử thi muốn nói đến ý chí thống nhất của toàn thể cộng động Ê-đê. Một biểu hiện quan trọng của ý thức dân tộc.

Đòi lại vợ là cái cớ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các bộ tộc dẫn đến chiến tranh để mở rộng bờ cõi. Ý nghĩa của sử thi là ở đó. Vì vậy thắng hay bại của người tù trưởng sẽ có ý nghĩa quyết định tất cả. Cho nên lời nói của dân làng phía Mtao Mxây đều tình nguyện đi theo Đăm Săn. Cho nên trong sử thi không nói nhiều về chết chóc mà chọn cảnh ăn mừng chiến thắng.

Tiệc ăn mừng chiến thắng được mở ra trong bối cảnh đoàn người cùng chiến lợi phẩm tấp nập vào buôn làng. Cảnh này được diễn tả bằng ngôn ngữ của người kể chuyện, trùng điệp những hình ảnh so sánh : “Đông… kiến mối” mang theo bao nhiêu của cái như “ong đi chuyển nước… cõng nước”. Đây đều là những chùm hình ảnh so sánh mang tính cụ thể gần gũi với đời sống. Trong bối cảnh đó Đăm Săn hiện lên hòa cùng với tôi tớ ăn mừng chiến thắng. Hướng tới cộng đồng, Đăm Săn tuyên bố chiến thắng với lũ làng, chàng ra lệnh cho mọi người hãy dâng rượu, bắt trâu dâng lên thần linh : “rượu năm ché… nhà giàu về”. Chàng kêu gọi mọi người đến đánh trống, chiêng ăn mừng chiến thắng: “ Hỡi anh em… treo đèn trong nhà”. “ Hãy đánh lên… phải ngừng kêu”.

Hình ảnh Đăm Săn được miêu tả bằng cái nhìn ngưỡng mộ của nhân dân. Đó là vẻ đẹp và sức mạnh của người anh hùng, thể hiện sức mạnh của cả thị tộc, sự thống nhất và niềm tin của cả cộng đồng. Giữa quang cảnh ăn uống tấp nập, Đăm Săn nổi bật lên “ tóc dài chảy đầy nong hoa”, “uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán”… “ Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, ….tiếng tăm lừng lẫy”. Những hình ảnh từ cơ thể được phóng đại “Bắp chân to bằng cây xà ngang… ngang tàng từ trong bụng mẹ”. Ngôn ngữ mang âm hưởng ngợi ca, thể hiện ngưỡng mộ của dân gian với người anh hùng. Người anh hùng có vẻ đẹp lý tưởng, phẩm chất anh hùng dũng cảm, cao thượng được cả cộng đồng tôn kính, danh tiếng của Đăm Săn là danh tiếng của cả cộng đồng.

Nếu như miêu tả cảnh giao đấu ngôn ngữ sử thi chủ yếu là đối thoại, thì miêu tả cảnh ăn mừng chiến thắng lại chủ yếu dùng những trường đoạn, câu cảm thán, hình ảnh so sánh, phóng đại… làm nổi bật được sự sung sướng, vui vẻ, tưng bừng của cả cộng đồng.

Đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” đã mang đến cho người đọc, người nghe cái nhìn độc đáo về người anh hùng Đăm Săn, đó không chỉ là người anh hùng có những phẩm chất tuyệt vời mà còn là mẫu hình anh hùng lí tưởng của đồng bào Ê-đê, thể hiện được khát vọng về một người thủ lĩnh tài giỏi, mang đến sự phát triển cho toàn bộ lạc. Cuộc chiến đấu của Đăm Săn thực chất là sự lí giải về nguyên nhân của các chiến tranh bộ lạc cũng như nhu cầu tất yếu của việc hợp nhất các bộ lạc thành một dân tộc thống nhất.

Phân tích văn bản Chiến thắng Mtao Mxây mẫu 4

“Đăm Săn” là một sử thi nổi tiếng của dân tộc Ê-đê kể lại cuộc đời của tù trưởng Đăm Săn. Trong đó, đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” đã để lại nhiều ấn tượng cho người đọc.

Đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” kể về hành trình đòi lại vợ của Đăm Săn. Khi nghe tin Đăm Săn cùng thuộc hạ rời khỏi bản làng. Mtao Mxây nghĩ ra cách cướp vợ của chàng. Hắn giả làm khách qua đường tìm đến nhà Đăm Săn, chả vờ bỏ quên cái con dao và nhờ nàng đem ra ngoài cho rồi bắt cóc Hơ Nhị đi. Đăm Săn nghe tin vô cùng giận dữ, đem quân đến nhà Mtao Mxây quyết tâm đòi lại vợ cho bằng được. Tuy nhiên, hắn không chịu ra ngoài giao chiến, Đăm Săn phải dọa phá nhà hắn mới chịu ra giao chiến. Mtao Mxây múa khiên yếu ớt, còn Đăm Săn thì vô cùng khỏe mạnh, dũng mãnh. Đăm Săn đâm trúng Mtao Mxây nhưng hắn mặc áo giáp nên không sao cả. Sau một hồi chiến đấu, Đăm Săn đuối sức và mơ màng thấy ông trời chỉ kế đánh bại Mtao Mxây. Chàng đánh bại được hắn và cứu lại được Hơ Nhị.

Trước hết, nguyên nhân diễn ra cuộc chiến xuất phát từ việc Mtao Mxây cướp vợ của Đăm Săn - điều này đã chứng tỏ Đăm Săn là một người trọng danh dự cá nhân, công đồng. Khi bước vào trận chiến, vì là người khiêu chiến nên Đăm Săn tỏ ra là một người thông minh, có khí phách và dũng cảm: “Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy”, “ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi ta bổ đôi”, “lấy cầu thang… ta chẻ ra kéo lửa”, “ta hun cái nhà của nhà ngươi”. Còn Mtao Mxây thì tìm cách khiêu khích: “Mtao Mxây: “tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta”, nhưng thực chất là vô cùng sợ hãi: “ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang đi lắm”. Trước liên tiếp những lời đe dọa của Đăm Săn, Mtao Mxây không còn cách nào khác là phải bước vào cuộc chiến.

Cuộc chiến đấu của hai tù trưởng diễn ra qua ba hiệp đấu - con số thường thấy trong mỗi trận chiến. Qua đó khẳng định chiến thắng cuối cùng của Đăm Săn là vô cùng xứng đáng. Trong hiệp đấu thứ nhất, Mtao Mxây “múa khiên như trò chơi, khiên kêu lạch xạch như quả mướp khô, chạy bước cao bước thấp, chạy hết từ bãi tây sang bãi đông, tự xem mình là tướng quen đánh trăm trận, quen xéo nát đất đai thiên hạ”. Còn Đăm Săn thì thách Mtao Mxây múa khiên trước, lúc Mtao Mxây múa khiên Đăm Săn không hề nhúc nhích. Lúc Đăm Săn múa “Một lần xốc tới, chàng vượt qua đồi tranh. Một lần xốc tới nữa chàng vượt qua đồi lồ ô. Chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”. Sự đối lập trong hành động của hai nhân vật đã cho thấy sự yếu đuối của Mtao Mxây và sự khỏe mạnh của Đăm Săn. Hiệp đấu thứ hai trở nên gay cấn hơn khi Đăm Săn trở nên mạnh mẽ hơn nhờ đớp được miếng trầu mà Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn, sức chàng như tăng lên gấp bội, múa khiên càng mạnh, càng nhanh, càng đẹp, “chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc…”. Đăm Săn đuổi theo Mtao Mxây trúng nhưng không thủng đầu vì bộ áo giáp trên người hắn. Hình ảnh “miếng trầu” cũng giống như một phần thưởng nhỏ của Hơ Nhị để tiếp thêm sức mạnh cho chàng. Cuối cùng, nhờ sự giúp sức của Ông Trời, Đăm Săn tìm ra kế sách để đánh bại Mtao Mxây. Chàng đã giành chiến thắng và cứu được vợ mình. Ông trời chính là đại diện của công lý, cũng là đại diện của sức mạnh trí tuệ.

Sau khi kết thúc trận chiến, Đăm Săn đã có những hành động thật đẹp. Chàng kêu gọi binh lính, đầy tớ của Mtao Mxây đi theo mình cùng nhau xây dựng một cộng đồng lớn mạnh hơn. Lời kêu gọi vô cùng chân thành và tha thiết: “Ơ tất cả dân làng này, các ngươi có đi với ta không? Tù trưởng các ngươi đã chết, lúa các ngươi đã mục. Ai chăn ngựa, hãy đi bắt ngựa. Ai giữ voi, hãy đi bắt voi. Ai giữ trâu, hãy đi lùa trâu về”. Lời kêu gọi ấy đã nhận được sự đồng thuận của dân làng, họ đều cùng chung một mục đích: “Không đi sao được, làng chúng tôi phía bắc đã mọc cỏ gấu, phía nam đã mọc cỏ hoang, người giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa”. Họ đã về cùng với Đăm Săn: “Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến, như mối. Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước”. Khi trở về, tất cả cùng nhau mở tiệc ăn mừng chiến thắng - cuộc vui kéo dài suốt mùa khô, tù trưởng khắp nơi đều kéo về. Điều ấy càng cho thấy sự lớn mạnh, phát triển của buôn làng dưới sự quản lý của tù trưởng Đăm Săn.

Đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây đã sử dụng thành công nghệ thuật miêu tả xen lẫn với kể chuyện cùng với việc xây dựng ngôn ngữ của người kể biến hóa linh hoạt, hướng tới nhiều đối tượng; ngôn ngữ đối thoại được khai thác ở nhiều góc độ. Ngôn ngữ trang trọng, kết hợp ngôn ngữ kể, tả của người dẫn truyện và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, ngôn ngữ giàu âm thanh và hình ảnh. Qua đó, đoạn trích đã khắc họa hình ảnh nhân vật Đăm Săn - biểu tượng cho sức mạnh, vẻ đẹp của con người Ê-đê không chỉ về tầm vóc mà còn về trí tuệ.

Tóm lại, đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” đã khắc họa được hình ảnh người anh hùng Đăm Săn - đại diện cho cộng đồng người dân Ê-đê. Một con người trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc.

Phân tích tác phẩm Chiến thắng Mtao Mxây mẫu 5

Đến với đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây”, người đọc sẽ thấy được hình ảnh Đăm Săn - một con người trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc. Đó chính là tình cảm cao cả nhất thôi thúc Đăm Săn chiến thắng và chiến đấu với kẻ thù.

Nội dung chính của đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” xoay quanh việc Mtao Mxây ganh ghét vì Đăm Săn có vợ đẹp nên quyết tâm bắt Hơ Nhị. Hắn dò la thông tin, khi biết được Đăm Săn đi vắng liền cải trang thành khách đến nhà Đăm Săn, khi trở về nghĩ ra lý do là để quên con dao và bảo Hơ Nhị mang hộ ra ngoài để bắt cóc nàng. Nghe tin vợ mình bị bắt, Đăm Săn tức tốc trở về, đem quan đến đánh Mtao Mxây để cứu vợ. Một cuộc chiến dữ dội diễn ra. Rút bài học từ tên Mtao Grư, Mtao Mxây mặc áo giáp cẩn thận, cầm khiên phòng thủ, không chịu giao chiến. Chỉ khi Đăm Săn dọa phá nhà, hắn mới dám ra giao chiến.

Mtao Mxây yếu ớt, kém cỏi còn Đăm Săn thì mạnh mẽ, tài giỏi khiến ai cũng nể sợ. Mtao Mxây sợ hãi bỏ chạy thì bị mũi lao đâm vào đùi, vào bụng nhưng do hắn mặc áo giáo nên không sao. Cuộc chiến diễn ra không phân thắng thua. Đăm Săn mệt mỏi mơ màng thì thấy ông trời bày cách tiêu diệt kẻ ác. Chàng liền làm theo. Đăm Săn lấy chày mòn ném trúng vành tai Mtao Mxây. Áo giáp rơi ra và ngay lập tức Đăm Săn kết thúc cuộc đời của kẻ thù nhanh chóng. Tù trưởng Mtao Mxây cầu xin Đăm Săn tha mạng. Nhưng Đăm Săn kiên quyết phải trừng trị kẻ ác - kẻ đã cướp vợ người khác một cách hèn hạ. Chàng chiến thắng vẻ vang danh tiếng nổi đình nổi đám.

Đăm Săn đã khiêu chiến với Mtao Mxây vì hắn cướp vợ của chàng là Hơ Nhị. Điều này chứng tỏ Đăm Săn là một người coi trọng danh dự cá nhân cũng như danh dự cộng đồng. Khi Đăm Săn đem quân đến, Mtao Mxay luôn tìm cách phòng thủ. Để dụ hắn ra chiến đấu, Đăm Săn liên tiếp đe dọa: “Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy”, “ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi ta bổ đôi”, “lấy cầu thang… ta chẻ ra kéo lửa”, “ta hun cái nhà của nhà ngươi”. Nhưng Mtao Mxây lại tìm cách khiêu khích: “Mtao Mxây: “tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta”, vì thực ra hắn đang sợ hãi: “ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang đi lắm”. Trước lời đe dọa của Đăm Săn, hắn buộc phải ra chiến đấu.

Liên tiếp ba hiệp đấu diễn ra, hành động của cả hai nhân vật đều được khắc họa rõ nét. Trong hiệp đấu thứ nhất, Mtao Mxây “múa khiên như trò chơi, khiên kêu lạch xạch như quả mướp khô, chạy bước cao bước thấp, chạy hết từ bãi tây sang bãi đông, tự xem mình là tướng quen đánh trăm trận, quen xéo nát đất đai thiên hạ”. Còn Đăm Săn thì thách Mtao Mxây múa khiên trước, lúc Mtao Mxây múa khiên Đăm Săn không hề nhúc nhích. Lúc Đăm Săn múa “Một lần xốc tới, chàng vượt qua đồi tranh. Một lần xốc tới nữa chàng vượt qua đồi lồ ô. Chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”. Sự đối lập trong hành động của hai nhân vật đã cho thấy sự yếu đuối của Mtao Mxây và sự khỏe mạnh của Đăm Săn. Hiệp đấu thứ hai trở nên gay cấn hơn khi Đăm Săn trở nên mạnh mẽ hơn nhờ đớp được miếng trầu mà Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn, sức chàng như tăng lên gấp bội, múa khiên càng mạnh, càng nhanh, càng đẹp, “chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc…”. Đăm Săn đuổi theo Mtao Mxây trúng nhưng không thủng đầu vì bộ áo giáp trên người hắn. Hình ảnh “miếng trầu” cũng giống như một phần thưởng nhỏ của Hơ Nhị để tiếp thêm sức mạnh cho chàng. Cuối cùng, nhờ sự giúp sức của Ông Trời, Đăm Săn tìm ra kế sách để đánh bại Mtao Mxây. Chàng đã giành chiến thắng và cứu được vợ mình. Ông trời chính là đại diện của công lý, cũng là đại diện của sức mạnh trí tuệ.

Kết thúc trận chiến, Đăm Săn kêu gọi binh lính, đầy tớ của Mtao Mxây đi theo mình cùng nhau xây dựng một cộng đồng lớn mạnh hơn. Lời kêu gọi vô cùng chân thành và tha thiết: “Ơ tất cả dân làng này, các ngươi có đi với ta không? Tù trưởng các ngươi đã chết, lúa các ngươi đã mục. Ai chăn ngựa, hãy đi bắt ngựa. Ai giữ voi, hãy đi bắt voi. Ai giữ trâu, hãy đi lùa trâu về”. Lời kêu gọi ấy đã nhận được sự đồng thuận của dân làng, họ đều cùng chung một mục đích: “Không đi sao được, làng chúng tôi phía bắc đã mọc cỏ gấu, phía nam đã mọc cỏ hoang, người giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa”. Họ đã về cùng với Đăm Săn: “Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến, như mối. Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước”. Khi trở về, tất cả cùng nhau mở tiệc ăn mừng chiến thắng - cuộc vui kéo dài suốt mùa khô, tù trưởng khắp nơi đều kéo về. Điều ấy càng cho thấy sự lớn mạnh, phát triển của buôn làng dưới sự quản lý của tù trưởng Đăm Săn.

Không chỉ hấp dẫn về nội dung mà còn ở cả nghệ thuật. Mỗi nhân vật đề có vai trò khác nhau với diễn biến sử thi khiến cho sử thi liên tục phát triển. Các nhân vật có một tính cách riêng. Ngôn ngữ đối thoại được khai thác ở nhiều góc độ. Ngôn ngữ trang trọng, kết hợp ngôn ngữ kể, tả của người dẫn truyện và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, ngôn ngữ giàu âm thanh và hình ảnh

Như vậy, đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” đã đem đến cho người đọc cảm nhận chân thực về hình ảnh người anh hùng trong sử thi “Đăm Săn” nổi tiếng của dân tộc Ê-đê.

Phân tích tác phẩm Chiến thắng Mtao Mxây mẫu 6

Nhân vật Đăm Săn nổi bật lên trong toàn bộ cuốn sử thi nói chung và đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây nói riêng hai khía cạnh. Một mặt, đó là con người hội đủ những phẩm chất cá nhân như trí tuệ, tài năng, nhân cách, khát vọng. Mặt khác, đó còn là sự gắn bó, liên kết với cộng đồng mà chính chàng là tù trưởng. Với cái nhìn ấy, ta thấy nhân vật Đăm Săn đã tự khẳng định mình trong những biến cố, sự kiện ở đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây.

Xét về tình tiết trong mô hình cốt truyện thì cuộc giao tranh giữa Đăm Săn với các tù trưởng khác không chỉ xảy ra có một lần. Dường như nhu cầu mở rộng lãnh địa, tăng cường lực lượng, khẳng định quyền uy... là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những cuộc giao tranh ấy. Nhưng trong các cuộc chiến xảy ra thì cuộc đối mặt giữa Đăm Săn với Mtao Mxây có tính chất điển hình hơn cả.

Đối thủ của Đăm Săn là Mtao Mxây, một đối thủ ngang tầm: Tuy võ nghệ không thuộc hàng cao thủ nhưng Mtao Mxây là một kẻ "túc trí đa mưu", lấy sự sắc sảo, khôn ngoan làm sức mạnh cho mình. Không tin vào bản thân thì làm sao dám táo tợn cướp vợ của Đăm Săn! Và khi biết Đăm Săn tới để làm gì rồi mà còn khiêu khích "Ta không xuống đâu, diêng ơi. Tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta..."

Thái độ nghênh chiến của Mtao Mxây khá đàng hoàng: "Bà con xem, khiên hắn tròn như đầu cú, gươm hắn óng ánh như cái cầu vồng. Trông hắn dữ tợn như một vị thần". Có thể nói, đó là tư thế tự tin. Tự tin nhưng thận trọng. Hai lần Mtao Mxây nhắc Đăm Săn không được đâm mình khi Mtao Mxây đi xuống và lúc đi xuống rồi vẫn còn do dự, đắn đo. Cách ứng xử của Mtao Mxây theo lối "quân tử phòng thân" luôn đề phòng bất trắc.

Bước vào cuộc chiến, Mtao Mxây nhường cho Đăm Săn múa khiên trước với một thái độ khiêm tốn giả vờ. Giả vờ nói rằng võ nghệ của mình kém cỏi: "Ta như gà làng mới mọc cựa kliê, như gà rừng mới mọc cựa êchăm, chưa ai giẫm phải mà đã gãy mất cánh". Võ nghệ ấy là chắp vá: "Có cậu, ta học cậu. Có bác, ta học bác. Có thần Rồng, ta học thần Rồng". Nhưng từ sự giả vờ ấy đã lộ ra một câu nói thật: "Thế ngươi không biết ta đây là một tướng đã quen đi đánh thiên hạ, bắt tù binh, đã quen đi xéo nát đất đai thiên hạ hay sao?". Không phải vô tình mà câu kể khan của người dẫn truyện ngay từ đầu đã phác ra cái vẻ sang trọng, tôn nghiêm, bề thế của Mtao Mxây, một tù trưởng giàu mạnh trong vùng. Cái cách giả vờ ấy phải chăng làm cho đối thủ chủ quan, khinh suất?

Mặc cho Đăm Săn khinh bỉ, mặc cho mình múa khiên không đẹp (múa "kêu lạch xạch như quả mướp khô"), tốc độ lại chậm chạp, nặng nề ("bước cao bước thấp") nhưng Mtao Mxây không nản lòng. Y rắp tâm chờ cơ hội. Và khi cơ hội đến, hành động của Mtao Mxây nhanh hơn một chớp mắt: đâm lén Đăm Săn. Khi Mtao Mxây "chém phập một cái", chắc chắn Đăm Săn không khỏi giật mình. May cho Đăm Săn là nhát chém quá nhanh và không ngờ ấy của địch lợi hại "chỉ vừa trúng một cái chão cột trâu".

Hai trợ thủ cuối cùng của Mtao Mxây là miếng trầu của Hơ Nhị và cái áo giáp che thân. Đăm Săn chỉ vô hiệu hóa được con bài thứ nhất, đến con bài thứ hai thì Đăm Săn đã bất lực hoàn toàn. Đùi Mtao Mxây bị đâm trúng nhưng không thủng, người Mtao Mxây cũng thế. Nếu không có sự giúp sức của Ông Trời thì Đăm Săn chắc chắn sẽ trắng tay, cả danh dự và quyền uy vì chàng sẽ là người bại trận.

Nhìn chung cách khắc họa nhân vật (cả Mtao Mxây và Đăm Săn) của đoạn trích là kết hợp hai yếu tố: đối thoại giữa các nhân vật và lời người dẫn truyện.

Riêng với nhân vật Đăm Săn, tác giả cuốn truyện còn thực hiện phép đối xứng nghệ thuật nữa. Bằng cách ấy, nhân vật Đăm Săn xuất hiện như một điểm nhấn rực rỡ, sáng ngời.

Trước hết, chàng là người cương trực, thẳng thắn, không đê tiện, nhỏ nhen. Bởi vậy khi chạm vào những ý nghĩa hèn hạ, mờ ám của Mtao Mxây, Đăm Săn như người đụng phải lửa. Hai lần Mtao Mxây cất tiếng ("không được đàm ta khi ta đang đi xuống") là hai lần Đăm Săn như thấy lòng tự trọng bị tổn thương. Qua đối thoại của chàng, ta cảm nhận được sự khinh khi, tức giận: "Ngươi xem, đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đất, ta cũng không thèm đâm nữa là!". Và đối lập với những ý nghĩ vẩn đục của Mtao Mxây, tâm hồn của Đăm Săn thật là trong sáng.

Mặc dù đến nhà Mtao Mxây để gây chiến vì Đăm Săn có lí do khiêu chiến, nhưng chàng không vội ra tay. Phải bình tĩnh đến mức nào đó để không làm cho cơn giận bùng lên, Đăm Săn mới nhường cho Mtao Mxây múa khiên trước. Chỉ thực sự gai mắt khi chứng kiến lời nói của đối thủ, khoác lác huênh hoang mà thực tài kém cỏi, Đăm Săn mới thực sự rung khiên.

Tài nghệ phi thường của Đăm Săn được chứng thực trong cuộc múa khiên hùng tráng. Có đến hai dụng ý nghệ thuật của tác phẩm sử thi mà người kể khan đã dùng đắc địa. Thứ nhất là biện pháp đối lập hai chiều (giữa cảnh Mtao Mxây múa gươm trước với cái cách múa khiên đầy tốc độ của Đăm Săn "Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh. Một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô" là những đường gươm chậm chạp, nặng nề của Mtao Mxây: "bước cao bước thấp chạy hết bãi tây sang bãi đông". Thứ hai là vai trò của người dẫn truyện. Trong đợt múa khiên tiếp theo, đối xứng nghệ thuật đã không còn. Thay vào đó là lời thuyết minh của người chứng kiến. Trong lần múa khiên này, võ nghệ của Đăm Săn không còn là tốc độ mà chuyển sang cường độ. Nếu tốc độ múa khiên của chàng cứ thấy "vun vút" ("vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây") thì cường độ múa khiên của chàng lại là một trận bão lớn. Chỉ còn lại một hào hứng, một tung hô đầy kinh ngạc: "Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc. Chòi lẫm đổ lãn lóc. Cây cối chết rụi. Khi chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng đĩa khiên đồng. Khi chàng múa trên cao, vang lên tiếng đĩa khiên kênh. Khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung...". Thủ pháp cường điệu khoa trương thật thích hợp trong văn cảnh này. Nó làm đậm lên một sức mạnh, một năng lực phi phàm chỉ những người xuất chúng như Đăm Săn mới có. Như thế là kịch tính đã phát triển tới tốc độ, tính hàm súc, lắng đọng cũng đạt đến độ cao.

Nhưng sự cường điệu khoa trương không bao giờ là vô hạn. Sức mạnh của Đăm Săn quả là có giới hạn. Nó biết dừng lại ở sự có lí ngay cả trong tư duy có yếu tố thần thoại của tác phẩm sử thi. Trong trường hợp ấy cần có thần linh trợ giúp. Ông trời, ông bụt hiện lên đúng lúc từ những giấc mơ. Trời, bụt giúp người hoạn nạn. Trời, bụt cũng giúp cho những khát vọng lớn của con người. Nhân vật ông trời ở đây đứng về phía Đăm Săn, phát hiện cho chàng cái "gót chân A-sin" của địch thủ. Chỉ tới lúc đó, Mtao Mxây mới không còn một thành lũy nào ẩn nấp. Khi cái áo giáp của Mtao Mxây rơi xuống, hắn mới hiện nguyên hình là một kẻ yếu đuối biết bao! Hình ảnh cái chuồng lợn, chuồng trâu bẩn thỉu đã xuất hiện ở đầu đoạn văn, nay được lặp lại với một ý vị mỉa mai trên một tinh thần khác. Ở lần thứ nhất nó liên quan đến nhân cách của Mtao Mxây thì lần thứ hai nó lại liên quan đến sức mạnh của một kẻ không còn gì đáng sợ nữa.

Nếu cuộc chiến giữa Đăm Săn với Mtao Mxây khắc họa một phương diện của Đăm Săn, phương diện con người cá nhân thì cảnh trở về và lễ ăn mừng chiến thắng lại mở ra một góc khác của con người anh hùng đó: con người cộng đồng, con người xã hội.

Vốn là một tù trưởng giàu mạnh, Đăm Săn có trách nhiệm với bộ tộc đã đành. Chính vì danh dự của Đăm Săn bị xúc phạm (Mtao Mxây cướp vợ của Đăm Săn) cũng là danh dự của bộ tộc bị xúc phạm mà chàng đã dấy binh. Chiến thắng kẻ thù rồi, danh dự được bảo vệ rồi, trách nhiệm của Đăm Săn tăng lên gấp đôi. Có trách nhiệm với tôi tớ, dân làng của mình, chàng có nghĩa vụ che chở cho tôi tớ, dân làng của Mtao Mxây nữa. Sự mở rộng địa bàn ở đây không có nghĩa thôn tính một cách áp đặt, giản đơn. Nó dựa trên nguyên tắc tự nguyện và người thủ lĩnh mới không hề có định kiến mà ngược lại hết sức bình đẳng, chân tình. Không một hiệu lệnh nào thúc ép, không một lời nói nào cao giọng răn đe. Đăm Săn đã gõ cửa từng nhà. Biện pháp nghệ thuật ở đây là hình thức tiếng vang. Một câu nói của Đăm Săn truyền đi, một câu trả lời vọng lại để rồi một câu hỏi từ đó lại lan xa từ nhà này qua nhà khác. Câu hỏi thứ nhất (của Đăm Săn): "ơ nghìn chim sẻ, ơ vạn chim ngói! ơ tất cả tôi tớ bằng này! Các ngươi có đi với ta không?". Câu trả lời thứ nhất (của dân làng): "Không đi sao được! Tù trưởng chúng tôi đã chết, lúa chúng tôi đã mục, chúng tôi còn ở với ai?"... Câu hỏi thứ hai (của Đăm Săn): "ơ tất cả dân làng này, các ngươi có đi với ta không? Tù trưởng các ngươi đã chết, lúa các ngươi đã mục. Ai đi chăn ngựa hãy đi bắt ngựa! Ai giữ voi hãy đi bắt voi! Ai giữ trâu hãy đi lùa trâu về!". Cứ như thế một cuộc chạy tiếp diễn ra tạo nên sự kết tinh, hòa đồng gắn bó hai bộ tộc của Đăm Săn và Mtao Mxây làm một.

Lễ mừng chiến thắng do đó không chỉ đóng khung trong nghĩa hẹp là trừng trị một kẻ ác (Mtao Mxây) đã thành công. Nó mang một ý nghĩa kép: vừa chiến thắng kẻ thù vừa nhân lên gấp đôi sức mạnh của bộ tộc. Bởi vậy, âm hưởng của bản anh hùng ca mới ngát trời hào hứng: rộn rã âm thanh của các loại chiêng có tiếng đồng tiếng bạc cùng với vòng nhạc rung lên làm cho tất cả mọi giống loài phải im tiếng để nhường chỗ cho một sự kiện trang nghiêm chưa từng có bao giờ. Và rồi sau cái phút nín lặng âm thanh ấy, một bản hòa ca còn hùng tráng hơn bởi có sự tham gia của "Lươn trong hang, giun trong bùn, rắn hổ, rắn mang đều chui lên nằm trên cao sưởi nắng". Ếch nhái cũng hoan hỉ, vui mừng, cùng kì nhông ngoài bãi "kêu lên inh ỏi suốt ngày đêm". Không gian cứ mở rộng ra đến cùng trời cuối đất. Không gian của niềm vui và không gian của danh tiếng Đăm Săn: "Nhà Đăm Săn đông nghịt khách... Các khách tù trưởng đều từ phương xa đến". Lại nữa: "Danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi, đông tây đâu đâu cũng nghe danh tiếng Đăm Săn".

Trong bối cảnh nhộn nhịp tưng bừng ấy, hình tượng Đăm Săn hiện lên như một vị thần: oai phong về ngoại hình và đầy sức sống tiền tàng nội lực. Lúc Đăm Săn nằm trên võng nghỉ ngơi "tóc thả trên sàn, hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa". Còn khi xuất hiện trước đám đông thì rực rỡ với "Ngực quấn chéo một tấm mên chiến, mình khoác một tấm áo chiến, tai đeo nụ, sát bên minh nghênhngang đủ giáo gươm, đôi mắt long lanh như mắt chim ghếch ăn hoa tre". Đăm Săn, trong con mắt của tôi tớ, dân làng, khách khứa là một sức mạnh vô địch, "một trang tù trưởng mới giàu lên, đang tràn đầy sức trai, tiếng tăm lừng lẫy".

Về nghệ thuật kể chuyện trong đoạn văn có những đặc điểm nổi bật như kể chuyện kết hợp với miêu tả tạo nên hứng thứ của cảm giác liền mạch nhưng lại có điểm dừng, vừa bao quát vừa đi sâu vào từng chi tiết. Ở đây còn một sự kết hợp thứ hai giữa câu chuyên được kể và người kể nhằm cá thể hóa vai trò chủ quan vừa tạo không khí đang diễn ra vừa gây được sự đồng cảm của những người nghe trong hình thức diễn xướng. Riêng ngôn ngữ sử thi thì đoạn văn là một ví dụ điển hình. Ngôn ngữ ấy vừa giàu chất hội họa (thông qua hình ảnh) vừa giàu chất âm nhạc (thông qua nhịp điệu). Hình ảnh thì có khi là tả thực, có khi là phóng đại, cường điệu, khoa trương. Riêng về âm nhạc thì tuy đoạn văn được kể dưới hình thức văn xuôi nhưng rất gần với thơ ở nhịp điệu, tiết tấu cân xứng, hài hòa, du dương trầm bổng. Để chứng minh những điều nhận định trên đây không khó. Có điều chắc chắn là với cách kể ấy, với ngôn ngữ ấy, ta được lắng nghe một thứ phối hợp của nhiều thể loại, một thứ hòa thanh của nhiều nhạc cụ, làm thức dậy nhiều giác quan. Sức hấp dẫn của nó là không thể nào cưỡng nổi. Đó là dấu hiệu của một tác phẩm sử thi đạt tới đỉnh cao trong sự sáng tạo tuyệt vời.

Phân tích tác phẩm Chiến thắng Mtao Mxây mẫu 7

Từ trước đến nay, khi nghiên cứu sử thi, các nhà nghiên cứu thường coi sứ thi là đối tượng của nghiên cún văn học mà quên mất rằng một trong những đặc điểm của sử thi là nó vẫn tồn tại một cách sinh động trong đòi sống của các dân tộc, noi nó được sinh thành và lưu giữ. Sử thi đối vói đồng bào Tây Nguyên không phải chỉ là một loại hình ngôn từ dân gian mà nó là loại hình diễn xướng dân gian, bao gồm cả nghệ thuật ngôn từ, ca hát, nhảy múa, nghĩa là nó ít nhiều mang tính chất của nghệ thuật sân khấu trình diễn. Nghiên cứu sử thi mà bỏ qua yếu tố diễn xướng tức là ta đã bỏ qua một bộ phận có ý nghĩa quan trọng về mặt văn hoá, đời sống. Phương thức diễn xướng sử thi là phương thức khá phổ biến và thống nhất ở mọi dân tộc có sử thi trên thế giới.

Sử thi là những tác phẩm có dung lượng lớn, nếu diễn xướng phải mất vài đêm mới hết. Diễn xướng sử thi đòi hỏi một thòi điểm, một không gian đặc biệt phù họp. Môi trường sinh hoạt quen thuộc của diễn xướng sử thi là môi trường lễ hội. Lễ hội đảm bảo không khí "thiêng", không khí cộng đồng cần thiết cho diễn xướng sử thi, vì nhân vật trung tâm của sử thi là những anh hùng có tầm vóc kì vĩ đại diện cho sức mạnh cộng đồng, được nhân dân tôn sùng, ngưởng vọng. Mùa lễ hội của dân tộc Tây Nguyên cũng như của các cư dân nông nghiệp khác, thường vào mùa nông nhàn, khoảng cách giữa của vòng quay chu kì sản xuất nông nghiệp, ở Tây Nguyên, đó là khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 3 âm lịch - khoảng thời gian mà thời tiết thuộc mùa khô chuẩn bị bước vào mùa mưa. Người dân được tận hưởng một khoảng thời gian rảnh rỗi, có lương thực dồi dào tích trữ cho cuộc sống và làm lễ vật phục vụ cho các nghi lễ cần thiết. Nghệ nhân kể sử thi đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc lưu giữ, sáng tạo và trình diễn tác phẩm. Những nghệ nhân này hầu hết là những người không biết chữ nhưng họ có khả năng nhớ một cách kì lạ những tác phẩm sử thi dài hàng ngàn, hàng vạn câu, họ có bề dày tri thức dân gian đa dạng của dân tộc mình. Lễ hội cũng là nơi thu hút du khách ở khắp nơi đến tham dự, tại các địa điểm sinh hoạt cộng đồng, quanh bếp lửa nhà rông. Sau nghi lễ ngoài trời, mọi người quây quần bên bếp lửa, bên vò rượu cần. Nghệ nhân kể khan ngồi bên bếp lửa và bắt đầu kể chuyện. Người nghe có khi đông đến nỗi phải ngồi ra phần sau ở ngoài trời. Thời gian tốt nhất để bắt đầu một cuộc diễn xướng sử thi là vào buổi tối. Có tài liệu ghi lại người chứng kiến buổi diễn xướng sử thi kể rằng: mọi người đến tham dự rất đông, họ ngồi suốt đêm, nghe say sưa đến nỗi, tối hôm trước họ ngồi thế nào thì sáng hôm sau vẫn thấy họ ngồi y nguyên như vậy.

1. Đặc điểm nội dung

Hình tượng Đăm Săn - người anh hùng lí tưởng của cộng đồng thị tộc Ê-đê - trong cuộc giao tranh với tù trưởng Mtao Mxây để giành lại vợ được tập trung khắc hoạ rõ nét theo bố cục ba phần, tương ứng với ba câu hỏi trong SGK:

- Cuộc chiến giữa Đăm Săn với Mtao Mxây.

- Cảnh Đăm Săn cùng tôi tớ trở về sau chiến thắng.

- Cảnh Đăm Săn cùng thị tộc ăn mừng chiến thắng.

a) Cuộc chiến giữa Đăm Săn với Mtao Mxây

Cuộc chiến đấu giữa hai tù trưởng được mô tả cặn kẽ theo trình tự các hiệp đánh. Ưu thế nổi trội của thể loại sử thi so với một số thể loại văn học dân gian khác là có sự kết họp hài hoà giũa kể chuyện và miêu tả. Ngôn ngữ kể chuyện đan xen với ngôn ngữ đối thoại giữa hai nhân vật càng làm tăng thêm kịch tính, giúp người nghe hiểu sâu hơn đặc điểm tính cách nhân vật.

- Đăm Săn khiêu chiến kẻ thù và thái độ ngạo mạn của Mtao Mxây:

Tù trưởng Mtao Mxây lừa lúc Đăm Săn cùng dân làng làm rẫy, đã kéo đến cướp phá buôn làng và bắt Hơ Nhị về làm vợ. Danh dự của một tù trưởng và bộ tộc bị xúc phạm, hạnh phúc gia đình và buôn làng bị đe doạ, Đăm Săn buộc phải cầm giáo đứng lên chiến đấu đòi lại công bằng.

Băng giọng tự tin vào sức mạnh của mình và sự khinh miệt, giễu cợt kẻ thù, Đăm Săn đã tìm cách khiêu chiến và buộc Mtao Mxây phải giao chiến: "ơ điêng, ơ điêng, xuống đây! Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy!", "Ngươi không xuống ư? Ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi ta bổ đôi...". Kịch tính tăng lên khi Mtao Mxây cũng trêu tức Đăm Săn: "Tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta ở trên nhà này cơ mà". Nhưng ngay từ đầu, trong ngôn từ của Mtao Mxây cũng thể hiện sự nghi ngại, thiếu tự tin trước Đăm Săn: "Ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang đi tắm".

- Cuộc chiến giữa hai tù trưởng:

Để thể hiện cuộc giao chiến giữa hai tù trưởng, tác giả dân gian đã sử dụng triệt để phương pháp so sánh tương phản, cấu trúc ngôn ngữ trùng điệp, lối so sánh sinh động, phép cường điệu, phóng đại nhằm nêu bật sự vượt trội của Đăm Săn về mọi phương diện. Một biện pháp quen thuộc trong các sử thi là luôn miêu tả tài năng của đối phương trước khi miêu tả tài năng người anh hùng. Mtao Mxây múa khiên trước, tiếng khiên của hắn "kêu lạch xạch như quả mướp khô". Khi Mtao Mxây múa khiên, Đăm Sân vẫn bình tĩnh, không hề run sợ, đứng yên "không nhúc nhích". Khi chưa nhìn thấy Đăm Săn múa khiên, Mtao Mxây vẫn còn huênh hoang: "Thế ngươi không biết ta đây là một tướng đã quen đi đánh thiên hạ, bắt tù binh, đã quen đi xéo nát đất đai thiên hạ hay sao?". Đối lập với hình ảnh tiếng khiên "lạch xạch như quả mướp khô" của Mtao Mxây, tài múa khiên của Đăm Săn đã được miêu tả cụ thể, sinh động, có sự tăng tiến trong cảm hứng say sưa của người kể chuyện:

+ Lần múa khiên thứ nhất: "Một lần xốc tói, chàng vượt một đồi tranh. Một lần xốc tói nữa, chàng vượt một đồi lồ ô. Chàng chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây".

+ Lần múa khiên.thứ hai: "Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc. Chòi lẫm đổ lăn lóc. Cây cối chết rụi. Khi chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng đĩa khiên đồng. Khi chàng múa trên cao, vang lên tiếng đĩa khiên kênh. Khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung". Còn Mtao Mxây thì thể hiện sự kém cỏi cả về thể xác lẫn tinh thần: "bước cao bước thấp, chạy hết bãi tây sang bãi đông. Hắn vung dao chém phập một cái, nhưng chỉ vừa trúng một cái chão cột trâu".

Qua việc tập trung miêu tả một cách kĩ lưỡng và sinh động tài nghệ múa khiên của Đăm Săn, tác giả đã khắc hoạ tầm kích vũ trụ, tài năng siêu phàm có thể sánh ngang với các thần linh của Đăm Săn.

Tại sao Đăm Săn vẫn phải cầu viện đến thần linh thì mới tiêu diệt được Mtao Mxây? Chi tiết Đăm Săn "đớp" được và nhai miếng trầu của Hơ Nhị ném cho làm tăng thêm chất trử tình của tác phẩm. Còn chi tiết khi thấm mệt, chàng mộng thấy ông Trời mách bảo (lấy một cái chày mòn ném vào vành tai hắn là được), không hạ thấp tài năng của chàng mà càng tăng thêm thanh thế, uy danh của chàng vì chàng là một tù trưởng được thần linh ủng hộ. Quan hệ giữa thần linh với Đăm Săn thật gần gũi, thân tình: "Ối chao, chết mất thôi, ông ơi! Cháu đâm mãi mà không thủng hắn!". Điều này thể hiện dấu ấn của tư duy thần thoại còn in đậm trong nghệ thuật sáng tạo sử thi. Nhưng ông Trời cũng chỉ là người "mách nước" còn quyết định vẫn là hành động trực tiếp của người anh hùng. Chỉ có Đăm Săn mới tự tay hạ gục được kẻ thù. Lời cầu xin của Mtao Mxây làm tăng tính kịch, nhưng Đăm Săn đã không hề khoan nhượng: "Chẳng phải vợ ta ngươi đã cướp, dùi ta ngươi đã đâm rồi sao?". Chàng hành xử với kẻ thù đúng như lối hành xử của các thủ lĩnh thời cổ đại: "Đăm Săn đâm phập một cái, cắt đầu Mtao Mxây đem bêu ngoài đường". Với người anh hùng sử thi, bị kẻ khác đến cướp vợ tại nhà mình là một hành động xúc phạm vô cùng lớn lao đến danh dự, mà danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất của người anh hùng. Làm sao Đăm Săn có thể tha thứ cho Mtao Mxây được.

b) Cảnh Đăm Săn cùng tôi tớ trở về sau chiến thắng

Có thể thấy rõ đặc điểm trong chiến trận của người anh hùng sử thi: Trong chiến trận, thường chỉ có hai thủ lĩnh giao chiến, tôi tớ, nô lệ dù "đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối" thì cũng chỉ chứng kiến cuộc chiến chứ không tham dự, vì người anh hùng là biểu trưng cao nhất cho lí tưởng, sức mạnh, tài năng và ý chí của cộng đồng, số phận của cá nhân anh hùng ảnh hưởng và thống nhất cao độ với số phận cộng đồng. Đoạn trích không say sưa miêu tả cảnh máu chảy đầu rơi của các chiến binh, của các tôi tớ, nô lệ. Điều này có thể so sánh với truyền thuyết Thánh Gióng của người Việt, với sử thi I-li-át của Hi Lạp. Thủ lĩnh chiến thắng, thu nhận tù binh của đối phương, mở rộng địa bàn lãnh thổ, tôi tớ vui mừng chia quả thực, ăn mừng chiến thắng tưng bừng. Thủ lĩnh thua, tôi tớ trở thành nô lệ của thủ lĩnh chiến thắng. Qua lời Đăm Săn hỏi ý kiến tôi tớ của Mtao Mxây sau chiến thắng có thể hiểu thêm tinh thần dân chủ công xã thị tộc thòi cổ đại: "Ơ nghìn chim sẻ, ơ vạn chim ngói ! ơ tất cả tôi tớ bằng này! Các ngươi có đi với ta không?". Việc miêu tả cuộc đối thoại giữa Đăm Săn và dân làng Mtao Mxây được lặp lại ba lần và có sự tăng tiến: Lần thứ nhất, Đăm Săn "gõ vào một nhà", lần thứ hai "đập vào phên tất cả các nhà trong làng", lần thứ ba "đập vào phên mỗi nhà trong làng".

Cả ba lần dân làng trả lời cùng một nội dung, chỉ khác nhau chút ít trong cách nói (ngôn ngữ sử thi đa dạng, có sự thay đổi một vài từ ngữ trong khuôn hình chung, không tạo sự nhàm chán cho người nghe). Ba lần hỏi, ba lần dân làng Mtao Mxây trả lời:

- Trả lời lần 1: "Không đi sao được! Tù trưởng chúng tôi đã chết, lúa chúng tôi đã mục, chúng tôi còn ở với ai?".

- Trả lời lần 2: "Không đi sao được! Nhưng bác ơi, xin bác chờ chúng tôi cho lợn ăn cái đã".

- Trả lời lần 3: "Không đi sao được! Làng chúng tôi phía bắc đã mọc cỏ gấu, phía nam đã mọc cà hoang, người nhà giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa!".

Biện pháp lặp lại giữa ba lần hỏi - đáp này thể hiện sự thống nhất cao độ giữa khát vọng, quyền lợi cá nhân anh hùng vói khát vọng, quyền lợi của cộng đồng, đồng thời thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn vinh tuyệt đối của dân làng đối với thủ lĩnh. Con số "ba" biểu trưng cho số nhiều vốn rất quen thuộc trong văn học dân gian.

Sau những lần đối thoại là cảnh mọi người đi theo Đăm Săn về làng đông và vui như đi trảy hội. "Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối. Bà con xem, thế là Đăm Săn nay càng thêm giàu có, chiêng lắm la nhiều. Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước".

Mỗi cuộc chiến tranh thời cổ đại, dẫu là vì nguyên nhân hôn nhân, trả thù hay chinh phục tự nhiên thì kết quả cũng là sự mở rộng địa bàn, lãnh thổ, thể hiện quá trình liên minh bộ tộc, khiến cho bộ tộc nào đã giàu càng giàu thêm, đã mạnh càng mạnh hơn nữa. Đoạn trích này là một minh chứng sáng rõ, phản ánh lịch sử các bộ tộc trên con đường hình thành dân tộc thời cổ đại.

c) Cảnh Đăm Săn cùng thị tộc ăn mừng chiến thắng

Phần kết thúc đoạn trích này không có lời đối thoại ngắn gọn, đầy kịch tính giữa các nhân vật như hai đoạn trên mà tập trung khắc hoạ ngôn ngữ của Đăm Săn chỉ bảo cho mọi người làm lễ ăn mừng chiến thắng.

- Lời Đăm Săn trong buổi tổ chức ăn mừng chiến thắng thể hiện hai nội dung chính:

+ Đăm Săn rất coi trọng và đề cao ý nghĩa lớn lao của chiến thắng vừa giành được.
Bằng việc sử dụng các đại từ xưng hô (hô ngữ) cùng các kiểu câu cảm thán đậm sắc thái biểu cảm rất đặc trưng của thủ lĩnh thời cổ đại, các hình ảnh so sánh trùng điệp, ngôn ngữ eủa Đăm Săn thật sảng khoái, nhiệt thành kêu gọi buôn làng tổ chức ăn mừng thật lớn để tạ ơn thần linh, tổ tiên và cầu mong thần linh ban cho mình và cộng đồng sức mạnh... Điều này cho thấy niềm tự hào về chiến công vừa giành được. Trong niềm vui đó có niềm tự hào chính đáng về tài năng cá nhân anh hùng đồng thời ước vọng cuộc sống tốt đẹp cho mọi ngườ: "Rượu năm ché, trâu dâng một con để cúng thần, cáo tổ tiên, cầu sức khoẻ cho ta mới đi đánh kẻ thù, bắt tù binh, xéo nát đất đai một tù trưởng nhà giàu về [...], cầu cho ta được bình yên vô sự, nạn khỏi tai qua, lớn lên như sông nước, cao lên như cây rừng, không còn ai bì kịp

+ Niềm tự hào về cuộc sống sung túc, thịnh vượng, phát triển mọi mặt của thị tộc mình: "Chúng ta sẽ ăn lợn ăn trâu, đánh lên các chiêng cái trống to, đánh lên các cồng hlong hoà nhịp cùng chũm choẹ xoa sao cho kêu lên rộn rã, để voi đực voi cái ra vào sàn hiên không ngớt", "Hãy đánh lên các chiêng có tiếng âm vang, những chiêng có tiếng đồng tiếng bạc! Từ gui quý, hãy lấy ra các vòng nhạc rung lên!".

- Lời người kể chuyện:

Kết hợp sử dụng ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện một cách trực tiếp là một ưu thế nổi trội của sử thi so với một số thể loại tự sự dân gian khác. Sử dụng ngôn ngữ người kể chuyện là một thủ pháp nghệ thuật để biểu hiện trực tiếp thái độ, tình cảm của cộng đồng bộ tộc đối với nhân vật anh hùng sử thi. Trong lời người kể chuyện, hình tượng Đăm Săn được miêu tả một cách trực tiếp, toàn diện từ vẻ đẹp thể chất đến tinh thần.

+ Vẻ đẹp thể chất: "Bà con xem, chàng nằm trên võng, tóc thả trên sàn, hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa", "Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm áo chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang đủ giáo gươm, đôi mắt long lanh như mắt chim ghếch ăn hoa tre", "Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gãy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc".

+ Sự giàu có, hùng mạnh của cộng đồng Đăm Săn sau chiến thắng "Chàng mở tiệc ăn uống linh đình, thịt lợn, thịt trâu ăn không ngớt, thịt lợn ăn đến cháy đen hết ống le, thịt dê ăn đến cháy đen hết ống lồ ô, máu bò máu trâu đọng đen khắp sàn hiên", "Các chàng trai đi lại ngực đụng ngực. Các cô gái đi lại vú đụng vú [...]. Rõ ràng là tù trưởng Đăm Săn đang giàu lên, chiêng lắm la nhiều".

+ Đăm Săn được sự hưởng ứng và ngưỡng vọng tuyệt đối của tất thảy mọi người: "Bà con xem, nhà Đăm Săn đông nghịt khách, tôi tớ chật ních cả nhà ngoài. Các khách tù trưởng đều từ phương xa đến", "Từ khắp mọi miền, ngưòi ta khiêng rượu khiêng lợn đến".

Sau cuộc chiến, người ta không chú ý đến cảnh chết chóc mà chỉ hướng đến niềm vui chiến thắng, đến khát vọng một cuộc sống thịnh vượng, buôn làng giàu có, đông vui, hoà bình, phát triển. Ước vọng, lí tưởng của cá nhân người anh hùng thống nhất cao độ vói ước vọng và lí tưởng của cộng đồng.

+ Cùng với những hình ảnh miêu tả cụ thể là những lời ngợi ca, sự tôn vinh tuyệt đối về thủ lĩnh anh hùng. Những lời ngợi ca chàng vang lên với những điệp khúc hào hùng: "Vì vậy, danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi, đông tây đâu đâu cũng nghe danh tiếng Đăm Săn", "chàng Đăm Sãn hiện ra là rhột trang tù trưởng mói giàu lên, đang tràn đầy sức trai, tiếng tăm lừng lẫy [...]. Đăm Săn vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ".

Đặt đoạn trích trong hệ thống tác phẩm ta sẽ thấy được tính thống nhất của hành động và lí tưởng người anh hùng. Nhân vật sử thi tiếp nối nhân vật thần thoại nhưng đã được nâng lên một bước cơ bản. Nếu nhân vật chính trong thần thoại là thần thì nhân vật chính trong sử thi là con người. Người anh hùng thể hiện tập trung nhất lí tưởng, sức mạnh, ý chí, tài năng của cộng đồng trong thời kì liên minh bộ tộc, bước đầu hình thành dân tộc. Đối với nhân vật sử thi, điều quan trọng cần khai thác không phải chỉ là bản thân hành động mà quan trọng hơn là mục đích và ý nghĩa của hành động. Con người lần đầu tiên nhận thức được sức mạnh của mình trên chặng đường chuyển giao lịch sử vĩ đại nhất thòi cổ đại. Vì thế, các nhân vật trung tâm trong sử thi luôn là người anh hùng lí tưởng, được miêu tả vói niềm ngưỡng vọng vô cùng lớn lao của cộng đồng, được nhân dân tô điểm bằng vô vàn ánh hào quang kì diệu bởi những chiến công, tài năng và sức mạnh. Lần đầu tiên con người đã tự "nâng mình lên ngang hàng thần thánh" (Ăng-ghen).

- Đoạn trích cho ta hiểu thêm về một số sinh hoạt và phong tục của dân tộc Ê-đê xưa, như cách bài trí nhà Mtao Mxây (Đầu sàn hiên đẽo hình mặt trăng, đầu cầu thang đẽo hình chim ngói), cách trang phục của tù trưởng Đăm Sặn (Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm áo chiến, tai đeo nụ...), tập quán trong giao tiếp, nói năng, đặc biệt là cách nghĩ, cách cảm của họ.

2. Đặc điểm nghệ thuật

Như đã nêu ở trên, sử thi Tây Nguyên thuộc thể loại tự sự dân gian mang tính nguyên họp, trong đó tích họp các yếu tố nghệ thuật như ngôn ngữ (văn xuôi và vãn vần), âm nhạc, yếu tố trình diễn. Các yếu tố này gắn bó rất hài hoà tạo nên vẻ đẹp độc đáo của các tác phẩm sử thi.

Biện pháp khoa trương, ngoa dụ được sử dụng triệt để trong việc miêu tả người anh hùng lí tưởng của bộ tộc, làm cho người anh hùng đẹp toàn diện, đẹp tuyệt đối từ lí tưởng, thể chất và hành động.

Nghệ thuật sử dụng ngôn từ của sử thi anh hùng rất đa dạng. Ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật được sử dụng nhiều và linh hoạt, giàu kịch tính. Ngôn ngữ của người kể chuyện sinh động, hấp dẫn. Việc sử dụng hàng loạt các biện pháp nghệ thuật so sánh, ví von, ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu rất gần với lời ăn tiếng nói của đồng bào các dân tộc ít người tạo nên sự đối xứng hài hoà rất thú vị trong câu vãn, trong đoạn văn và trong cả tác phẩm có sự liên kết chặt chẽ, giũa các vế trong một câu: "Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước".

Một trong những yếu tố tạo nên sự hài hoà, nhịp nhàng trong hình tượng nghệ thuật là kết cấu đối xứng được sử dụng rất phổ biến trong sử thi Tây Nguyên. Bất cứ đoạn văn nào chúng ta cũng có thể gặp được sự đối xứng ấy: đối xứng về số lượng, đối xứng về hành động, đối xứng về cảnh vật. Ví dụ, khi miêu tả cảnh Đăm Săn múa khiên: "Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc", "Khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ". Lòi dân làng: "Làng chúng tôi phía bắc đã mọc cỏ gấu, phía nam đã mọc cà hoang". Sự hài hoà và nhịp nhàng ở những vế, những câu, nhũng hình tượng như vậy được phát triển thành những điệp khúc mà ta thường gặp trong tác phẩm. Những điệp khúc đó được gọi là "tính trì hoãn sử thi" tạo nên những khuôn mẫu bền vững, chúng gây nên ảnh hưởng ít nhiều đến sự linh hoạt của tác phẩm, nhưng lại thuận lợi cho việc diễn xướng và dễ tạo nên một khung cảnh bề bộn, trùng điệp, hoành tráng rất cần thiết trong các sử thi anh hùng.

Trên đây VnDoc chia sẻ tới các bạn Phân tích đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây. Hy vọng với tài liệu này các bạn sẽ có thêm tài liệu tham khảo, có thêm nhiều ý tưởng cho bài văn của mình, ngoài ra các bạn cũng đừng quên tương tác với VnDoc để nhận được nhiều tài liệu hay bổ ích nhé. Chúc các bạn học tốt

-------------------------------

Trên đây VnDoc.com đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Phân tích đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây. Để học tốt môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, VnDoc.com mời bạn đọc tham khảo bài Tóm tắt diễn biến trận đánh giữa Đăm Săn và Mtao Mxây, bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Đăm Sănbài văn mẫu lớp 10: Phân tích nhân vật người anh hùng Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây mà VnDoc.com đã sưu tầm, tổng hợp.

Đánh giá bài viết
12 7.011
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Ngữ văn lớp 10 Xem thêm