Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
Trang Nguyễn
Sinh học
Lớp 12
Thùy Chi
Sinh học
Lớp 12
Nguyên nhân của những biến động số lượng cá thể gồm 2 nhóm: do thay đổi các nhân tố sinh thái vô sinh như khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, pH,.. và do các nhân tố sinh thái hữu sinh như sự cạnh tranh giữa các cá thể trong quần theer, sức sinh sản, mức độ tử vong, sự phát tá của các cá thể,…
Hậu quả của phát triển dân số không hợp lí:
- Thiếu nơi ở: Hiện nay, ở thành thị và nông thôn số người thiếu nơi ở, ở chật chội ngày một tăng lên.
- Thiếu trường học và phương tiện giáo dục làm cản trờ sự tiến bộ của xã hội. Số trường học phát triển không kịp với tăng dân số, trường học có số học sinh quá đông. Nhiều vùng xa còn chưa đủ trường học, học sinh phải đi học xa.
- Thiếu bệnh viện và dịch vụ y tế, từ đó ảnh hưởng tới sức khoẻ chung người dân. Các bệnh viện hiện đang trong tình trạng quá tải, chưa đủ kinh phí đầu tư cho tuyến bệnh viện cơ sở.
- Thiếu đất sản xuất và lương thực là 1 nguvên nhân của đói nghèo. Diện tích đất nông nghiệp ở nước ta ngày càng bị thu hẹp.
- Khai thác quá mức các nguồn tài nguyên (như đánh bắt cá quá mức, chặt phá rừng, mất nhiều đất nông nghiệp để xây khu dân cư,...) dẫn tới làm giảm chất lượng môi trường, là nguyên nhân của phát triển kém bền vững... Hậu quả là suy giảm tài nguyên, hạn hán, lũ lụt,... ngày một nhiều.
Chúng ta cần
- Thực hiện kế hoạch hóa gia đình, xây dựng quy mô gia đình ít con, ấm no, bình đẳng hạnh phúc và bền vững
- Thực hiện các biện pháp phù hợp để nâng cao thể chất, trí tuệ, tinh thần của bản thân và các thành viên trong gia đình
- Tôn trọng lợi ích của Nhà nước, xã hội trong việc điều chỉnh quy mô dân số, cơ cấu dân số.
Phạm Ba
Sinh học
Lớp 12
- Sức sinh sản: tỉ lệ sinh sản quá cao là nguyên nhân đưa tới tăng trưởng dân số nhanh chóng của mỗi quốc gia.
+ Để phát triển dân số bền vững, cần có các biện pháp nhằm hạ tỉ lệ sinh. Ví dụ, như ở Việt Nam chúng ta đang cố gắng hạ tỉ lệ sinh từ 2% xuống còn 1,7%. Cần phải thực hiện cuộc vận động xây dựng quy mô gia đình ít con (từ 1 đến 2 con/ gia đình), thực hiện đúng tuổi kết hôn là 20 tuổi,...
- Mức độ tử vong: Với một quốc gia, nếu mức độ tử vong thấp và sức sinh sản quá cao thì dân số sẽ có nguy cơ tăng nhanh chóng.
+ Chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội phát triển, tuổi thọ của con người ngày một nâng cao, mức độ tử vong ở các lứa tuổi trẻ sẽ ngày một giảm dẩn. Vì vậy, để ổn định dân số, bên cạnh nâng cao tuổi thọ của người dân càng cần thực hiện các biện pháp giảm tỉ lệ sinh.
- Xuất cư và nhập cư: là hiện tượng tăng (hoặc giảm) dân số cơ học.
+ Xuất cư và nhập cư thiếu kiểm soát sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới phát triển dân số của một quốc gia, dân số của một vùng có thể tăng hoặc giảm quá mức. Vì vậy, phân bố dân cư hợp lí. thực hiện di dân có kế hoạch sẽ đảm bảo sự cân đối về dân số giữa thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi và giữa các vùng kinh tế.
+ Ở nước ta, hiện tượng di dân tự do tới các vùng núi cao, cao nguyên vẫn thường xuyên xảy ra, hậu quả là tài nguyên đất, rừng bị xâm phạm và suy thoái.
Heo con ngốc nghếch
Sinh học
Lớp 12
Tăng trưởng theo tiềm năng sinh học cùa quần thể khác với tăng trưởng thực tế:
- Tăng trưởng quần thể theo tiềm năng sinh học (tăng trưởng theo hàm số mũ): mọi điều kiện ngoại cảnh và kể cả nội tại của quần thể đều hoàn toàn thuận lợi cho sự sinh trưởng của quần thể, thì quần thể tăng trưởng theo tiềm năng sinh học. Khi ấy đường cong tăng trưởng có hình chữ J.
- Tăng trưởng thực tế là tăng trưởng trong điều kiện hạn chế (đường cong tăng trưởng logistic): Trong thực tế, đa số các loài không thể tăng trưởng theo tiềm năng sinh học vì lẽ:
+ Sức sinh sản thường không phải lúc nào cũng lớn, vì sức sinh sản của quần thể thay đổi và phụ thuộc vào điều kiện hạn chế của môi trường.
+ Điều kiện ngoại cảnh thường không phải lúc nào cũng thuận lợi cho quần thể (thức ăn, nơi ở. dịch bệnh,...).
Đường cong biểu thị tăng trưởng của quần thể: thoạt đầu tăng nhanh dần, sau đó tốc độ tăng trưởng của quần thể giảm đi, đường cong chuyển sang ngang, có thể giảm sút (hình chữ S).
Bơ
Sinh học
Lớp 12
- Nếu một quần thể có kích thước ổn định thì 4 nhân tố mức độ sinh sản (b), mức độ tử vong (d), mức độ xuất cư (e), mức độ nhập cư (i) có quan hệ với nhau: số cá thể mới sinh ra cộng với số cá thể nhập cư bằng số cá thể tử công cộng với số cá thể xuất cư:
Mức sinh sản + Mức nhập cư = Mức tử vong + Mức xuất cư
→ b + i = d + m (r = 0)
(r là hệ số hay tốc độ tăng trưởng riêng của quần thể, r = mức sinh sản – mức tử vong)
Mèo Ú
Sinh học
Lớp 12
- Mức độ sinh sản là số lượng cá thể của quần thể được sinh ra trong một đơn vị thời gian, phụ thuộc vào số lượng trứng (con non) của một lứa, số lứa để cá thể trong đời, tuổi trưởng thành sinh dục, tỷ lệ đực/cái của quần thể.
- Mức độ tử vong là số lượng cá thể của quần thể bị chết đi trong một đơn vị thời gian, phụ thuộc vào trạng thái và các điều kiện sống của môi trường như khí hậu, bệnh tật, lượng thức ăn trong môi trường, số lượng kẻ thù, mức độ khai thác của con người,…
- Mức độ xuất cư là số lượng cá thể rời bỏ quần thể đến sống ở quần thể lân cận hoặc đến nơi sống mới trong một đơn vị thời gian, phụ thuộc vào nguồn sống, nơi ở, sự cạnh tranh giữa các cá thể,…
- Mức độ nhập cư là số lượng cá thể nằm ngoài quần thể chuyển đến sống trong quần thể trong một đơn vị thời gian.
Hằng Nguyễn
Sinh học
Lớp 12
Đáp án: c. Phân bố đều khi điều kiện môi trường đồng nhất, các cá thể có tính lãnh thổ cao, có ý nghĩa làm giảm mức độ cạnh tranh giữa các cá thể trong quần thể.
Cu Lì
Sinh học
Lớp 12
- Mật độ cá thể của quần thể là số lượng, khối lượng hay năng lượng cá thể sống trên một đơn vị diện tích hay thể tích. Ví dụ:
- Mật độ có ý nghĩa sinh học lớn, như một tín hiệu sinh học thông tin cho quần thể về trạng thái số lượng thưa hay mau để tự điều chỉnh. Mật độ là đặc trưng cơ bản của quần thể có ảnh hưởng tới mức độ sử dụng nguồn sống trong môi trường, tới khả năng sinh sản và tử vong của cá thể. Khi số lượng cá thể tăng lên sẽ làm cho mật độ quần thể tăng. Điều này kéo theo việc nguồn sống của môi trường giảm đi, ô nhiễm môi trường . Do vậy mà sức sinh sản giảm, bệnh tật tăng lên làm cho nhiều cá thể bị chết, số lượng cá thể và mật độ giảm đi. Mật dộ giảm thì nguồn sống của môi trường cung cấp cho cá thể lại nhiều lên, sự ô nhiễm môi trường giảm đi, sức sống, sức sinh sản của cá thể tăng lên làm số lượng cá thể tăng. Quá trình này lặp đi lặp lại giúp quần thể duy trì số lượng phù hợp với điều kiện môi trường. Và theo đó mật độ cũng chi phối hoạt động sinh lý của cá thể.
BuriBuriBiBi play mo ...
Sinh học
Lớp 12
- Sự phân bố cá thể của quần thể có ảnh hưởng tới khả năng khai thác nguồn sống trong khu vực phân bố. Có 3 kiểu phân bố cá thể: theo nhóm, đồng đều hoặc ngẫu nhiên.
- Ý nghĩa sinh thái:
+ Phân bố theo nhóm: là kiểu phân bố phổ biến, khi môi trường không đồng nhất, các cá thể hỗ trợ lẫn nhau chống lại điều kiện bất thuận của môi trường. Ví dụ: đàn trâu rừng, đàn ngựa vằn…
+ Phân bố đồng đều: khi môi trường đồng nhất, các cá thể có tính lãnh thổ cao có sự cạnh tranh gay gắt giữa các cá thể trong quần thể, các cá thể rời đàn để làm giảm mức độ cạnh tranh giữa các cá thể trong quần thể. Ví dụ: báo hoa đực và cái đều có lãnh thổ riêng,…
+ Phân bố ngẫu nhiên: khi điều kiện môi trường đồng nhất, các cá thể không có tính lãnh thổ cao cũng không có xu hướng tụ lại, sinh vật tận dụng được nguồn sống tiềm tàng trong môi trường. Ví dụ: các loài sâu sống trên tán lá, các loài sò sống trong phù sa sông, loài thú ăn mối trên sa mạc,…