Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
Rùa Con
Sinh học
Lớp 12
Trong tầng nước, tảo có kích thước nhỏ hơn giáp xác ăn nó rất nhiều lần. Do vậy, ở thời điểm thu mẫu, sinh khối của tảo cũng nhỏ hơn giáp xác rất nhiều lần, tạo nên đáy tháp thu lại rất nhỏ.
Tháp số lượng bị đảo ngược trong trường hợp:
+ Vật chủ có số lượng ít, vật kí sinh đông.
+ Quần xã sinh vật ở môi trường nước.
Trong thiên nhiên có 2 chuỗi thức ăn cơ bản: chuỗi thức ăn thực vật được khởi đầu bằng thực vật và chuỗi thức ăn phế liệu hay mùn bã hữu cơ (gọi là detrit) được khởi đầu bằng mùn bã (hay detrit):
Thực vật → Động vật ăn thực vật → Động vật ăn thịt các cấp
Mùn bã hữu cơ → Động vật ăn mùn bã → Động vật ăn thịt các cấp
Chuỗi thức ăn thứ hai là hệ quả của chuỗi thức ăn thứ nhất. Mùn bã hữu cỡ chính là những chất bài tiết của động vật và mảnh vụn xác động, thực vật đang trong trạng thái đang bị phân giải bởi vi sinh vật. Hai chuỗi thức ăn hoạt động đồng thời, song tuỳ nơi, tuỳ lúc mà một trong 2 chuỗi trở thành ưu thế.
Rùa Con
Sinh học
Lớp 12
Chuỗi thức ăn thể hiện mối quan hệ dinh dưỡng của các loài trong quần xã, trong đó loài này ăn một loài khác, về phía mình, nó lại làm thức ăn cho các loài tiếp.
Ví dụ: Tảo → Giáp xác → Cá trích → Cá thu → Cá mập.
Cỏ → Châu chấu → Chim sâu → Rắn → Đại bàng.
Các đơn vị cấu trúc nên chuỗi thức ăn ở trên chính là các bậc dinh dưỡng.
Trong quần xã, mỗi bậc dinh dưỡng, gồm nhiều loài cùng đứng trong một mức năng lượng hay cùng sử dụng một dạng thức ăn.
Su kem
Sinh học
Lớp 12
Dây tơ hồng trên các tán cây trong rừng thuộc mối quan hệ Kí sinh.
Chọn C
Sói già
Sinh học
Lớp 12
Cạnh tranh là một trong những động lực chủ yếu của quá trình tiến hóa vì:
- Trong cạnh tranh, các loài có sự biến đổi về hình thái, các đặc tính sinh lí, sinh thái để chiến thắng hoặc tránh khỏi thua cuộc.
- Cạnh tranh thường xuyên xảy ra trong lịch sử tiến hóa của các loài, do đó chỉ những loài có ưu thế về các đặc điểm hình thái, sinh lí mới có thể tồn tại và phát triển hưng thịnh được.
Các mối quan hệ hỗ trợ:
- Hội sinh: là quan hệ trong đó loài sống hội sinh có lợi, loài được hội sinh không có lợi nhưng cũng không bị hại. VD: Giun biển với các loài động vật khác (với 13 loài động vật nhỏ như cá bống, cua, giun nhiều tơ…) sống chung với nhau, giun biển chẳng mất gì, nhưng đem lại lợi ích cho loài sống chung với nó (chúng có chỗ ẩn nấp, kiếm thức ăn thừa và phân của chủ để sống).
- Hợp tác: là quan hệ trong đó hai loài sống chung với nhau nhưng không bắt buộc, chúng đều mang lại lợi ích cho nhau. VD: Chim nhỏ kiếm mồi trên thân các loài thú móng guốc sống ở đồng cỏ.
- Cộng sinh: là quan hệ trong đó hai loài bắt buộc phải sống với nhau, đều mang lợi ích cho nhau. VD: Động vật nguyên sinh sống trong ruột mối. Động vật nguyên sinh có enzim xenlulaza phân giải xenlulozơ thành đường để nuôi sống cả hai.
Các mối quan hệ đối kháng:
- Ức chế - cảm nhiễm: là quan hệ trong đó một loài sống bình thường nhưng gây hại cho loài sống chung với nó. VD: Nhiều loài tảo biển khi nở hoa, gây ra thủy triều đỏ làm cho hàng loạt động vật không xương sống, cá, chim chết vì nhiễm độc trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Cạnh tranh giữa hai loài và sự phân li ổ sinh thái: hai loài chung nguồn sống thường cạnh tranh với nhau, trong đó cả hai loài đều kìm hãm sự phát triển của nhau. VD: Cây trồng cạnh tranh với cỏ dại về chất dinh dưỡng và nơi ở.
- Vật ăn thịt – con mồi: là quan hệ trong đó vật ăn thịt có lợi, con mồi bị hại. VD: Mèo rừng – thỏ rừng, hổ - nai.
- Vật chủ - vật kí sinh: là quan hệ trong đó vật chủ bị hại, vật kí sinh có lợi. VD: dây tơ hồng trên tán cây trong rừng.