Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
- Khi hoạt động thì cơ quan vận động sẽ làm việc với cường độ lớn dẫn tới nó cần một nguồn năng lượng lớn → Hệ tuần hoàn thì hoạt động mạnh hơn, tim đập nhanh hơn nhằm vận chuyển ôxi vào cơ thể phục vụ quá trình ôxi hóa trong cơ thể giải phóng ra năng lượng.
- Còn khi nghỉ ngơi thì hoàn toàn ngược lại, cơ thể lúc đó không cần nhiều năng lượng nên không cần ôxi hóa nhiều vật chất trong cơ thể &rArr không cần lượng ôxi lớn, nên hệ tuần hoàn hoạt động bình thường, tim đập chậm hơn, áp xuất trong các mạch máu thấp.
Một chu kì tim của người kéo dài 0,8 giây. Từ khi nút xoang nhĩ phát nhịp tự động sẽ làm tâm nhĩ co 0,1 giây, sau đó tâm thất co 0,3 giây và giãn chung là 0,4 giây. Tổng lại thì tâm nhĩ nghỉ 0,8 giây tâm thất nghỉ 0,5 giây.→ Thời gian từng ngăn tim nghỉ còn dài hơn khi tim hoạt động → Tim hoạt động suốt đời.
- Tim có tính hưng phấn: Cơ tim hoạt động tuân theo quy luật ″tất cả hoặc không″.
- Cơ tim không bị co cứng nhờ vào tính trơ có chu kì.
- Cơ tim có tính tự động.
- Ở động vật đa bào bậc cao máu và dịch mô sẽ vận chuyển cấc chất cần thiết đi khắp cơ thể tới các tế bào đồng thời vận chuyển các chất thừa tới cơ quan bài tiết.
- Cấu tạo tim thay đổi dần:
+ Cá: Tim 2 ngăn, 1 vòng tuần hoàn
+ Ếch: Tim 3 ngăn, 2 vòng tuần hoàn, máu đi nuôi cơ thể là máu pha.
+ Bò sát: Tim 3 ngăn và vách ngăn chưa hoàn chỉnh, 2 vòng tuần hoàn.
+ Chim và thú: Tim 4 ngăn hoàn chỉnh với 2 vòng tuần hoàn lớn.

* Hệ tuần hoàn hở:
– Gặp ở chân khớp.
- Máu vào động mạch, tràn vào khoang cơ thể rồi theo tĩnh mạch về tim. Không có mao mạch.
– Máu chảy trong mạch dưới áp lực thấp, tốc độ máu chảy chậm.
– Sắc tố hô hấp như hemoxyanin,…
– Hiệu quả không cao.
* Hệ tuần hoàn kín:
– Gặp ở một số động vật không xương sống và tất cả động vật có xương sống
- Máu vào động mạch sau khi trao đổi chất ở mao mạch thì theo tĩnh mạch về tim.
- Máu trao đổi chất với tế bào thông qua dịch mô.
– Máu chảy trong động mạch dưới áp lực cao, tốc độ máu chảy nhanh.
– Sắc tố hô hấp như hemoglobin.
– Hiệu quả cao.
Sự khác biệt trong trao đổi chất giữa tế bào cơ thể với môi trường ngoài ở động vật đơn bào, đa bào bậc thấp với động vật đa bào bậc cao là:
* Ở động vật đơn bào, thuỷ tức và giun dẹp:
Các tế bào của cơ thể đơn bào, thuỷ tức và giun dẹp kích thước nhỏ, diện tích cơ thể lớn so với khối lượng, có thể trao đổi chất trực tiếp với môi trường bên ngoài (lấy thức ăn, thu nhận ôxi; thải các sản phẩm không cần thiết) nên chưa cần có hệ tuần hoàn.
* Ở chim và thú:
Các tế bào trong cơ thể chỉ tiếp nhận các chất cần thiết (ôxi và các chất dinh dưỡng) từ môi trường ngoài một cách gián tiếp, thông qua môi trường bên trong là máu và dịch mô bao quanh tế bào.
Máu và dịch mô được vận chuyển khắp cơ thể, đem theo các chất mà cơ thể tiếp nhận từ môi trường ngoài qua cơ quan hô hấp và cơ quan tiêu hóa, đồng thời chuyển các sản phấm cần loại thải đến cơ quan bài tiết để lọc thải ra môi trường ngoài.
Động lực của sự vận chuyển đó là sự co bóp của tim và con đường vận chuyển máu là hệ mạch đó là hệ tuần hoàn.
- Thân mềm, chân khớp: Có hệ tuần hoàn hở
- Giun đốt: Hệ tuần hoàn kín, nhưng đơn giản.
- Cá: Tim 2 ngăn, 1 vòng tuần hoàn
- Ếch: Tim 3 ngăn, 2 vòng tuần hoàn, máu đi nuôi cơ thể là máu pha.
- Bò sát: Tim 3 ngăn và vách ngăn chưa hoàn chỉnh, 2 vòng tuần hoàn.
- Chim và thú: Tim 4 ngăn hoàn chỉnh với 2 vòng tuần hoàn lớn.
- Các tế bào trong cơ thể đa bào có kích thước lớn chỉ tiếp nhận được các chất cần thiết (ôxi và các chất dinh dưỡng) từ môi trường ngoài thông qua môi trường bên trong là máu và dịch mô bào quanh tế bào.
- Máu và dịch không chỉ làm nhiệm vụ vận chuyển các chất đến các tế bào mà còn vận chuyển các chất thải đến cơ quan bài tiết để lọc ra ngoài.
Ở trong tiếng Việt, bộ phận câu đứng sau quan hệ từ nhưng là bộ phận được nhấn mạnh.
a, Nhấn mạnh sự khỏe
b, Nhấn mạnh tính chất gầy