Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
Cô Ngọc Anh - Văn Tiểu Học
Lịch Sử
Lớp 12
Bi
Lịch Sử
Lớp 12
* Về kinh tế:
- Sau khi trải qua một đợt suy thoái ngắn, từ năm 1994 trở đi, kinh tế Tây Âu đã có sự phục hồi và phát triển.
- Tây Âu vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới.
* Về chính trị và đối ngoại:
- Tình hình các nước Tây Âu cơ bản là ổn định.
- Chính sách đối ngoại của các nước này có sự điều chỉnh quan trọng, các nước Tây Âu đều chú ý mở rộng quan hệ không chỉ với các nước tư bản phát triển khác mà còn với các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, khu vực Mĩ Latinh, các nước thuộc Đông Âu và SNG.
Lanh chanh
Lịch Sử
Lớp 12
Những thách thức đặt ra đối với các nước tư bản chủ yếu ở Tây Âu về kinh tế và chính trị - xã hội trong những năm 1973 - 1991 bao gồm:
* Về kinh tế
- Do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới (1973), nhiều nước tư bản chủ yếu ở Tây Âu lâm vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng, phát triển không ổn định, kéo dài đến đầu thập kỉ 90.
- Sự phát triển thường xen kẽ với khủng hoảng, suy thoái, lạm phát và thất nghiệp.
- Luôn vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt từ phái Mĩ, Nhật Bản và các nước công ngiệp mới (NICs).
- Quá trình “nhất thể hóa” Tây Âu trong khuôn khổ Cộng đồng châu Âu vẫn còn nhiều trở ngại.
* Về chính trị - xã hội
- Tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn.
- Nhiều tội phạm xảy ra, trong đó điển hình là tội phạm mafia ở Italia.
Phước Thịnh
Lịch Sử
Lớp 12
Có ba nhân tố chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước Tây Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đó là:
- Áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.
- Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc quản lý, điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế.
- Các nước Tây Âu đã tận dụng tốt các cơ hội bên ngoài như nguồn viện trợ của Mĩ, tranh thủ được nguồn nguyên liệu giá rẻ từ các nước thuộc thế giới thứ ba, hợp tác có hiệu quả trong khuôn khổ của Cộng đồng châu Âu (EC),….
Sư Tử
Lịch Sử
Lớp 12
Tình hình chính trị ở Tây Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945 - 1950) có những nét nổi bật sau đây:
- Thể chế chính trị: là những nước cộng hòa (Pháp, Đức, Italia) hoặc quân chủ lập hiến (Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan…) nhưng đều theo chế độ dân chủ đại nghị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp tư sản, liên minh chặt chẽ với Mĩ trong các chính sách đối ngoại.
- Ưu tiên hàng đầu là củng cố chính quyền của giai cấp tư sản, ổn định tình hình chính trị - xã hội, hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế, liên minh chặt chẽ với Mĩ và tìm cách trở lại các thuộc địa cũ của mình.
- Hầu hết các nước Tây Âu đã gia nhập khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) do Mĩ đứng đầu. Cộng hòa Liên bang Đức (chính thức thành lập tháng 9-1949) đã trở thành một tâm điểm của sự đối đầu ở châu Âu giữ hai cực Liên Xô và Mĩ.
⟹ Như vậy, từ năm 1945 đến năm 1950, các nước tư bản Tây Âu với sự viện trợ của Mĩ đã cơ bản ổn định và phục hồi về mọi mặt, trở thành đối trọng với khối xã hội - chủ nghĩa Đông Âu vừa mới hình thành.
Cà Rốt
Lịch Sử
Lớp 12
Mĩ luôn là nước đứng đầu thế giới về kinh tế chính trị và khoa học kĩ thuật. luôn đạt những thành tựu to lớn, không dừng lại ở đó chính trị đối ngoại Mĩ cũng từng ngày phát triển.
Trong giai đoạn 1945-1973 Mĩ thay đổi nhiều đời tông thống. Đối nội Mĩ chú tâm cải thiện tình hình xã hội. Thực hiện những chính sách nhằm ngăn chặn, đàn áp phong trào đấu tranh của công nhân. Tuy nhiên đối ngoại của Mĩ của giai đoạn này đang từng bước chuẩn bị thực hiện dã tâm xâm chiếm các nước khác:
- Mĩ theo đuổi thực hiện chính sách chiến lược toàn cầu, với tham vọng làm bá chủ thế giới. Với mục tiêu ró ràng đó là ngăn chặn xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc ở các nước xã hội, khống chế chi phối các nước khác phụ thuộc vào mình.
- Năm 1979 quan hệ ngoại giao được thiết lập giữa Mĩ và Trung Quốc, mở ra thời kì mới.
- 5-1972 Ních xơn tới thăm Liên Xô với âm mưu hòa hoãn với hai nước lớn để dễ dàng xâm chiếm các nước nhỏ.
Trong giai đoạn 1973-1991 Mĩ có những chính sách đối ngoại không ngừng đổi mới và cũng không ngừng dã tâm làm bá chủ thế giới của mình:
- Tuy nhiên sau thất bại của cuộc chiến tranh ở Việt Nam Mĩ đã chấm dứt đóng chiếm ở đây vì Hiệp định Pari. Mĩ đã phải rút quân về nước, cơ bản Việt Nam đã được độc lập.
- Năm 1986 Mĩ và Liên Xô cũng đã kí những hiệp ước nhằm xóa bỏ chiến lược toàn cầu, thực hiện xu thế hòa hoãn.
Với chiến lược cam kết và mở rộng để phát triển kinh tế xã hội đặc biệt vẫn là đối ngoại:
- Chiến tranh lạnh kết thúc trật tự hai cực cũng tan rã Mĩ lại càng tìm cách muốn vươn lên chi phối thế giới.
- Mĩ muốn đơn phương thực hiện thế giới đơn cực cho mình, vì có sức mạnh quân sự kinh tế. Tuy nhiên thế giới không chấp nhận điều đó.
- Mĩ bình thường mối quan hệ với Việt Nam 7-1995.