Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
a. Cảnh vật là hư, đây là tâm trạng chứ không phải cảnh thực. Mỗi cảnh có nét riêng đồng thời lại có nét chung diễn tả tâm trạng của Kiều :
- Cánh buồm nhỏ xa xăm vô định như cuộc đời nàng giữa biển đời vô hướng.
- Cánh hoa bị vùi dập như số kiếp trôi nổi của nàng.
- Nội cỏ rầu rầu một màu đơn điệu như màu sắc cuộc đời nàng tẻ nhạt.
- Gió cuốn, sóng ầm ầm chính là dông bể cuộc đời, một nỗi bàng hoàng lo sợ.
b. Cách dùng điệp ngữ :
Điệp ngữ “Buồn trông” lặp lại bốn lần đặt ở đầu mỗi câu lục. Đôi mắt buồn nhìn và bao trùm lên hết thảy cảnh vật. Kết hợp không gian xa đến gần, thu vào tâm tư người con gái nỗi cô đơn, sầu nhớ, đau đớn và lo sợ
a. Tám câu thơ tiếp theo trực tiếp nói lên nỗi nhớ thương của Kiều. Đầu tiên Kiều nhớ tới Kim Trọng. Trong xã hội phong kiến đề cao chữ hiếu, thế nhưng ở đây Nguyễn Du lại để cho Thuý Kiều nhớ Kim Trọng trước khi nhớ về cha mẹ, điều đó có lí do của nó. Với cha mẹ dẫu sao nàng cũng mới gặp gỡ trước lúc lên đường về với Mã Giám Sinh, thứ nữa hành động bán mình để lấy tiền cứu cha và em của nàng cũng là một phần nào làm nàng yên lòng. Còn đối với Kim Trọng kể từ ngày “ngộ biến” cả hai bên chưa ai nhận được tin gì của nhau. Hơn nữa, nàng cảm thấy mình có lỗi với Kim Trọng bởi vì hoàn cảnh của gia đình mà nàng đã không giữ đúng lời thề hẹn với chàng Kim.
b. Cách thể hiện nỗi nhớ của Kiều rất khác nhau:- Về nỗi nhớ Kim Trọng, nàng nhớ lời thề ước dưới trăng, thương chàng Kim Trọng đêm ngày đau đáu trông chờ uổng công vô ích “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng”.
▪️ Nàng hình dung cảnh Kim Trọng đợi chờ tin nàng ở quê nhà. Đồng thời cũng thể hiện tấm lòng thuỷ chung:
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?
▪️ Câu thơ là một câu hỏi tu từ thể hiện sự dằn vặt, đau khổ của nàng khi phải chia tay với Kim Trọng. Dù mai sau có phiêu bạt chân trời góc bể nào thì tình cảm của nàng đối với Kim Trọng vẫn nồng thắm, bất biến với không gian và thời gian.
- Nỗi nhớ cha mẹ
▪️ Nàng thương xót cha mẹ già yêu mà nàng không được chăm sóc. Nàng tưởng tượng cảnh nơi quê nhà tất cả đã đổi thay mà sự đổi thay lớn nhất là cha mẹ ngày một thêm già yếu.
▪️ Lần nào khi nhớ về cha mẹ, Kiều cũng "nhớ ơn chín chữ cao sâu" và luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dạy con cái của cha mẹ. Cũng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ lại khác nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau.
- Nghệ thuật: trong đoạn trích, tác giả dùng rất nhiều từ ngữ hình ảnh có tính chất ước lệ: chén đồng, tin sương, tấm son, quạt nồng ấp lạnh, sân lai, gốc tử để nói về tình yêu và đạo hiếu. Nhịp thơ đều đều 2/2/2 và 4/4 đã góp phần diễn tả một cách sâu sắc tâm trạng buồn chán của nàng.
c. Như vậy, dù Kiều đã hi sinh thân mình vì đạo hiếu, khi lâm vào tình cảnh đáng thương, nàng lại một lòng nhớ đến Kim Trọng, nhớ thương cha mẹ, quên cả cảnh ngộ của mình. Trong đoạn trích này, Kiều hiện ra với đức hi sinh cao đẹp, một tình yêu thủy chung và lòng hiếu thảo của một người con.
Đặc điểm không gian và thời gian trước lầu Ngưng Bích
- Không gian: lầu Ngưng Bích được mở ra rất nhiều chiều theo cái nhìn của nhân vật từ trên cao xuống.
+ Chiều cao: trên trời vầng trăng vằng vặc, trăng như gần hơn và với nàng bây giờ chỉ có trăng là bầu bạn.
+ Chiều rộng: không gian bao la bát ngát, chỉ có những cồn cát im lìm vắng lặng bụi tung mờ mịt, những dãy núi trùng điệp nhấp nhô ẩn trong sương mờ. Không gian mênh mông, hoang vắng, rợn ngợp cô đơn không một bóng người.
- Thời gian: từ sáng (mây sớm) đến đêm khuya (đèn khuya) chỉ có một mình nàng thui thủi cô đơn, bẽ bàng thương thân, tủi phận.
- Qua khung cảnh thiên nhiên có thể thấy Kiều đang ở trong hoàn cảnh trơ trợ bị giam hãm, mất tự do, cô độc giữa lầu Ngưng Bích hoang vắng. Tâm trạng của nàng trống trải, cô đơn, ngao ngán thật tội nghiệp…. (những từ ngữ diễn tả hoàn cảnh và tâm trạng ấy : bẽ bàng, như chia tấm lòng…). Có thể nói nàng đã rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối. Cảnh lầu Ngưng Bích rất hữu tình thơ mộng, nhưng hoang vắng rợn ngợp thiếu hơi ấm con người, đúng như tên gọi của nó, khoá xuân nơi giam hãm tuổi xuân của con người.
Tham khảo thêm: Cảm nhận về 8 câu thơ cuối của bài Kiều ở lầu Ngưng Bích
Tiết trời Thanh minh vừa đến, màu xanh bát ngát của cỏ non, hoa lê điểm trắng, chim én đầy trời tạo nên ngày du xuân thật đẹp, thơ mộng. Tài tử giai nhân dập dìu đi hội. Chị em Thúy Kiều cũng tưng bừng sắm sửa đi du xuân. Chiều tàn, họ lại thơ thẩn ra về, họ đi qua một vùng nghĩa địa hiu hắt, người đi viếng đã về hết, chỉ còn lại những nấm mộ hương khói, thoi vàng vó rắc…Bóng chiều về tây, dòng suối nhỏ trong vắt, uốn quanh chảy chầm chậm, luồn dưới một cây cầu nho nhỏ. Quang cảnh thật thơ mộng những cũng thật tiêu điều. Tâm trạng con người cũng xao xuyến, nao nao….
- Trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều có câu tả cảnh: Êm đềm trướng rủ màn che
Tác giả sử dụng hình ảnh tự nhiên để ước lệ và khắc họa vẻ đẹp của hai nhân vật chính Thúy Vân, Thúy Kiều
→ Đây là đặc điểm nghệ thuật của văn học trung đại.
- Với đoạn trích Cảnh ngày xuân:
Các hình ảnh tả cảnh: Con én đưa thoi; Cỏ non xanh tận chân trời; Cảnh lê trắng điểm, Ngổn ngang gò đống kéo lên, dịp cầu nho nhỏ, phong cảnh có bề thanh thanh…
Tả người: nô nức yến anh, dập dìu tài tử giai nhân, ngựa xe như nước, áo quần như nêm; chị em thơ thẩn dan tay ra về.
=> Nguyễn Du sử dụng yếu tố miêu tả trong việc khắc họa vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều, vẻ đẹp phúc hậu của Thúy Vân, vẻ đẹp mặn mà của Thúy Kiều.
Hiện tượng trên là hiện tượng đồng âm khác nghĩa vẫn thường thấy trong ngôn ngữ, vì nó chỉ vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ- một khái niệm khi thuộc cùng một lĩnh vực chuyên môn
- Hiện tượng trên là hiện tượng đồng âm khác nghĩa vẫn thấy trong ngôn ngữ, nó chỉ vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ - một khái niệm khi thuộc cùng một lĩnh vực chuyên môn
Trong những lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, công nghệ khác nhau có thể có những từ ngữ giống nhau về âm nhưng lại là những thuật ngữ với nội hàm khác nhau hoàn toàn
Định nghĩa từ cá của sinh học: động vật có xương sống, ở dưới nước, bơi bằng vây, thở bằng mang. Theo cách hiểu thông thường của người Việt (thể hiện qua cách gọi cá voi, cá heo), cá không nhất thiết phải thở bằng mang.
- Trong hai trường hợp trên:
+ Trong trường hợp (a) (Nước tự nhiên ở sông, hồ, ao, biển,… là một hỗn hợp), từ hỗn hợp được dùng như một thuật ngữ.
+ Trong trường hợp (b) (Đó là một chương trình biểu diễn hỗn hợp nhiều tiết mục), từ hỗn hợp được dùng như một từ thông thường.
- Đặt câu với từ hỗn hợp dùng theo nghĩa thông thường
Dùng ngũ cốc trộn với sữa chua kết hợp thành một món hỗn hợp dùng để giảm cân. (nghĩa thông thường)
Từ điểm tựa trong đoạn thơ của Tố Hữu không được dùng như một thuật ngữ trong Vật lí. Điềm tựa ở đây được hiểu là chỗ dựa. Ở đây là ngôn ngữ nghệ thuật, có tính biểu cảm cao chứ không phải là ngôn ngữ khoa học.
◾ Lực là tác dụng đẩy kéo của vật này lên vật khác (lĩnh vực vật lý)
◾ Xâm thực là quá trình phá hủy lớp đất đá phủ trên mặt đất do các tác nhân như gió, sóng biển, băng hà, nước chảy… (lĩnh vực Địa lý)
◾ Hiện tượng hóa học là hiện tượng sinh ra chất mới. (lĩnh vực Hóa học)
◾ Di chỉ là những dấu vết của người xưa đã cư trú và sinh sống (lĩnh vực Lịch sử).
◾ Thụ phấn là hiện tượng hạt phấn tiếp xúc với nhị hoa (lĩnh vực Sinh học).
◾ Lưu lượng là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một điểm nào đó, trong một giây đồng hồ (lĩnh vực Địa lí).
◾ Trọng lực là lực hút của trái đất (lĩnh vựcĐịa lý)
◾ Khí áp là sức nén của khí quyển lên bề mặt trái đất (lĩnh vực Địa lý)
◾ Thị tộc phụ hệ là những dòng họ trong đó người đàn ông có quyền hơn người phụ nữ.(lĩnh vực Lịch sử)
◾ Đường trung trực là đường thẳng vuông góc với một đoạn thẳng tại điểm giữa đoạn ấy (lĩnh vực Toán học).
I. DÀN Ý
1. Mở bài:
- Mùa xuân là đề tài quen thuộc trong thơ ca đông tây kim cổ. Có những câu thơ bất hủ vẽ nên bức tranh xuân tuyệt mĩ:
Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa
(Cỏ thơm liền với trời xanh
Trên cành lê có mấy bông hoa)
(Thơ cổ Trung Quốc)
- Chúng ta thử so sánh hai câu trên với hai câu thơ tả vẻ đẹp mùa xuân trong Truyện Kiều để thấy được sự tiếp thu và sáng tạo nghệ thuật của thi hào Nguyễn Du.
2. Thân bài:
a/ Hai câu thơ cổ:
Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa
Vẻn vẹn 10 chữ mà miêu tả được đặc điểm nổi bật của khung cảnh mùa xuân:
- Màu xanh của cỏ non tràn ngập không gian, tiếp nối với sắc xanh của bầu trời. (Tả diện).
- Cành lê điểm vài bông hoa trắng. (Tả điểm).
- Sự tương phản về màu sắc (xanh >< trắng) làm nổi bật tính chất của từng sự vật được miêu tả.
- Phương thảo (cỏ thơm) gợi sự liên tưởng đến khung cảnh mùa xuân tràn đầy sức sống và sực nức hương thơm làm ngây ngất lòng người.
b/ Hai câu thơ của Nguyễn Du:
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
- Sự vật được miêu tả: giống như trong hai câu thơ cổ (cỏ, hoa lê).
- Tính chất của sự vật: khác biệt ở chỗ Nguyễn Du nhấn mạnh đến màu xanh tươi của cỏ (cỏ non xanh), qua đó thể hiện sức sống phơi phới của mùa xuân. Bên cạnh đó là sắc trắng của hoa lê, nổi bật trên nền xanh bát ngát (tận chân trời) của cỏ non.
3. Kết bài:
- Nguyễn Du tả cảnh theo quy luật xa gần, kết hợp tả diện với tả điểm, có sự tương phản về màu sắc...
- Bút pháp miêu tả đạt tới mức điêu luyện. Màu sắc, đường nét hài hoà, tươi sáng, thể hiện được thần thái của mùa xuân.