Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
- Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại là chính xác.
- Bởi vì: môi trường là ngôi nhà chung của tất cả mọi người, trong đó con người tồn tại và phát triển. Cuộc sống của mỗi người có liên hệ mật thiết với môi trường. Con người là một thành phần của môi trường, không thể sống tách rời môi trường. Một môi trường phát triển bền vững là điều kiện lí tưởng cho con người và ngược lại.
Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng với sự sống của con người như vậy thế nhưng thực trạng hiện nay của môi trường ra sao. Đó là môi trường càng ngày càng ô nhiếm từ môi trường nước, môi trường đất và cả môi trường không khí. Đó đều là xuất phát từ các hoạt động sinh sống và sản xuất của con người gây ra. Cho đến thời điểm này, môi trường vẫn đang ngày càng suy thoái, hiệu ứng nhà kính ngày càng nghiêm trọng, khí hậu biến đổi ngày càng khắc nghiệt và kèm theo nhiều thiên tai hơn…Vì vậy, nếu muốn tồn tại sự sống thì buộc con người phải có ý thức nhiều hơn và cao hơn trong việc bảo vệ môi trường.
Hậu quả:
- Nhiệt độ Trái Đất tăng lên:
+ Nhiệt độ tăng làm băng ở 2 cực tan, mực nước biển tăng lên, hậu quả là nhấn chìm các khu vực địa hình thấp ven biển trên thế giới.
Dự báo trong tương lai, Việt Nam là 1 trong 10 quốc gia trên thế giới sẽ chịu hậu quả nặng nề nhất của băng tan, cụ thể là đồng bằng sông Cửu Long.
+ Biến đổi khí hậu diễn ra mạnh mẽ: thời tiết thay đổi thất thường; nắng nóng, giá rét cực đoan, nhiệt độ tăng giảm bất thường, khó dự đoán hơn; bão, lũ xuất hiện với tần suất dày, kéo dài và nguy hiểm hơn…
- Thủng tầng ô dôn:
+ Các tia cực tím có hại cho sức khỏe con người sẽ xuyên thẳng xuống Trái Đất với mật độ dày hơn: gây các bệnh ung thư da, cháy nắng.
+ Sinh vật phù du cũng chịu ảnh hưởng của tia tử ngoại, hoạt động quang hợp của cây trồng bị hạn chế, chất lượng nông sản suy giảm.
+ Ảnh hưởng đến mùa màng: tia cực tím chiếu xuống mặt đất về lâu dài sẽ phá hủy diệp lục trong lá cây, ảnh hưởng đến vai trò quang hợp của thực vật, khiến cho nông sản bị thất thu.
* Hậu quả của dân số già:
- Nguồn lao động trẻ, năng động bị thiếu hụt, đặc biệt là trong các ngành đòi hỏi nhiều lao động như dệt may, chế biến thực phẩm…và các ngành đòi hỏi đội ngũ tri thức trẻ năng động (tin học điện tử, dịch vụ…).
- Chi phí lớn về phúc lợi xã hội, y tế cho người già.
- Nguy cơ suy giảm dân số.
* Quan sát bảng 3.2 ta thấy:
Cơ cấu nhóm tuổi của các nước phát triển và các nước đang phát triển có sự khác nhau.
Nhóm tuổi 0 – 14 tuổi, nhóm nước đang phát triển có tỉ lệ cao hơn so với nhóm nước phát triển (32 > 17)
Nhóm tuổi 15 – 64 tuổi, nhóm nước đang phát triển có tỉ lệ thấp hơn so với nhóm nước phát triển (63 < 68)
Nhóm tuổi 65 trở lên, nhóm nước đang phát triển có tỉ lệ thấp hơn so với nhóm nước phát triển (5 < 15).
=> Nhóm nước đang phát triển có cơ cấu dân số trẻ, các nước phát triển có cơ cấu dân số già.
- Dân số tăng nhanh đã dẫn tới những hậu quả ngày càng nghiêm trọng:
Thiếu lương thực, thực phẩm
Sự đói nghèo và lạc hậu
Khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên thiên nhiên
Suy thoái môi trường sống và gia tăng bệnh tật
Tăng khoảng cách giàu nghèo. Trong hơn 6 tỉ dân chỉ có một tỉ người là có cuộc sống sung túc…
Dựa vào bảng 3.1 ta thấy:
Trong giai đoạn 1960 – 2005, tỉ suất gi tăng dân số tự nhiên của các nhóm nước và thế giới có hướng suy giảm.
Tuy nhiên, các nước đang phát triển vẫn có tỉ suất gia tăng tự nhiên cao nhất với 1,5 % (năm 2005), sau đó là thế giới với 1,2%. Các nước phát triển có tỉ suất gia tăng tự nhiên rất thấp, chỉ 0,1%.
Tỉ suất gia tăng tự nhiên các nước đang phát triển cao gấp 15 lần so với các nước phát triển và cao gấp 1,25 lần so với thế giới.
Tính tới năm 2016
- Các nước thành viên của tổ chức EU (Liên minh châu Âu): Bỉ, Đức, Italy, Luxembourg, Pháp, Hà Lan, Đan Mạch, Ireland, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Phần Lan, Thụy Điển, Séc, Hungary, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta, Cộng hòa Síp, Romania, Bulgaria
- Các nước thành viên của tổ chức ASEAN (Hiệp hôi các nước Đông Nam Á): Brunei, Campuchia, Inđônêxia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam
- Các nước thành viên của tổ chức NAFTA (Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mĩ): Canada, Mỹ và Mexico
- Các nước thành viên của tổ chức MERCOSUR (Liên minh các quốc gia Nam Mĩ): Argentina, Brazil, Paraguay, Uruguay và Venezuela.
Các tổ chức liên kết kinh tế khu vực được hình thành dựa trên những cơ sở:
- Do sự phát triển không đồng đều và sức ép cạnh tranh trong các khu vực trên thế giới.
- Những quốc gia có nét tương đồng về địa lí, văn hóa, xã hội hoặc có chung mục tiêu , lợi ích phát triển liên kết lại với nhau thành các tổ chức liên kết kinh tế đặc thù.
- Biểu hiện:
+ Thương mại thế giới phát triển mạnh
+ Đầu tư nước ngoài tăng nhanh
+ Thị trường tài chính quốc tế mở rộng.
+ Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn.
- Hệ quả:
+ Thúc đẩy sản xuất phát triển
+ Tăng trưởng kinh tế toàn cầu
+ Đẩy nhanh đầu tư và tăng cường hợp tác quốc tế.
+ Tuy nhiên, gia tăng khoảng cách giàu nghèo
+ Dễ bị hoà tan, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc.
- So sánh:
+ Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) có số dân đông nhất (2648,0 triệu người) và GDP lớn nhất (23008,1 tỉ USD).
+ Hiệp ước tự do thương mại Bắc Mĩ (NAFTA) và Liên minh châu Âu (EU) có số dân khá đông (435,7 và 459,7 triệu người), GDP cũng khá lớn (13323,8 tỉ USD và 12690,5 tỉ USD).
+ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có số dân khá đông tuy nhiên GDP vẫn còn thấp (799,9 tỉ USD).
+ Thị trường chung Nam Mĩ (MERCOSUR) có dân số ít và GDP đồng thời cũng khá thấp (776,6 tỉ USD).
- Kết luận:
Các tổ chức liên kết trên thế giới có sự phát triển chưa đồng đều:
+ Tổ chức liên kết phát triển lớn mạnh nhất chủ yếu thuộc khu vực châu Âu (EU), khu vực Bắc Mĩ, Đông Á và ven Thái Bình Dương (APEC). Đây là khu vực tập trung các quốc gia phát triển như Hoa Kì, Nhật Bản…
+ Các tổ chức phát triển với quy mô nhỏ hơn thuộc khu vực các nước đang phát triển ở Đông Nam Á, Nam Mĩ (ASEAN, MERCOSUR).