Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
Nguyên nhân là do:
- Cuộc cải cách ruộng đất không triệt để đã tạo điều kiện cho các chủ trại chiếm giữ phần lớn đất canh tác, dân nghèo không có ruộng đất để canh tác.
- Các nước này duy trì cơ cấu xã hội phong kiến trong thời gian dài, các thế lực bảo thủ của Thiên Chúa giáo tiếp tục cản trở sự phát triển xã hội.
- Chưa xây dựng được đường lối phát triển kinh tế - xã hội độc lập, tự chủ nên các nước Mĩ Latinh phát triển kinh tế chậm, thiếu ổn định, phụ thuộc vào tư bản nước ngoài, nhất là Hoa Kì.
Bảng tỉ lệ nợ nước ngoài so với GDP của một số quốc gia Mỹ La tinh

- Nhìn vào bảng, ta thấy các nước có tỉ lệ nợ nước ngoài cao trên 60% như: Chi lê, Ê cu a đo, Ha mai ca, Pa na ma. Đặc biệt có Ác hen ti na có nợ nước ngoài cao nhất là 128%, vượt cả GDP.
- Các nước Mĩ La tinh có tốc độ phát triển kinh tế không đều, biến động qua từng thời kì.
- Giai đoạn 1985 – 1995 và giai đoạn 2000 – 2002 tốc độ tăng trưởng của Mỹ La tinh giảm mạnh, xuống rất thấp chỉ 0,4%(1995) và 0,5% (2002), tăng cao vào các năm 2000 là 2,9% và 2004 là 6%.
- Nguyên nhân sự biến động là do tình hình chính trị ở các nước không ổn định đã tác động mạnh tới sự phát triển kinh tế và nguồn đầu tư từ nước ngoài giảm sút.
- GDP theo giá thực tế ở các quốc gia có sự chênh lệch lớn, thấp nhất là Ha mai ca có 8 tỉ USD, cao nhất là Mê hi cô là 581.3 tỉ USD.
- Chi lê: 10% dân cư nghèo nhất chỉ chiếm 1,2% thu nhập, trong khi đó 10% số dân giàu nhất năm tới 47% thu nhập quốc gia, gấp hơn 40 lần.
- Ha mai ca: 10% dân cư nghèo nhất chỉ chiếm 2,7% thu nhập, 10% số dân giàu nhất năms giữ 30% thu nhập quốc gia, gấp hơn 11 lần.
- Mê hi cô: 10% dân cư nghèo nhất chỉ chiếm 1% thu nhập, trong khi đó 10% số dân giàu nhất năm tới 43% thu nhập quốc gia, gấp 43 lần.
- Pa na ma: 10% dân cư nghèo nhất chỉ chiếm 0,7% thu nhập, trong khi đó 10% số dân giàu nhất năm tới 43,3% thu nhập quốc gia, gấp gần 62 lần.
Như vậy, sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nước và các nhóm dân cư trong một nước ở Mỹ La tinh là rất lớn.
- Các cảnh quan: khá đa dạng
+ Rừng xích đạo và nhiệt đới ẩm (diện tích lớn nhất).
+ Xa-van và xa-van rừng.
+ Thảo nguyên và thảo nguyên-rừng.
+ Hoang mạc và bán hoang mạc.
+ Vùng núi cao.
- Các loại khoáng sản khá đa dạng và giàu có, gồm: dầu mỏ, khí tự nhiên, than, sắt, thiếc, mangan, đồng, bôxit, niken, bạc, vàng, chì- kẽm.
Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên cao, nên dân số tăng nhanh, gây nhiều áp lực nặng nề đến chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế và tài nguyên, môi trường.
- Tỉ lệ người nhiễm HIV cao, làm suy giảm lực lượng lao động.
- Các cuộc xung đột tại nhiều khu vực đã cướp đi hàng triệu sinh mạng, trong đó có một lực lượng lớn người trong độ tuổi lao động.
- Trình độ dân trí thấp, nhiều hủ tục chưa được xoá bỏ, xung đột sắc tộc, đói nghèo; bệnh tật đã và đang đe doạ cuộc sông của hàng trăm triệu người châu Phi.
Giai đoạn 1985 -2005:
- Tỉ lệ dân số châu Phi tăng nhanh nhất và liên tục, từ 11,5% lên 13,8% (tăng 2,3%).
- Tỉ lệ dân số châu Mĩ, châu Á tăng nhẹ từ 13,4% lên 13,7% (tăng 0,4%) và 60,0% lên 60,6% (tăng 0,6%).
- Tỉ lệ dân số châu Âu giảm nhanh và liên tục, từ 14,6% xuống 11,4% (giảm 3,2%).
- Châu Đại Dương có tỉ lệ dân số thấp nhất và không thay đổi (0,5%).
⟹ Châu Phi có quy mô và tốc độ tăng dân số nhanh nhất thế giới.
- Đầu tư phát triển giáo dục nâng cao dân trí, nâng cao nhận thức để bảo vệ môi trường
- Hạn chế gia tăng dân số và vấn nạn HIV/AIDS.
- Khai thác tài nguyên hợp lý để phát triển kinh tế đất nước.
- Học hỏi kinh nghiệm phát triển kinh tế từ các nước đang phát triển khác
- Đoàn kết khu vực, các quốc gia cùng phát triển và bảo vệ môi trường.
- Năm 1985, hầu hết các nước châu Phi đều có tốc độ tăng GDP thấp hơn thế giới (trừ Ga-na), Nam Phi có thời kì tăng trưởng GDP âm (-1,2% năm 1985).
- Đến năm 2004: tốc độ tăng GDP có sự chuyển biến tích cực:
+ Các nước có tốc độ tăng GDP thấp hơn thế giới (4,1%) là : Nam Phi (3,7%), Công gô (4%).
+ Các nước có tốc độ tăng GDP lớn hơn thế giới là: An-giê-ri (5,2% năm 2004), Ga-na (5,2% năm 2004).
⟹ Mặc dù còn kém phát triển, nhưng hiện nay nền kinh tế các nước châu Phi đã có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng GDP tương đối cao so với thế giới.
- Tỉ suất sinh thô: châu Phi có chỉ số cao nhất với 38%o, trong khi các nước đang phát triển là 24%o, nước phát triển 11%o và thế giới là 21%o.
- Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên (2,3 %) của châu Phi cao nhất so với nhóm các nước đang phát triển, nhóm nước phát triển và thế giới (gấp 23 lần các nước phát triển).
- Tuổi thọ trung bình thấp nhất (52 tuổi), thấp hơn các nước phát triển, đang phát triển và thế giới.
Khí hậu: phần lớn lãnh thổ châu Phi nằm trong khu vực nội chí tuyến nên nền nhiệt cao, khí hậu khô nóng, mang tính lục địa.
- Cảnh quan:
+ Gồm 4 dạng cảnh quan: rừng xích đạo và nhiệt đới ẩm, rừng cận nhiệt đới khô, xa van và xa van – rừng, hoang mạc và bán hoang mạc.
+ Cảnh quan chủ yếu là xa van và xa van – rừng ở phần lớn lãnh thổ trung tâm; hoang mạc và bán hoang mạc chiếm diện tích lớn ở lãnh thổ phía Bắc (vĩ tuyến 15oB kéo dài hết lãnh thổ phía Bắc).