Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
* Chính phủ Ru-dơ-ven can thiệp vào điều tiết nền kinh tế và thực hiện Chính sách mới.
- Chính sách mới đã :
- Giải quyết được những khó khăn trước mắt của nước Mĩ như nạn thất nghiệp.
- Xoa dịu mâu thuẫn trong xã hội
- Khắc phục được các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng - vai trò điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế.
• Cuộc khủng hoảng 1929 – 1933 là cuộc khủng hoảng “thừa” , cung vượt qua cầu, kinh tế Mĩ phát triển quá nhanh, đặc biệt là công nghiệp, sản xuất ra quá nhiều hàng hóa, thiếu thị trường tiêu thụ, hàng hóa bị đọng lại nên sản xuất bị ảnh hưởng, người lao động không có việc làm.
• Mà giai đoạn 1932 – 1933 là giai đoạn khủng hoảng diễn ra nghiêm trọng nhất.
Phong trào công nhân Mĩ diễn ra sôi nổi ngay cả trong thời kì phồn vinh của nước Mĩ, vì:
- Chính phủ Mĩ ra sức ngợi ca sự phồn vinh của nền kinh tế, thi hành chính sách ngăn chặn công nhân đấu tranh, đặc biệt là những người có tư tưởng tiến bộ.
- Phát triển kinh tế chạy theo lợi nhuận, theo chủ nghĩa tự do thái quá. Phát triển không đồng bộ giữa các ngành, mất cân đối giữa cung và cầu.
- Người lao động luôn đối mặt với nạn thất nghiệp, bất công xã hội, phân biệt chủng tộc, phân hóa giàu nghèo quá chênh lệch,...
=> Dẫn đến mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với tư sản sâu sắc là nguyên nhân dẫn đến những cuộc đấu tranh.
* Tình hình kinh tế: Những năm 20 của thế kỉ XX Mĩ bước vào thời kì phồn vinh, là nước giàu nhất thế giới
- Biểu hiện
+ 1929, sản lượng công nghiệp chiếm 48% sản lượng công nghiệp thế giới
+ Đứng đầu về sản xuất ôtô, thép, dầu mỏ ...
+ 1929, nắm 60% trữ lượng vàng của thế giới
Trong những năm 1933 - 1939, Chính phủ Hít-le đã thực hiện chính sách:
- Về chính trị: thiết lập nền chuyên chính độc tài, công khai khủng bố các Đảng phái tiến bộ.
- Về kinh tế : Tổ chức nền kinh tế theo hướng tập trung mệnh lệnh, phục vụ cho nhu cầu quân sự.
- Về đối ngoại : tăng cường các hoạt động chuẩn bị gây chiến tranh xâm lược.
Các giai đoạn phát triển của nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới:
Giai đoạn 1919 – 1923: Nước Đức suy sụp về kinh tế, chính trị, quân sự. Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt dẫn đến sự bùng nổ cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng 11 năm 1918, nước Đức diễn ra cao trào cách mạng 1918 – 1923.
Giai đoạn 1924 – 1929: Nước Đức đã vượt qua thời kì khủng hoảng kinh tế và chính trị sau chiến tranh. Chính quyền tư sản đã đẩy lùi phong trào cách mạng của quần chúng, từng bước khắc phục tình trạng hỗn loạn về tài chính, tạo đà cho nền kinh tế khôi phục và phát triển.
Giai đoạn 1929 – 1939, nước Đức lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế và quá trình Đảng Quốc xã lên cầm quyền, chuẩn bị tiến tới gây chiến tranh thế giới.
Nền kinh tế Đức đã thoát khỏi khủng hoảng và vượt qua một số nước tư bản châu Âu. Vượt qua các nước Pháp, I-ta-li-a và ngang hàng với Anh.
Cụ thể:
- Sản lượng than gấp 230 lần so với Italia, gấp 5 lần so với Pháp và gần bằng Anh.
- Sản lượng điện và thép vượt qua cả Anh, Pháp và Italia với 49 tỉ kW/h và 19,8 triệu tấn thép.
- Sản lượng ô tô sản xuất vượt qua Pháp và Italia cộng lại với 351 000 chiếc ô tô.
Chủ nghĩa phát xít thắng thế ở Đức vì:
- Sự bất lực của Chính phủ Đức trước những khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế.
- Ảnh hưởng của Đảng Quốc xã và Hít-le đối với giới đại tư bản Đức càng ngày càng tăng.
- Đảng Xã hội dân chủ Đức từ chối đề nghị hợp tác với những người cộng sản để thành lập Mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa phát xít.
- Nước Đức có đặc trưng là quân phiệt, hiếu chiến. Trong lịch sử, nước Đức được thống nhất bằng cuộc cách mạng “sắt và máu”.
Cuối năm 1923, nước Đức cơ bản vượt qua được thời kì khủng hoảng sau chiến tranh. Chính trị ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển.
- Kinh tế: Sản xuất công nghiệp Đức phát triển mạnh, năm 1929 đã vượt Anh, Pháp vươn lên đứng đầu châu Âu. Xuất hiện các tập đoàn tư bản độc quyền lớn xuất hiện, thâu tóm những ngành kinh tế lớn của Đức.
- Chính trị: Chế độ Cộng hòa Vaima được củng cố, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân.
- Đối ngoại: Địa vị quốc tế Đức dần dân được phục hồi.
Hình 32 nói lên sự khủng hoảng của nền kinh tế Đức thông qua việc đồng mác bị mất giá một cách nghiêm trọng: trẻ em có thể đem ra chơi làm diều.
- Sự khó khăn của nước Đức sau chiến tranh: sau chiến tranh nước Đức là nước bại trận, hoàn toàn suy sụp về kinh tế, chính trị, quân sự.
- Mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt dẫn tới sự bùng nổ của cuộc cách mạng dân chủ tư sản (11 – 1918), năm 1919, thông qua Hiến pháp, thiết lập chế độ cộng hòa tư sản – thường gọi là nền Cộng hòa Vaima.
- Phong trào cách mạng dâng cao: Đảng cộng sản Đức được thành lập (1918) trực tiếp lãnh đạo cách mạng.