Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
Cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào chống Pháp của nhân dân Lào đầu thế kỉ XX:
1901 – 1903: Cuộc khởi nghĩa của Phacađuốc
1901 – 1937: Cuộc khởi nghĩa do Ong Kẹo, Com – ma – đam chỉ huy.
1918 – 1922: Khởi nghĩa Châu Pa – chay.
Cuộc khởi nghĩa của A-cha Xoa (1863-1866): diễn ra ở các tỉnh giáp với biên giới Việt Nam.
- A –cha Xoa và nghĩa quân phải nhiều lần lánh sang Việt Nam ở vùng Châu Đốc, Tịnh Biên, được nhân dân Việt giúp đỡ.
- Từ vùng núi Thất Sơn, A –cha Xoa lấy Châu Đốc, Hà Tiên làm bàn đạp tấn công quân Pháp ở Cam-pu-chia. Biên giới Việt Nam-Cam-pu-chia trở thành vùng căn cứ cho cuộc khởi nghĩa của A-cha Xoa.
Cuộc khởi nghĩa của Phu-côm-bô (1866-1867):
- Năm 1866, Phu-côm-bô phát động cuộc khởi nghĩa chống Pháp và lập căn cứ ở Tây Ninh, có liên kết với các nghĩa quân Việt Nam.
- Nhân dân Việt Nam ở ba tỉnh miền Tây Nam Kì thường xuyên cung cấp lương thực, vũ khí cho nghĩa quân.
⇒ Thể hiện tinh thần đoàn kết chống kẻ thù chung .
Với hiệp ước 1884, Cam-pu-chia thành thuộc địa của Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi trong cả nước.
- Mở đầu là cuộc khởi nghĩa lớn của Hoàng thân Si-vô-tha, kéo dài hơn 30 năm (1861-1892).
- Cuộc khởi nghĩa của A-cha-xoa (1863-1866) diễn ra ở các tỉnh giáp với biên giới Việt Nam, đã gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất to lớn.
- Cuộc khởi nghĩa của Phu-côm-bô (1866-1867) không chỉ thể hiện tinh thần anh dũng, bất khuất của nhân dân Cam-pu-chia mà còn là biểu tượng về liên minh chiến đấu của nhân dân hai nước Việt Nam và Cam-pu-chia trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược.
⇒ Các cuộc khởi nghĩa đều thất bại.
Tác hại của bệnh lậu dẫn tới vô sinh
- Hẹp đường dẫn tinh vì sau khi viêm để lại sẹo trên đường đi của tinh trùng hoặc trứng.
- Tắc ống dẫn trứng
- Có nguy cơ chửa ngoài dạ con
- Con có thể bị mù do nhiễm khuẩn khi đi qua âm đạo
Tác hại nguy hiểm của bệnh giang mai
- Bệnh giang mai nếu không được chữa trị sẽ để lại những di chứng ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản
- Gây tổn thương các phủ tạng (tim, gan, thận) và hệ thần kinh
- Con sinh ra có thể mang khuyết tật hoặc bị dị dạng bẩm sinh.
=> Bệnh lậu và bệnh giang mai là các bệnh lây truyền chủ yếu qua đường tình dục vì vậy tốt nhất là tránh quan hệ tình dục với người bệnh, đảm bảo tình dục an toàn.
Mang thai ở tuổi còn quá trẻ là nguyên nhân làm tăng nguy cơ tử vong vì:
- Tỉ lệ sảy thai, đẻ non cao do tử cung chưa phát triển đầy đủ để mang thai đến đủ tháng và thường sót rau, băng huyết, nhiễm khuẩn.
- Nếu sinh con thì con sinh ra thường nhẹ cân, tỉ lệ tử vong cao.
Chưa kể mang thai và sinh con ở tuổi này sẽ ảnh hưởng đến học tập, đến vị thế xã hội, đến công tác sau này.
* Những ảnh hưởng của việc có thai sớm, ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là :
- Dễ sảy thai hoặc đẻ non do tử cung chưa phát triển đầy đủ.
- Con khi đẻ ra thường nhẹ cân, khó nuôi, dễ nhiễm bệnh và tỷ lệ tử vong cao.
- Nếu phải nạo thai dễ dẫn đến vô sinh vì dính tử cung, tắc vòi trứng hoặc chửa ngoài dạ con, tổn thương thành tử cung có thể để lại sẹo gây vỡ tử cung khi chuyển dạ lần sau .
- Phải bỏ học, ảnh hưởng đến con đường sự nghiệp.
* Để tránh rơi vào tình trạng trên, cần phải :
- Tránh quan hệ tình dục ở tuổi học sinh, giữ tình bạn trong sáng và lành mạnh để không ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản, tới học tập và hạnh phúc trong tương lại.
- Hoặc phải bảo đảm tình dục an toàn (không mang thai hoặc không bị mắc các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục) bằng sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn.
1. có thai … sinh con
2. trứng
3. sự rụng trứng
4. thụ thai ………… mang thai
5. tử cung
6. làm tổ ……….. nhau
7. mang thai
Bài 2 (trang 186 sgk Sinh học 8): Nêu rõ mối quan hệ trong hoạt động điều hòa của tuyến yên đối với các tuyến nội tiết.
Trả lời:
Các hoocmôn của tuyến yên không chỉ điều khiển các tuyến nội tiết mà ngược lại, hoạt động của tuyến yên đã được tăng cường hay kìm hãm cũng bị sự chi phối của hoocmôn do các tuyến này tiết ra. Đó là cơ chế tự điều hòa của các tuyến nội tiết nhờ các thông tin ngược.