Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
- Bộ hàm của động vật ăn tạp thường to xương quai hàm phát triển thậm chí cả những răng hàm của chúng to nhiều gờ cứng do nhai thức ăn thực vật
- Bộ hàm của động vật ăn thịt thì xương quai hàm không phát triển như động vật ăn tạp nhưng các răng của chúng rất sắc đặc biệt là răng nanh, răng hàm.
- Ruột của động vật ăn tạp sẽ dài hơn động vật ăn thịt đấy vì thức ăn của chúng nghèo dinh dưỡng, khó tiêu hóa, hấp thụ hơn nên ruột phải đủ dài để hấp thụ đầy đủ các chất dinh dưỡng. Ngoài ra động vật ăn tạp hay động vật ăn thực vật có manh tràng (ruột tịt) rất phát triển để hấp thụ chất dinh dưỡng từ thức ăn.
- Ruột của động vật ăn thịt có chiều dài ngắn hơn động vật ăn tạp và ăn thực vật vì thức ăn của chúng chủ yếu là thịt mềm, giàu chất dinh dưỡng, dễ hấp thụ, dễ tiêu hóa.Ngoài ra động vật ăn thịt thì ruột tịt không phát triển.
Động vật ăn thịt như thú, có bộ rang phân hóa thành rang cửa, răng nanh, răng ăn thịt và răng hàm.
- Răng cửa giúp lấy thịt ra khỏi xương
- Răng nanh cắm vào con mồi và giữ con mồi.
- Răng ăn thịt rất phát triển với chức năng xé thịt.
- Ở động vật chưa có cơ quan tiêu hóa: quá trình tiêu hóa chủ yếu là tiêu hóa nội bào.
- Ở động vật có túi tiêu hóa: quá trình tiêu hóa chủ yếu là tiêu hóa ngoại bào nhờ các tuyến tiết dịch tiêu hóa có chứa các enzim.
- Ở động vật đã hình thành ống tiêu hóa và các tuyến tiêu hóa: quá trình tiêu hóa diễn ra trong ống tiêu hóa với sự tham gia của các enzim chủ yếu là tiêu hóa ngoại bào.
Không để rau quả trên ngăn đá của tủ lạnh là vì: Trong rau quả đều chứa một hàm lượng nước (khá nhiều) nhất định. Nếu để vào ngăn đá, nước sẽ đóng băng, khi nước đóng băng làm tế bào to ra sẽ phá vỡ các bào quan, làm hỏng tế bào và làm cho rau quả chóng bị hỏng.
Để giảm cường độ hô hấp đến mức tối thiểu (không giảm đến 0 vì đối tượng bảo quản sẽ chết) người ta thường sử dụng ba biện pháp bảo quản sau đây:
* Bảo quản khô: Biện pháp bảo quản này thường sử dụng để bảo quản các loại hạt trong các kho lớn. Trước khi đưa hạt vào kho, hạt được phơi khô với độ ẩm khoảng 13 - 16% tùy theo từng loại hạt.
* Bảo quản lạnh: phần lớn các loại thực phẩm, rau quả được bảo quản bằng phương pháp này. Chúng được giữ trong các kho lạnh ở các ngăn có nhiệt độ khác nhau (tùy loại). Ví dụ, cam chanh ở 6°C, các loại rau 3 - 7°C.
* Bảo quản trong điều kiện nồng độ CO2 cao gây ức chế hô hấp: Đây là biện pháp bảo quản hiện đại và cho hiệu quả bảo quản cao. Biện pháp này thường sử dụng các kho kín có nồng độ CO2 cao hoặc đơn giản hơn là các túi pôliêtilen. Tuy nhiên, việc xác định nồng độ CO2 thích hợp (không thấp quá vì không tác dụng, không quá cao vì ức chế hoàn toàn hô hấp) là điều hết sức quan trọng đối với các đối tượng bảo quản và mục đích bảo quản.
Duy trì cường độ hô hấp nông sản, nông phẩm, rau quả ở mức tối thiểu để sao cho hao hụt xảy ra ở mức thấp nhất vì hô hấp là quá trình phân giải các chất hữu cơ dự trữ trong các sản phẩm. Không những thế nếu hô hấp mạnh sẽ làm thay đổi môi trường bảo quản có thể dẫn đến phân giải kị khí làm cho thực phẩm nhanh hỏng hoặc tích lũy các chất có hại.
Sự ảnh hưởng của nồng độ O2 và CO2 tới hô hấp của thực vật:
* Nồng độ O2: O2 tham gia trực tiếp vào việc ôxi hóa các chất hữu cơ và là chất nhận điện tử cuối cùng trong chuỗi chuyền điện tử để sau đó hình thành nước trong hô hấp hiếu khí. Vì vậy, nếu nồng độ O2 trong không khí giảm xuống dưới 10% thì hô hấp sẽ bị ảnh hưởng và khi giảm xuống dưới 5% thì cây chuyển sang phân giải kị khí là dạng hô hấp không có hiệu quá năng lượng, rất bất lợi cho cây trồng.
* Nồng độ CO2: CO2 là sản phẩm của quá trình hô hấp. Các phản ứng đêcacbôxi hóa để giải phóng CO2 là các phản ứng thuận nghịch. Nếu hàm lượng CO2 cao trong môi trường sẽ làm cho phản ứng chuyển dịch theo chiều nghịch và hô hấp bị ức chế.
a. Hô hấp và nhiệt độ
- Hô hấp bao gồm các phản ứng hoá học với sự xúc tác của các enzim do đó phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ.
- Mối quan hệ giữa cường độ hô hấp và nhiệt độ thường được biểu diễn bằng đồ thị có đường cong một đỉnh.
+ Nhiệt độ thấp nhất mà cây bắt đầu hô hấp biến thiên trong khoảng 0 - 10C tuỳ theo loài cây ở các vùng sinh thái khác nhau.
+ Nhiệt độ tối ưu cho hô hấp trong khoảng 30 - 35C
+ Nhiệt độ tối đa cho hô hấp trong khoảng 40 - 45C. Trên nhiệt độ tối đa, bộ máy hô hấp sẽ bị phá huỷ.
b. Hô hấp và hàm lượng nước
- Nước vừa là dung môi vừa là môi trường cho các phản ứng hoá học xảy ra. Nước còn tham gia trực tiếp vào quá trình oxi hoá nguyên liệu hô hấp. Vì vậy hàm lượng nước trong cơ quan, cơ thể hô hấp liên quan trực tiếp đến cường độ hô hấp.
+ Cường độ hô hấp tỉ lệ thuận với hàm lượng nước (độ ẩm tương đối) của cơ thể, cơ quan hô hấp.
+ Hàm lượng nước trong cơ quan hô hấp càng cao thì cường độ hô hấp càng cao và ngược lại.
<
Vào một buổi sáng mùa thu, bầu trời cao trong xanh, nắng vàng rực rỡ. Mẹ đưa em đến trường. Buổi đầu tiên đi học em rất hồi hộp, các bạn đều xa lạ, em bỡ ngỡ đứng nép bên mẹ. Khi vào lớp cô giáo giới thiệu tên cô với chúng em và từng bạn giới thiệu tên của mình. Em và các bạn làm quen, trò chuyện và chơi với nhau xua đi nỗi lo lắng lúc đầu. Buổi học hôm đó kết thúc thật là vui vẻ.
Từ chỉ trạng thái là những vận động diễn ra ở bên trong hoặc tự thân diễn ra (không có tác động nào cả), chỉ người trong cuộc mới cảm nhận được.
Ví dụ: nghĩ, buồn, vui, ghét, rơi, ngã, chết, sống…
- Vì hô hấp tiêu hao chất hữu cơ của đối tượng bảo quản, do đó làm giảm số lượng và chất lượng.
- Hô hấp làm thay đổi thành phần khí trong môi trường bảo quản: Khi hô hấp lượng O2 sẽ giảm, CO2 sẽ tăng và khi O2 giảm quá mức thì hô hấp ở đối tượng bảo quản chuyển sang dạng phân giải kị khí và đối tượng bảo quản sẽ bị phân hủy nhanh chóng.