Mẫu Báo cáo kết quả BDTX của giáo viên

Báo cáo kết quả BDTX của giáo viên

Báo cáo kết quả BDTX năm học là tất cả các tài liệu về bồi dưỡng thường xuyên đều được niêm yết trên cổng thông tin điện tử của nhà trường, giáo viên có điều kiện để học tập, trao đổi. VnDoc.com xin giới thiệu tới các bạn báo cáo mới nhất dành cho năm học 2017 - 2018.

Mẫu giấy chứng nhận giáo viên dạy giỏi cấp trường

Mẫu bảng đánh giá quá trình tập sự của Giáo viên, Giảng viên

Mẫu kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên giáo viên năm học 2016-2017

PHÒNG GD & ĐT ......
TRƯỜNG TH ..........
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số: .... /........ ........,ngày .... tháng .... năm 2018

BÁO CÁO
Kết quả bồi dưỡng thường xuyên năm 2017 -2018

Họ và tên: ..............................................................................................

Nhiệm vụ được giao: .............................................................................

Căn cứ vào kế hoạch bồi dưỡng, tôi làm văn bản báo cáo kết quả tự bồi dưỡng thường xuyên năm học 2017 - 2018 của cá nhân gồm những nội dung sau:

CÁC GIẢI PHÁP SƯ PHẠM TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM

1.Giải pháp xử lý tình huống sư phạm của người giáo viên chủ nhiệm trong công tác quản lý và giáo dục học sinh trong các giờ học chính khóa:

*Xếp chỗ ngồi:

GVCN phải xem trước học bạ của từng học sinh trong năm học trước để nắm được học lực, hạnh kiểm của từng học sinh. Khi sắp chỗ ngồi nên chia đều những học sinh có học lực khá, giỏi ngồi xen lẫn với những học sinh có học lực trung bình. Sau khi xếp chỗ ngồi xong GVCN lập sơ đồ lớp và dán tại bàn giáo viên để giáo viên bộ môn tiện theo dõi.

*Bầu Ban cán sự (BCS) lớp:

Khi GVCN đã nắm được học lực, hạnh kiểm của học sinh sẽ lựa chọn những học sinh có đủ phẩm chất đạo đức để bầu làm lớp trưởng, các lớp phó và các tổ trưởng, tổ phó. Đây là vấn đề rất cần thiết để giao trách nhiệm cho BCS lớp thay mặt GVCN điều hành, quản lý lớp. Trong quá trình giao nhiệm vụ, nếu thấy trong BCS những học sinh nào không làm tốt sẽ thay bằng học sinh khác để tiếp tục quản lý lớp.

*GVCN xây dựng nội quy lớp:

Nội quy lớp là một công cụ hỗ trợ GVCN xử lý học sinh vi phạm. Bên cạnh GVCN phải xây dựng thang điểm thi đua của lớp hàng tuần ứng với nội quy của lớp, trong đó có hình thức biểu dương, khen thưởng và kỹ luật cụ thể từng trường hợp và được công khai vào buổi sinh hoạt chủ nhiệm cuối tuần.

*GVCN khảo sát học sinh:

Sau khi làm xong công tác tổ chức lớp, GVCN tiến hành khảo sát để nắm được những thông tin có liên quan đến hoàn cảnh, đời sống gia đình của các em. Qua đó giúp GVCN biết được hoàn cảnh từng đối tượng học sinh. Sau khi nắm được những thông tin của học sinh, GVCN sẽ phân đối tượng, xem những học sinh nào có thể dẫn đến sa sút về học tập và sẽ trở thành học sinh cá biệt sau đó lập sổ để theo dõi dành riêng cho những đối tượng học sinh này.

2. Tiếp xúc với cha mẹ học sinh

Trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm GVCN phải cố gắng nắm được số điện thoại liên lạc của gia đình, đây là điều kiện thuận lợi giúp GVCN trao đổi gián tiếp với cha mẹ học sinh khi cần thiết. Ngoài ra GVCN cần phải tiếp xúc riêng để trao đổi thông tin với cha mẹ của những học sinh cá biệt, đây là điều rất cần thiết, không thể thiếu đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm. Thông qua công việc này giúp giáo viên biết được các thói quen, sở thích, thái độ của học sinh thường biểu hiện ở gia đình. Qua đó giúp cha mẹ học sinh biết được tình hình học tập, những dấu hiệu sa sút của các em đồng thời giúp cha mẹ học sinh thấy được sự quan tâm của nhà trường đối với gia đình từ đó tạo được niềm tin đối với phụ huynh trong việc giáo dục con cái của họ.

3. Tìm hiểu mối quan hệ bè bạn của học sinh

Ngoài những thông tin mà GVCN tìm hiểu về học sinh cá biệt, bên cạnh cần phải tìm hiểu mối quan hệ bè bạn của học sinh đó để biết những đối tượng mà học sinh này đang chơi chung họ như thế nào. Có thể GVCN tìm hiểu thông qua lớp trưởng, các học sinh khác trong lớp… Có những học sinh ít giao tiếp với bạn bè, nên khuyến khích các học sinh khác trong lớp thường xuyên tiếp xúc để có biện pháp giúp đỡ bạn, giúp các em sống trong môi trường đoàn kết, gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong bất kỳ trường hợp nào. GVCN có thể giáo dục các em bằng cách nêu gương, điểm hình giúp các em tự nhận thấy những khuyết điểm của mình để từng bước sửa chữa.

4. Tạo sự gần gũi, quan tâm với học sinh

Tạo mối quan hệ gần gũi là thể hiện sự quan tâm đối với các em, nhưng người thầy vẫn luôn giữ chuẩn mực, nghiêm khắc. Tiếp xúc tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em, nhằm để động viên, khích lệ tạo cho các em có được chỗ dựa tinh thần vững chắc. Để các em thấy sự quan tâm của người thầy như người cha, người mẹ của các em luôn dìu dắt, nâng đỡ các em khi vấp phải những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống.

Khi học sinh nghỉ học, dù có phép hay không phép, dù bất cứ lý do gì những buổi học sau phải tiếp xúc để thăm hỏi các em.

5. Công tác phối hợp.

Để giáo dục được những học sinh cá biệt, bản thân của mỗi GVCN cần phải biết phối hợp kịp thời, linh hoạt với các bộ phận trong nhà trường. Như phối hợp với Tổ tự quản, cung cấp cho Tổ tự quan danh sách những học sinh cá biệt để kịp thời hỗ trợ trong việc theo dõi, nhắc nhỡ và xử lý những vi phạm của các em. Phối hợp với giáo viên bộ môn, thông qua đó giáo viên có thể theo dõi thái độ học tập của các em ở từng môn học để có hướng bồi dưỡng, rèn luyện thêm cho các em về kiến thức.

6. Giao nhiệm vụ cho học sinh:

Thường GVCN không giao nhiệm vụ cho những học sinh cá biệt, vì cho rằng những học sinh này sẽ không làm được gì. Cho nên đối với những đối tượng này, GVCN nên tạo cho các em một cơ hội để các em thấy được vai trò của mình trong tập thể, đồng thời phát huy tính làm chủ của các em và nhận thấy rằng mình không bị bỏ rơi. Như tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, tham gia các trò chơi dân gian, các hoạt động thể thao, tham gia làm báo tường, cắm trại nhân các ngày lễ hội của trường tổ chức…

7. Rèn luyện học sinh tính trung thực

Phải rèn luyện cho học sinh tính trung thực, tự lập, vượt qua mọi khó khăn thử thách, không nên ỷ lại. Có được tính trung thực điều đó khẳng định là các em đã trưởng thành, phải chịu trách nhiệm trước công việc của mình làm, nếu có sai phạm phải tự nhận lấy, không đổ lỗi cho người khác. Từ đó giúp các em tự khẳng định được mình nhằm hạn chế bớt những sai phạm.

8. Sinh hoạt chủ nhiệm

Trong buổi sinh hoạt cuối tuần, GVCN đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn các em từng bước tiến hành. Sau đó GVCN sẽ là người kết luận cuối cùng. Đối với những trường hợp vi phạm cho các em tự báo cáo về mình dựa theo nội quy của lớp. Những học sinh vi phạm phải chấp nhận hành vi vi phạm của mình. Điều này thông qua sự báo cáo của BCS lớp phải thật sự chính xác công bằng. Những hình thức kỹ luật đã đưa ra bắt buộc học sinh đó phải thực hiện. Làm được điều đó sẽ rèn luyện cho các em chấp hành tốt Nội quy trường, lớp như vậy sẽ hạn chế tối đa trường hợp học sinh có biểu hiện tái phạm.

Ngoài việc xử lý học sinh vi phạm, GVCN cần phải có hình thức biểu dương, khen thưởng. Mỗi khi học sinh cá biệt làm được một việc tốt thì phải động viên khuyến khích các em tiếp tục phát huy.

2. Giải pháp xử lý tình huống sư phạm của người giáo viên chủ nhiệm trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Tiết chào cờ, hoạt động của sao nhi đồng và Đội TNTPHCM:

2.1. Tiết chào cờ đầu tuần: sau tiết sinh hoạt dưới cờ (tiết đầu tuần), giáo viên chủ nhiệm (GVCN) nắm danh sách các học sinh (HS) vắng có phép, không phép, đi muộn. Bởi vì trong giờ này, thầy cô còn cung cấp cho học sinh những bài học đạo đức. Khi trong lớp có học sinh nào gặp hoàn cảnh khó khăn là thầy cô gợi ý cho lớp thể hiện tinh thần tương thân tương ái, giúp một bạn vượt khó, với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, chuyện kỷ luật trong lớp, việc thi đua nội bộ lớp, việc đánh giá học sinh cũng được giáo viên hướng dẫn thực hiện một cách nhẹ nhàng.

2.2. Về hoạt động sao nhi đồng và đội TNTPHCM:

Phối hợp với Tổng phụ trách trong hoạt động Đội – Sao: Mỗi tiết học hiệu quả hơn nếu nề nếp lớp học tốt. Bởi vậy, cần phối hợp với ban thi đua yêu cầu chấm điểm về nề nếp lớp học và trao đổi các hoạt động ngoài giờ lên lớp phù hợp.

2.3. Trong sinh hoạt 15 phút: GVCN định hướng cho các em phụ trách sao (HS lớp 4-5) đến giao lưu với học sinh lớp bằng một số hoạt động giao tiếp hàng ngày đơn giản; hay kiểm tra bảng nhân, chia , kỹ năng tính toán, thi vẽ tranh. Vậy là chỉ 15 phút sinh hoạt Sao đầu buổi học các em được rèn rất nhiều kỹ năng nhờ vào anh chị phụ trách Sao .

3. Giải pháp xử lý tình huống sư phạm của người giáo viên chủ nhiệm trong công tác quản lý và giáo dục học sinh trong hoạt động 2 buổi/ ngày:

* GIẢI PHÁP 1: Nâng cao nhận thức giáo viên

- Mỗi giáo viên phải nắm bắt, hiểu nội dung và tinh thần chỉ đạo của ngành về vấn đề tự chủ, linh hoạt, sáng tạo.
- Giáo viên phải hiểu về mục tiêu, nguyên tắc của dạy học cả ngày để từ đó định hướng cho những thiết kế bài dạy phù hợp.

- GV phải ý thức được rằng HS Tiểu học tiềm ẩn nhiều khả năng phát triển, song do chưa có kinh nghiệm về cuộc sống nên các em tiếp thu không chọn lọc. Bởi vậy: GVCN giữ vai trò quyết định đến sự phát triển đúng hướng của các em, là nhân tố quyết định đối với chất lượng GD.

* GIẢI PHÁP 2:

- Dạy đến từng đối tượng HS, dạy theo nhu cầu người học một cách hợp lý.

- Khi mọi đối tượng HS đều được học, mỗi một học sinh được giao từng công việc cụ thể phù hợp với năng lực, sở trường thì các em sẽ hăng hái thực hiện, không khí lớp học sôi nổi. Muốn đạt được mục tiêu này giáo viên phải:

a. Tìm hiểu, nắm bắt, phân loại đối tượng HS: Đây là việc làm rất quan trọng, bởi lẽ khi phân loại được HS của lớp, giáo viên CN sẽ hình dung ra nhóm học sinh nào cần gì để giáo viên có kế hoạch.

b. Chọn nội dung cho phù hợp với từng nhóm đối tượng HS: Song song với việc nắm bắt, phân loại học sinh, giáo viên CN phải quan tâm đến chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt của từng bài, từng phần trong từng tiết học chính khóa ở buổi 1. Với nội dung đó, ở buổi 2 học sinh TB, yếu cần luyện kỹ năng gì. Em nào chưa nắm được chuẩn? Em nào hổng kiến thức kỹ năng gì? Do nguyên nhân nào, cần đưa nội dung vào dạy và với lượng bài bao nhiêu còn HS khá giỏi cần mở rộng, khắc sâu hoặc nâng cao đến đâu. Nên đưa dạng bài nào vào dạy ở phần nào là hợp lí. Trong thực tế lên lớp, có những đơn vị kiến thức khi dạy buổi 2 HS trung bình, yếu các em luyện để đạt chuẩn vững chắc một cách tự giác, hứng thú với nhiều biện pháp của giáo viên là xem như thành công. Còn nhóm HS khá, giỏi các em đó nắm chắc kiến thức cơ bản thì nhiệm vụ của giáo viên phải tạo cho các em cơ hội được tiếp xúc, được làm quen, được chủ động chiếm lĩnh kiến thức ở mức độ cao hơn.

* GIẢI PHÁP 3: Đa dạng hóa các hình thức dạy học Khi lên lớp dạy học ở buổi 2 nếu hình thức dạy học đơn điệu, nghèo nàn, học sinh sẽ rất ngại học, chán học. Bởi thế, bên cạnh việc chủ động chọn nội dung, thời lượng thích hợp thì GVCN quan tâm đến việc làm phong phú các hình thức nhằm phát huy vai trò chủ động sáng tạo của học sinh. Chẳng hạn, trong một tiết học buổi 2, giáo viên có thể đan xen giữa hình thức học cá nhân, học nhóm, học cả lớp, thay đổi giữa các bài tập dạng trắc nghiệm, bài tập tự luận, câu đố, xen kẽ giữa việc dùng các đồ dùng học tập như bảng con, phiếu bài tập, vở ô ly,… Nhưng dù ở hình thức nào, dù phương pháp nào cũng cần đảm bảo:

+ Không ảnh hưởng đến thời lượng các tiết đó được cơ cấu cứng ở buổi 2.

+ Tạo niềm tin, ổn định tâm lý, tạo tâm thế, nhu cầu học cho học sinh.

+ Cách thức dạy học kết hợp nghệ thuật chủ nhiệm phù hợp với tính cách, năng lực, đặc điểm tâm lý, hoàn cảnh từng học sinh để mọi học sinh đều thích.

Như vậy, với một số hình thức, phương pháp dạy học, 1 tiết dạy buổi 2 diễn ra nhẹ nhàng trong bầu không khí thi đua sôi nổi.

*GIẢI PHÁP 4: Mạnh dạn điều chỉnh thời lượng, kết hợp đan xen các tiết học một cách hợp lý, tích hợp các kiến thức ở các lĩnh vực qua các sân chơi trí tuệ cho HS. Ngoài những tiết Ôn luyện riêng biệt cho từng phân môn mà GV đó linh hoạt chọn các phương pháp, đa dạng hóa các hình thức lên lớp thì việc tạo những sân chơi trí tuệ cho HS cũng vô cùng quan trọng bởi lúc đó các em được ôn kiến thức, được luyện kỹ năng, được phát triển toàn diện trong không khí thi đua sôi nổi, vui tươi, lành mạnh. Trong quá trình dạy học ở buổi 2, ở một số buổi học (có thể 1 tháng 1 lần) ta có thể đan xen các tiết vào nhau, xâu chuỗi các tiết tạo thành 1 buổi sinh hoạt câu lạc bộ, 1 buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, 1 sân chơi trí tuệ cho HS rất thú vị và hiệu quả.

* GIẢI PHÁP 5: Phối hợp các lực lượng GD
a. Tranh thủ sự hợp tác của đồng nghiệp.

- Trong sinh hoạt tổ chuyên môn, một nội dung không thể thiếu là dự kiến nội dung, thời lượng dạy học cho tuần sau. GV trong tổ trao đổi, thảo luận, góp ý, bổ sung cho nhau để chọn những nội dung dạy buổi 2 chất lượng hơn. Ngoài ra, GV dạy buổi 1 “bàn giao” 1 số vấn đề về nội dung còn lại ở buổi 1 mà không thể lên lớp hết được. Trao đổi về mức độ tiếp thu bài của từng em, từ đó các GV có biện pháp dạy học phù hợp với từng HS.

b. Phối hợp với giáo viên bộ môn: Ở một số buổi 2, một số tiết năng khiếu, các GV nên trao đổi sau từng tuần để có thời gian thích hợp cho từng tiết (nếu cần).

c. Phối hợp với Tổng phụ trách trong hoạt động Đội – Sao: Mỗi tiết học hiệu quả hơn nếu nề nếp lớp học tốt. Bởi vậy, cần phối hợp với ban thi đua yêu cầu chấm điểm về nề nếp lớp học và trao đổi các hoạt động ngoài giờ lên lớp phù hợp. -

d. Phối hợp với cha mẹ học sinh: Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, việc phát triển nhân cách toàn diện cho HS càng thuận lợi.

* GIẢI PHÁP 7: Xây dựng môi trường sư phạm thân thiện. Môi trường sư phạm thân thiện sẽ nâng cao chất lượng GD. Vì vậy:

- Cần xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong lớp, HS khá giỏi luôn biết giúp đỡ HS yếu qua phong trào “Đôi bạn cùng tiến”, “Giúp bạn”,...

- GV cần dành cho các em sự gần gũi nhất.

- Tạo 1 lớp học: gọn, đẹp, khang trang, trưng bày sản phẩm, để HS được thể hiện, được học,... Trong lớp, GV phải tạo niềm tin cho học sinh, phải mẫu mực, gần gũi, yêu thương, thân thiện, chia sẻ với học sinh.

Tóm lại: Những việc làm dù là nhỏ nhất của học sinh, của giáo viên góp phần xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn; trong dạy học giúp các em tự tin hơn; rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh; cho các em có những hoạt động vui tươi lành mạnh; cho các em tìm hiểu, chăm sóc các di tích lịch sử, văn hoá cách mạng ở địa phương,…

4. Giải pháp xử lý tình huống sư phạm của người giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh:

- Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục.

5. Giải pháp xử lý tình huống sư phạm của người giáo viên chủ nhiệm với công tác giáo dục học sinh cá biệt.

............................................................................................................

Người viết

Đánh giá bài viết
2 15.580
Văn bản giáo dục Xem thêm