Phân tích bài thơ Quỷ Môn Quan của Nguyễn Du lớp 8
Viết bài văn phân tích bài thơ Quỷ Môn Quan của Nguyễn Du lớp 8
Phân tích bài thơ Quỷ Môn Quan - Mẫu 1
Bác hành tạp lục - tập thơ đi sứ của Nguyễn Du mở ra trước mắt người đọc một thế giới bao la, xa lạ, những tên đất tên người, những nẻo đường phương bắc xa xôi, "những nẻo đường trông thấy'" nơi quê người mà Nguyễn Du đã đi qua, đã nhìn thấy và xúc động. Có đọc Bắc hành tạp lục ta mới cảm nhận hết hồn thơ Nguyễn Du với cảm hứng nhân văn và tinh thần dân tộc cao đẹp. Quỷ Môn Quan rút trong Bắc hành tạp lục là một trong những bài thơ tuyệt tác của Nguyễn Du.
Bài thơ mở ra một không khí trang nghiêm, một sắc thái cảm xúc mới lạ ít thấy trong thơ chữ Hán Nguyễn Du: cảm xúc về một vùng núi non hùng vĩ, hiểm trở, nơi phên giậu của đất nước, đã chôn vùi bao quân tướng của thiên triều từng sang xâm lược nước ta. Bài thơ như một trang ký sự viếng chiến trường xưa. Câu đầu là một nét vẽ hoành tráng về Quỷ Môn Quan: núi dựng thành cao vút, liên tiếp tận mây xanh. Vừa có núi có mây. Núi trập trùng, liên tiếp cao vút (liên phong cao sáp). Trời xanh làm hiện lên dãy núi cao hùng vĩ. Câu thơ thứ nhất miêu tả bằng trực giác; câu thơ thứ hai đi sâu vào suy ngẫm: Nam Bắc chia ranh giới ở chỗ này! Câu thơ tự hào khẳng định cõi bờ Tổ quốc thiêng liêng:
"Dịch núi giăng giăng cao tựa mây,
Cửa chia Nam Bắc chính là đây."
Ba chữ "tựu thử phân" là một tứ thư mang tính truyền thống. Lý Thường Kiệt đã viết trong Nam quốc sơn hà: " Tiệt nhiên định phận tại thiên thư" (Vằng văc sách trời chia xứ sở). Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã tuyên bố: " Như nước Đại Việt ta từ trước... Núi sông bờ cõi đã chia". Vua Quang Trung trên đường tiến binh thần tốc đánh quân Thanh từng nói với tướng sĩ: " Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phưong Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị (...) Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài... " (Hoàng Lê nhất thống chí) - Nguyễn Du đã kế thừa người xưa để nói lên niềm tự tôn dân tộc khi đứng trước Quỷ Môn Quan hùng vĩ.
Giọng thơ trở nên trầm mặc, vần. Thơ hàm chứa chất suy tưởng nói lên cái nghịch lý, cái cực kỳ vô lý trong xã hội và lịch sử. Quỷ Môn Quan là đất hiếm sinh tử (sinh tử địa) thế mà vô số người vẫn phải lại qua (vô số khứ nhân lai). Hai chữ "khả liên" (thương cho, hoặc là khá thương thay) diễn tả niềm xót thương của nhà thơ đối với bao người đã phải bỏ mạng nơi cửa ải hiểm trở này:
"Tử sinh có tiếng nơi nguy thế
Qua lại bao người, chuyện xót thay!"
Vần thơ thể hiện một tấm lòng nhân đạo mênh mông. Mộng bành trướng xâm lăng của bọn vua chúa phương Bắc đã xô đẩy vô số binh sĩ, tướng tá của chúng phải giãi thây khắp Quỷ Môn Quan! Đó là chiều sâu trữ tình - cảm hứng lịch sử của bài thơ. Như ta đã biết, Quỷ Môn Quan là "đất chết'"của lũ giặc phương Bắc! Nơi đây, năm 981, Lê Hoàn đại phá giặc Tống; năm 1285, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát chết lúc chạy qua cửa ải; năm 1427, An Viễn hầu Liễu Thăng bị liêu diệt, hàng vạn giặc bị đánh tơi bời! Quỷ Môn Quan đúng là "sinh tử địa". Hai câu trong phần luận nói rõ núi Đầu quỷ, núi Hàm quỷ này là "sinh tử địa" như thế nào? Câu thơ chữ Hán với bốn nét vẽ gợi tả không khí thê lương, thảm đạm và rùng rợn của chiến trường xưa:
"Tắc đồ tùng măng tàng xà hổ
Bố dã yên lam tụ quỷ thần."
Thật là hiểm trở "bụi gai lấp đầy đường" thật là mịt mờ, hoang vắng và ghê sợ "khí độc đầy đồng". Cái hiện tại đang rình rập "rắn hổ ẩn nấp". Cái kinh dị ẩn hiện "Quỷ thần nhóm họp". Bằng trực giác, bằng cảm giác và bằng tưởng tượng, nhà thơ đã tái hiện cảnh tượng chiến trường xưa vô cùng hiểm trở và khủng khiếp. Cái mất đi và cái hiển hiện, cõi âm và cõi dương, thú dữ và quỷ không đầu được đặc tả làm ta nhớ lại điều mà Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo. "Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường - Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước". Câu thơ dịch đã lột tả được phần nào ý thơ và nghệ thuật đối của nguyên tác:
"Bụi rậm đầy đường, hùm rắn núp,
Khói mây khắp chốn, quỷ ma đầy."
Hai câu kết biểu lộ cách nhìn độc đáo, đầy tinh thần nhân đạo của nhà thơ đối với binh lính chết chóc thảm thương trong những cuộc xâm lược từ phương Bắc tới. Gió lạnh như có thổi xương trắng phơi khắp cửa ải - gió lạnh thổi xương trắng (hàn phong xuy bạch cốt) là một hình ảnh làm xúc động lòng người. Hàng vạn sinh mạng của binh lính Trung Hoa phải trả giá một cách vô nghĩa để thực hiện mộng xâm lăng bành trướng của bọn vua chúa Thiên triều.
Câu thơ cuối bài mang giá trị tố cáo và châm biếm sâu sắc. Câu thơ "Công cán khen gì Hán tướng hay" xuất hiện sau hình ảnh "gió lạnh phơi xương trắng" mang giá trị tố cáo sâu sắc tội ác lũ xâm lăng xưa và nay đối với đất nước ta. Bài thơ viếng chiến trường không chỉ hàm chứa tinh thần nhân đạo mà còn nêu lên bài học lịch sử đối với lũ giặc phương Bắc.
Tóm lại, cảm hứng lịch sử được diễn tả bằng phương thức trữ tình tạo nên những vần thơ chứa chan tinh thần nhân đạo. Hay nhất của bài thơ là bốn câu trong phần luận và phần kết. Giọng thơ từ u uất xót thương chuyển thành châm biếm mỉa mai. Quỷ Môn Quan không chỉ có núi cao vút lên tận mây xanh, là nơi rắn hổ ẩn nấp, nơi quỷ thần nhóm họp mà còn có những gò, những đống xương trắng ù ù gió lạnh thổi suốt đêm ngày. Sự kết hợp giữa ngôn ngữ hình tượng với sự suy ngẫm, liên tưởng và bình giá đã tạo nên cốt cách bài thơ. Nguyễn Du đã đứng trên tinh thần dân tộc để nói về Quỷ Môn Quan, nơi cửa ải hiểm yếu, từng là mồ chôn lũ xâm lược. Quỷ Môn Quan là mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc đem đến cho ta biết bao yêu mến, tự hào.
Phân tích bài thơ Quỷ Môn Quan - Mẫu 2
Nguyễn Du đã được coi là một đại thi hào của dân tộc, ông đã để lại cho đời một kho tàng thơ có giá trị cả về mặt nội dung và nghệ thuật. Các tập thơ của ông mở ra cho người đọc một thế giới bao la, những con người tài trí phi thường, tấm lòng và tư thế của Nguyễn Du cung luôn được thể hiện trong thơ. Qua bài thơ có thể thấy tư thế của Nguyễn Du là đàng hoàng tự chủ tuy là người đi sứ sang Thiên triều nhưng không hề mất đi lòng tự hào, tự tôn dân tộc.
Quỷ Môn Quan là bài thơ mở ra một cảm xúc mới lạ trong thơ Nguyễn Du. Trước hết ông dạt dào cảm xúc trước cảnh núi non hùng vĩ, nơi phên dậu của Tổ quốc đã vùi thân biết bao quân xâm lược của các triều Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Nhìn ngắm cảnh quan thiên nhiên ấy, Nguyễn Du nhận thức đầy đủ sâu sắc vị trí địa đầu của Tổ Quốc và ý nghĩa lịch sử thiêng liêng tuy mang cái tên có vẻ dữ dằn Cửa quỷ (cửa vào cõi chết). Bài thơ đã hiện lên vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên và chết chóc, binh khí còn bao quanh nơi diễn ra những trận chiến:
“Dịch núi giăng giăng cao tựa mây
Cửa chia Nam Bắc chính là đây”
Bằng những lời lẽ miêu tả của tác giả, người đọc có cảm tưởng nơi đây có một không khí bí ẩn bao trùm, không dễ gì qua lại. Cái chết rình rập ở những hình ảnh: bụi gai lấp đường, hổ báo, rắn rết ẩn nấp, khí độc bao phủ khắp nơi, núi non, đồng nội. Một hình ảnh rùng rợn hơn là từng đống xương trắng trong bầu trời âm u, giá lạnh vì không có ai đến. Vì vậy, đó là những linh hồn không được siêu thoát, lởn vởn trong rừng núi đầy tử khí.
Chúng ta có thể thấy bài Quỷ Môn Quan có mang một chút ý vị của một người đi thăm viếng chiến trường xưa nhưng thiếu hẳn sắc thái sử thi, những cảm khoái bi hùng trong chiến đấu. Đây chỉ là bài thơ mang những cảm xúc trữ tình do lòng nhân ái ghi lại, cho nên có những câu thơ ngậm ngùi, xót thương cho những con người đem thân làm thang danh vọng cho một vài người nào đó. Nhiều người biết là chỗ chết mà vẫn phải qua lại vẫn phải dấn thân vào. Nói rõ ra, những tên quân xâm lược từ phương Bắc là những kẻ gây tội ác, đem nỗi bất hạnh vô cùng tận cho nhân dân ta. Cái chết của chúng là đền tội ác, là kẻ gieo gió phải gặt bão. Đối với những tên tướng quyền lợi gắn liền với giai cấp thống trị, hiếu chiến thì Nguyễn Du không hề thương cảm mà còn chế giễu, mỉa mai (như trường hợp tên Mã Viện). Nhưng Nguyễn Du lại có cái nhìn bao dung, mở lòng nhân ái thương hại bọn người bị đẩy ra làm bia đỡ đạn, là nơi để thử súng gươm. Họ bắt buộc phải phục tùng bọn người đầy tham vọng, bất nhân, bất nghĩa.
Những tên lính tham gia cuộc chiến phi nghĩa đã phải trả giá đắt, chết bỏ thây trên cánh rừng hoang, xương chất thành đống, hồn vía vật vờ thành ma quỷ lang thang ở những hốc núi, xó rừng hoang vu. Nhưng từ giọng điệu cảm thương người lính, trai trẻ mà chẳng có ích gì cho gia đình, xã hội vì họ bị ấn gươm, giáo vào tay và buộc phải ra đi như câu ca dao cổ Ba năm trấn thủ lưu đồn:
“Cửa sinh có tiếng nơi nguy thế
Qua lại bao người chuyện xót thay”
Sau khi phê phán những tên lính tham gia trận chiến, Nguyễn Du chuyển sang phê phán kẻ cầm quyền, kẻ thống trị đầy tham vọng và nhẫn tâm: Giãi thây trăm họ nên công một người, thì dù có tài ba đến đâu cũng không đáng được ngợi khen, và không có cái nhìn thông cảm. Tuy đất nước láng giềng luôn tìm cách xâm lược đất nước ta, gieo nỗi bất hạnh lên đầu người dân, nhưng ông vẫn ca ngợi đề cao những con người trung nghĩa, khí phách cao thượng như Khuất Nguyên, Hàn Tín, Văn Thiên Tường, Đỗ Phủ… Đồng thời ông cũng lên án kẻ độc ác, xấu xa, đê tiện như Thượng Quan, Tần Cối, Tô Tần… Thái độ đối với Mã Viện vì cái gọi là chiến công của hắn, ông khinh miệt, coi thường khác với thái độ người lính vô danh.
Quỷ Môn Quan không chỉ là vẻ đẹp của núi non hùng vĩ, hoang vu mà còn là cảnh xương trắng thấp thoáng đây đó, gió âm u thổi suốt đêm ngày. Bài thơ đã thể hiện cốt cách cũng như tình yêu đất nước, mượn lời thơ để khẳng định cho những kẻ có ý định xâm chiếm bờ cõi về chủ quyền đất nước, và lời cảnh báo về cửa ải nguy hiểm khó thoát này.
Phân tích một bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật Ngắn gọn
>> Tham khảo đầy đủ các bài văn ngắn gọn tại đây Viết bài văn phân tích một bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật lớp 8 Ngắn gọn
Phân tích một bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật Hay Nhất
>> Tham khảo đầy đủ các bài văn hay tại đây Viết bài văn phân tích một bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật lớp 8