Phân tích nhận định: Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước; là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người

VnDoc.com xin gửi tới bạn đọc bài viết Phân tích nhận định: Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước; là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người để bạn đọc cùng tham khảo và có thêm tài liệu học tập nhé. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết và tải về tại đây.

Phân tích nhận định: Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước; là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người vừa được VnDoc.com sưu tập và xin gửi tới bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết gồm có dàn ý và bài văn mẫu. Mời các bạn cùng tham khảo.

1. Dàn ý phân tích nhận định: Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước

1/ Giới thiệu vấn đề:

- Giới thiệu khái quát về tác giả Hàn Mặc Tử và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

- Giới thiệu luận đề: “Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước; là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người.”

2/ Phân tích

a. Bức tranh đẹp về một miền quê đất nước:

- Khổ thơ thứ nhất:

+ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Câu hỏi làm sống dậy kỷ niệm về thôn Vĩ, nói rộng hơn về xứ Huế, trong tâm hồn đằm thắm và thơ mộng của Hàn Mặc Tử. Cảnh buổi sớm nơi thôn Vĩ: Nắng mới lên, chiếu sáng, lấp loáng những hàng cau. Vĩ Dạ có những hàng cau thẳng tắp thân cao vượt lên trên các mái nhà và những tán cây. Những tàu cao con bóng loáng sương đêm như hút lấy ánh sáng lúc ban mai.

+ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” là câu thơ không có gì đặc sắc tân kỳ lắm về mặt sáng tạo hình ảnh và từ ngữ, nhưng càng nghĩ càng thấy tả những vườn cây tươi tốt, xum xuê của Vĩ Dạ cũng chỉ có thể nói như thế mà thôi. Mỗi ngôi nhà ở Vĩ Dạ, nói chung ở Huế, được gọi là những nhà vườn. Vườn bọc quanh nhà, gắn với ngôi nhà xinh xinh thường là nhà trệt, thành một cấu trúc thẩm mĩ chặt chẽ. Xuân Diệu gọi mỗi cấu trúc ấy là một bài thơ tứ tuyệt. Vì thế vườn được chăm sóc chu đáo

– Những cây cảnh và cây ăn quả đều xanh tốt mơn mởn và sạch sẽ, dường như được cắt tỉa, lau chùi, mài giũa thành những cành vàng lá ngọc. Sự ví von ở đây được nâng lên theo hướng cách điệu hoá. Khuynh hướng cách điệu hóa được đẩy lên cao hơn nữa ở câu thứ tư: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Đã gọi là cách điệu hóa thì không nên hiểu theo nghĩa tả thực, tuy rằng cách điệu hoá cũng xuất phát từ sự thực: thấp thoáng đằng sau những hàng rào xinh xắn, những khóm trúc, có bóng ai đó kín đáo, dịu dàng, phúc hậu.

- Khổ thơ thứ hai, dòng kỷ niệm vẫn tiếp tục. Nhớ Huế không thể không nhớ dòng sông Hương. Dòng sông Hương, gió và mây. Con thuyền ai đó đậu dưới ánh trăng nơi vắng... Bốn câu thơ như diễn tả cái nhịp điệu nhẹ nhàng, chậm rãi của Huế.

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Cái tinh tế ở đây tả làn gió thổi rất nhẹ, không đủ cho mây bay, không đủ cho nước gợn, nhưng gió vẫn run lên nhè nhẹ cho hoa bắp lay. Tất nhiên đây phải là cảnh sông Hương chảy qua Vĩ Dạ lững lờ trôi về phía cửa Thuận. Đúng là nhịp điệu của Huế rồi. Hai câu tiếp theo đầy trăng. Cảnh trong kỷ niệm nên cảnh cũng chuyển theo lôgic của kỷ niệm. Cảnh sông Hương không gì thơ mộng hơn là dưới ánh trăng – Hàn Mặc Tử cũng không mê gì hơn là mê trăng. Trăng trở thành nhân vật có tính huyền thoại trong nhiều bài thơ của ông. Ánh trăng huyền ảo tràn đầy vũ trụ, tạo nên một không khí hư ảo, như là trong mộng:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Phải ở trong mộng thì sông mới có thể là “sông trăng” và thuyền mới có thể “chở trăng về” như một du khách trên sông Hương... Hình ảnh thuyền chở trăng không gì mới, nhưng “sông trăng” thì có lẽ là của Hàn Mặc Tử.

- Khổ thứ ba: Người xưa nơi thôn Vĩ.

Nhớ cảnh không thể không nhớ người. Người phù hợp với cảnh Huế không gì hơn là những cô gái Huế. Ai làm thơ về Huế mà chẳng nhớ đến những cô gái này (Huế đẹp và thơ của Nam Trân. Dửng dưng của Tố Hữu...) Khổ thơ dường như mở đầu bằng một lời thốt ra trước một hình ảnh ai đó tuy mờ ảo nhưng có thực:

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Mờ ảo vì “khách đường xa” và “nhìn không ra” nhưng có thực vì “áo em trắng quá”. Hình ảnh biết bao thân thiết nhưng cũng rất đỗi xa vời. Xa, không chỉ là khoảng cách không gian mà còn là khoảng cách của thời gian, và mối tình cũng xa vời – vì vốn xưa đã gắn bó, đã hứa hẹn gì đâu. Vì thế mà “ai biết tình ai có đậm đà?”

“Ai” là anh hay là em? Có lẽ là cả hai. Giữa hai người (Hàn Mặc Tử và cô gái mà nhà thơ đã từng thầm yêu trộm nhớ) là “sương khói” của không gian, của thời gian, của mối tình chưa có lời ước hẹn, làm sao biết được có đậm đà hay không? Lời thơ cứ bâng khuâng hư thực và gợi một nỗi buồn xót xa. Nhưng khổ thơ không chỉ minh hoạ cho mối tình cụ thể giữa nhà thơ và người bạn gái. Đặt trong dòng kỷ niệm về Huế, ta thấy hiện lên trong sương khói của đất kinh đô hình ảnh rất đặc trưng của các cô gái Huế. Những cô gái Huế thường e lệ quá, kín đáo quá nên xa vời, hư ảo quá. Những cô gái ấy khi yêu, liệu tình yêu có đậm đà chăng? Đây không phải là sự đánh giá hay trách móc ai. Tình yêu càng thiết tha, càng hay đặt ra những nghi vấn như vậy.

b. Tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người:

- Tình trong thơ bao giờ cũng là tình riêng. Nhưng tình riêng chỉ có ý nghĩa khi nói được tình của mọi người. Phép biện chứng của tình cảm nghệ sĩ là như vậy. Đối với sự tiếp nhận của người đọc, nổi lên trước hết trong khổ thơ này, cũng như trong toàn bộ bài thơ vẫn là hình ảnh thơ mộng và đáng yêu của cảnh và người xứ Huế.

- Bài thơ là một mạch liên tưởng từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Quá khứ trong trẻo, ấm áp và đầy sức sống; hiện tại hiu hắt, buồn bã, chia lìa; tương lai xa xôi nhạt nhòa trong sương khói. Đồng thời với dòng thời gian là sự di chuyển cảm xúc từ cõi thực qua cõi mơ để cuối cùng tới cõi hư vô. Qua dòng thời gian và không gian người đọc có thể nhận ra tình yêu say đắm, mãnh liệt của một thi sĩ lãng mạn với cuộc đời cùng nỗi bất hạnh, đau đớn, tuyệt vọng của ông khi phải chia lìa, cách biệt với cuộc đời.

3/ Đánh giá chung:

- Bài thơ là một bức tranh đẹp về thôn Vĩ Dạ - xứ Huế - một miền quê đất nước.

- Bài thơ còn là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người.

- Bút pháp nghệ thuật đặc sắc (cách dùng từ, đặt câu, tạo nhịp điệu, các biện pháp tu từ) đã góp phần làm rõ tâm trạng cảm xúc của nhân vật trữ tình cũng như miêu tả bức tranh thiên nhiên.

2. Phân tích nhận định: Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước mẫu 1

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Cảm nhận thơ trữ tình xét cho cùng là cảm nhận “cái tình” trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữ tình trước thiên nhiên, vũ trụ, đất trời. Đến với thơ ca lãng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932 – 1945 “ta thoát lên trên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu” (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam). Đúng thế, bạn đọc đương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất “điên cuồng” của nó. Chính “chất điên” ấy đã làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ của Hàn Mặc Tử. “Chất điên” trong thơ ông chính là sự thay đổi của tâm trạng khó lường trước được. Nét phong cách đặc sắc ấy đã hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này. “Đây thôn Vĩ Dạ” trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử. Chất điên cuồng ấy thể hiện cụ thể và rõ nét trong khổ thơ:

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng tưởng

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ – một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm mình dưới ánh “nắng mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cả cây nhung non tràn trề sức sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho lòng người như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ khen cây cối xanh tốt nhưng lại nhu huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai”. Trong không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang”. Câu thơ đẹp vì sự hài hòa giữa cảnh vật và con người. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người. Như vậy tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạc vào cõi tiên, cõi mộng khi được trở về với cảnh và người thôn Vĩ.

Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên” sang chiều tà. Chẳng vậy mà có người đưa ra nhận định: Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước; là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người. Tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng có sự biến đổi lớn. Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận. Biện pháp nhân hóa cho chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của mình và mây cũng thế. Câu thơ tách thành hai vế đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là hình ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau. Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi thì mây mới bay theo, thế mà lại nói “gió theo lối gió, mây đường mây”. Thế nhưng trong văn chương chấp nhận cách nói phi lí ấy. Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ tình vốn rất vui sướng khi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay đổi đột biến và trở nên buồn như vậy?. Trong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đã trở về với thôn Vĩ nhưng lòng lại buồn chắc có lẽ bởi mối tình đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh và người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm trạng ấy. Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơ mộng, trữ tình lại bị nhà thơ miêu tả vô tình, xa lạ đến như vậy. Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng vui gì hơn khi “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”.

Dòng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đã bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng lòng “buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi. Lòng sông buồn, bãi bờ của nó còn sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Cảnh vật trong thơ buồn đến thế là cùng. Thế nhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ tình lại thay đổi:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đã trở thành “sông trăng” thơ mộng. Cắm xào đậu bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ tình, lãng mạn. Hình ảnh “thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài hòa biết bao. Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Liệu “thuyền ai” đó có chở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi lòng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong lòng thi nhân. Như thế mới biết nỗi lòng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biết nhường nào. Tình cảm ấy quả thật là tình cảm của “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ)

Đến đây ta hiểu thêm về lòng “buồn thiu” của nhân vật trữ tình trong buổi chiều. Như vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức phức tạp, khó lường trước được. Chất “điên” của một tâm trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông ngóng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra...

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa” – người thôn Vĩ đến với mình, tâm trạng nhân vật trữ tình lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết tình ai có đậm đà?”. “Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả. Chẳng biết người thôn Vĩ có còn nặng tình với mình không? Và chẳng biết chính mình còn mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn trong tình yêu chính là sự hoài nghi, không tin tưởng về nhau. Nhân vật trữ tình rơi vào tình trạng ấy và đã bộc bạch lòng mình để mọi người hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lãng mạn giai đoạn 1932 – 1945 cũng ở đó.

Đọc xong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, nhất là khổ thơ “Gió theo lối gió – …. kịp tối nay” để lại trong lòng người đọc những tình cảm đẹp. Đoạn thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư của một nhà thơ sắp phải giã từ cuộc đời. Lời thơ vì thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư. Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đã nói hộ họ những tình cảm sâu lắng nhất, thầm kín nhất của mình trong thời đại cái “tôi”, cái bản ngã đang tự đấu tranh để khẳng định. Tình cảm trong thơ Hàn Mặc tử là tình cảm thực do đó nó sẽ ở mãi trong trái tim bạn đọc. Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng Bình đầy nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam.

3. Phân tích nhận định: Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước mẫu 2

Trong làn thơ mới nước ta nếu như chúng ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, phưu lưu trong trường tình của Lê Trọng Lư, đắm say cùng Xuân Diệu với tình yêu và cuộc sống thì cũng điên dại cùng với Hàn Mạc Tử. Thật vậy trong phong trào Thơ Mới hàn Mạc Tử nổi tiếng với những phần thơ điên loạn cùng hình ảnh của hồn và trăng. Thế nhưng lại ít có ai biết rằng ngoài những phần thơ điên loạn ấy Hàn Mạc Tử còn có những vần thơ trữ tình dịu dàng đằm thắm. Trong số những tác phẩm trữ tình nhẹ nhàng ấy nổi bật có bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước; là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người của Hàn Mặc Tử

Bài thơ được viết khi ông đang ở trại phong Tuy Hòa, sống trong cảnh cách ly với tất cả mọi người. Chính vì thế mà ông chỉ có thơ làm bạn, thơ văn như một cứu tinh tâm hồn của Hàn Mạc Tử. Khi ấy ông bất ngờ nhận được bức thư của người con gái năm xưa tên Hoàng Thị Kim Cúc. Đó là người con gái mà nhà thơ thầm thương trộm nhớ nhưng vì nhút nhát mà ông tơ mà nguyệt chẳng thèm se duyên kết tóc cho hai người. bức thư ấy mang lại cảm xúc cho nhà thơ viết lên bài thơ này.

Trước hết là bức tranh quê được thể hiện rất rõ nét và mang đậm bản chất xứ Huế trong bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử. Đó là những hình ảnh thiên nhiên mà chỉ có xứ Huế mới có, nó mang một nét đẹp không pha trộn không lẫn với một địa danh nào.

Thứ nhất trong tứ thơ Đây thôn Vĩ Dạ bức tranh thiên nhiên được hiện lên với hình ảnh của buổi sáng tinh khôi với ánh nắng mai nhẹ nhàng:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Câu hỏi không về chơi thôn Vĩ như là cái tựa để cho nhà thơ giới thiệu về bức tranh quê xứ Huế mộng mơ. Sao không về chơi thôn Vĩ giống như câu hỏi và lời trách của người con gái tên Hoàng Cúc cũng giống như một lời mời gọi hãy về xứ Huế thôn Vĩ Dạ. Ở đó có bức tranh quê hương đẹp đẽ tuyệt vời. Nhà thơ chọn khung cảnh buổi sáng để nói về thiên nhiên nơi đây. Hình ảnh “nắng” được nhắc đến hai lần trong một câu thơ nhấn mạnh nét đẹp nơi đây là ánh sáng của nắng. Đến với thôn Vĩ chúng ta như được ngập tràn trong những ánh nắng của bình minh và những hàng cau dài thẳng vút lên trời. Ánh nắng nơi đây vào buổi sáng không mang cái màu “sớm mai hồng” của quê hương Tế Hanh mà nó mang màu nắng tinh khôi nhẹ nhàng thanh khiết. Ánh nắng của trời đất như soi tỏ xuyên chiếu vào từng thân cau đọt cau khiến cho những cây cau cũng trở nên lung linh trong nắng sớm. nắng chiếu cả xuống những mảnh vườn của con người Vĩ Dạ khiến cho màu xanh trở nên trong trẻo như ngọc vậy. Tính từ “mướt” như thể hiện được sự tốt tươi sinh sôi nảy nở của thiên nhiên nơi đây. Ban sang bắt đầu một ngày mà hình ảnh thiên nhiên nơi đây dịu dàng mà lại lung linh đến như vậy. Nhắc đến Huế người ta không chỉ biết đến những con người dịu dàng thơ mộng mà còn biết đến thiên nhiên cũng dịu dàng như con người vậy.

Tiếp theo bức tranh quê Vĩ Dạ được nhà thơ khám phá vào lúc tối đến đêm về. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ lại chọn hình ảnh thiên nhiên vào buổi tối và buổi sáng. Mà có lẽ là do bức tranh quê hương Huế hiện lên ở hai khoảnh khắc thời gian đó đẹp nên nhà thơ nhớ đến và miêu tả về nó:

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Hình ảnh gió, mây, sông, nước, con thuyền, hoa bắp hiện lên cũng thật sự thu hút hấp dẫn người đọc. Nếu bức tranh buổi sớm tinh khôi trong trẻo thế nào thì đến buổi tối lại hắt hiu đến thế. Nó không còn sự sinh sôi nảy nở tươi tốt nữa mà nó mang một nét thơ mộng nhưng phảng phất nỗi buồn. Vốn thường là gió thổi mây bay mà nhà thơ lại nói là gió theo lối gió mây đi đường mây. Phải chăng chính tâm trạng buồn thương của mình cho nên hình ảnh cũng mang tính chia ly chi a cắt đến như thế?. Tuy nhiên trước mắt chúng ta vẫn hiện lên một bức tranh thiên nhiên thật đẹp. Nó vẫn không tài nào dấu đi được sự nhẹ nhàng đặc trưng của xứ Huế. Gió chỉ nhẹ nhàng khẽ thổi khiến cho cành hoa bắp khẽ lay chứ không tài nào rung rinh được. Lẽ nào đến cây cối nơi đây cũng nhẹ nhàng như con người. Trăng không thể thiếu trong một cảnh đêm tuyệt đẹp càng không thể thiếu được trong xứ Huế thơ mộng này. Ánh trăng như soi tỏa in hình dáng mình lên dòng sông kia. Con thuyền đứng cạnh đó như đang chuẩn bị trở trăng về. Thật là một hình ảnh thơ mộng biết bao, ở đây thuyền không gắn với biển mà gắn với hình ảnh của trăng. Tất cả những hình ảnh ấy tạo nên một bức tranh thiên nhiên thơ mộng lung linh trữ tình.

Bức tranh xứ Huế còn hiện lên mờ ảo trong hình ảnh của khách đường xa, sương khói mờ nhân ảnh:

Áo em trắng quá nhìn không ra...

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Lúc nào cũng thế Huế luôn mơ màng và thơ mộng khiến cho người ta thấy thương thấy nhớ vô cùng.

Thứ hai là trong bài thơ này ta còn cảm nhận được tấm lòng yêu đời của Hàn Mạc Tử mà trước hết đó là tình yêu thiên nhiên:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Hay

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Có thể nói nhà thơ phải là một người yêu thiên nhiên lắm thì mới có thể miêu tả một bức tranh thiên nhiên quê đẹp đến như vậy. Ngay cả khi tâm trạng ông rất là buồn, đau khổ, nhớ thương dằn vặt khiến cho hình ảnh thiên nhiên cũng mang sự chia cắt nhưng càng chia cắt càng bi kịch thì lại càng thể hiện sự yêu đời yêu thiên nhiên của nhà thơ. Bởi lẽ trong bị kịch ấy nhà thơ vẫn thể hiện sự khao khát được sống, được yêu thương được hòa nhập với cuộc đời này.

Một tình cảm minh chứng cho sự yêu đời của Hàn Mạc Tử đó chính là tình yêu, sự nhớ thương tới người con gái năm ấy. Hình ảnh người con gái hiện lên với nét đẹp của đặc trưng của con người xứ Huế đó là nét đẹp phúc hậu, kín đáo qua hình ảnh “lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Không những thế dù Kim Cúc đã đi lấy chồng, mặc cho hoàn cảnh khó khăn cũng như bệnh tình của mình nhà thơ vẫn thương vẫn nhớ người con gái Huế ấy.

Qua đây ta thấy được bức tranh quê tinh khôi trong trẻo, lãng mạn thơ mộng lung linh và tấm lòng yêu đời của con người tài năng nhưng bạc mệnh. Dù sống trong hoàn cảnh đau đớn của bị kịch tinh thần và bệnh tật nhưng niềm yêu đời của nhà thơ mãi như ngọn lửa sáng trong đêm trường, dù cho mọi đau đớn dằn vặt ông vẫn giữ nguyên tấm lòng yêu người yêu đời ấy.

Trên đây VnDoc.com vừa giới thiệu tới các bạn Phân tích nhận định: Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước; là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người, mong rằng qua bài viết này các bạn có thể học tập tốt hơn môn Ngữ văn 11. Mời các bạn cùng tham khảo thêm các môn Toán 11, Tiếng Anh 11, đề thi học kì 1 lớp 11, đề thi học kì 2 lớp 11...

Đánh giá bài viết
1 4.911
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Ngữ văn lớp 11 Xem thêm