Giải bài tập Ngữ văn lớp 7 bài 5: Phò giá về kinh

1 63

Giải bài tập Ngữ văn bài 5: Phò giá về kinh

Giải bài tập Ngữ văn lớp 7 bài 5: Phò giá về kinh được VnDoc sưu tầm giúp các bạn học sinh hoàn thành tốt bài kiểm tra sắp tới đây của mình. Mời các bạn tham khảo.

Phò giá về kinh

Trần Quang Khải

I. Kiến thức cơ bản

- Về tác giả Trần Quang Khải (1241 – 1294) là con thứ ba của vua Trần Thái Tông được phong Thượng tướng, có công rất lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên, đặc biệt là trong hai trận thắng ở Hàm Tử và Chương Dương. Ông không chỉ là một võ tướng biệt xuất mà còn là người có những vần thơ “sâu xa lí thú” (Phan Huy Chú).

- Về bài thơ với hình thức biểu đạt cô đúc, dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng, bài thơ “Phò giá về kinh” đã thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình thịnh trị của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần.

II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản

Câu 1. Hãy căn cứ vào lời giới thiệu để nhận dạng thể thơ của bài “Tụng giá hoàn kinh sư”.

Bài thơ được làm theo thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật, có đặc điểm:

- Số câu: 4 câu trong mỗi bài (tứ tuyệt)

- Số chữ: 5 chữ trong mỗi dòng thơ (ngũ ngôn)

- Hiệp vần: Chữ cuối cùng của các dòng 2, 4 luôn là vần bằng

Câu 2. Nội dung được thể hiện trong hai câu đầu và hai câu sau của bài thơ khác nhau chỗ nào? Hãy nhận xét về cách biểu ý là biểu cảm của bài thơ.

- Sự khác nhau giữa hai câu đầu và hai câu sau: Hai câu đầu nói về hào khí chiến thắng, hai câu sau nói về khát vọng hòa bình.

- Nhận xét về cách biểu ý là biểu cảm

* Biểu ý:

- Hai câu đầu: Hào khí chiến thắng.

+ Hai câu đầu kể về hai chiến thắng quan trọng để giải phóng kinh đô Thăng Long còn nóng hổi tính thời sự mà tác giả đã góp phần công sức... chiến thắng Chương Dương và chiến thắng Hàm Tử.

+ “Đoạt”, “cầm” động từ biểu thị hành động mạnh mẽ dứt khoát, “Đoạt”: Cướp – cướp vũ khí ngay trên tay giặc, “cầm”: Bắt – bắt sống giặc ngay giữa trận tiền. Có hành động nào mạnh hơn, hùng hơn, đẹp hơn thế?

- Hai câu sau: Khát vọng hòa bình.com

+ “Tu trí lực”: Tu dưỡng tài năng, trí tuệ – bồi dưỡng và rèn luyện sức lực, đó là hai yếu tố tiên quyết của một con người và của một dân tộc muốn làm nên chiến thắng, muốn xây dựng hòa bình.

+ Đây là lời tự dặn mình của vị Thượng tướng, đồng thời cũng là lời nhắn nhủ với toàn thể quân dân: Chúng ta không được phép ngủ quên trong chiến thắng ở tầm nhìn xa trông rộng của người lãnh đạo.

+ Để cho “non nước được nghìn thu”, hòa bình bền vững muôn đời - không chỉ là khát vọng của một người mà là khát vọng, quyết tâm của cả dân tộc.

* Biểu cảm:

- Bài thơ tràn ngập cảm hứng hào sảng, tự hào, kiêu hãnh trước những chiến công vang dội lẫy lừng.

- Niềm tin, niềm thương yêu lo lắng đến khôn cùng cho đất nước của vị Thượng tướng tài ba.

- Bài thơ là khúc khải hoàn ca, hùng tráng, cao đẹp của dân tộc.

Câu 3. Cách biểu ý là biểu cảm của bài “Phò giá về kinh” và bài “Sông núi nước Nam” có gì giống nhau?

– Điểm giống nhau của hai bài thơ:

+ Cả hai bài đều thể hiện bản lĩnh khí phách của dân tộc.

+ Ý thơ dồn nén hàm súc, giọng thơ hào hùng, mạnh mẽ.

+ Tình cảm của nhà thơ biểu hiện kín đáo, ẩn vào trong câu chữ.

- Sự khác nhau:

+ “Nam quốc sơn hà” làm bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.

+ “Tụng giá hoàn kinh sư” làm bằng thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt.

III. Hướng dẫn luyện tập.

Theo em, cách nói giản dị, cô đúc của bài thơ này có tác dụng gì trong việc thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần?

- Cách nói của bài thơ:

+ Bài thơ rất cô đọng, hàm súc, chỉ có 20 chữ, nhưng đã đề cập hai vấn đề trọng đại của đất nước Thành quả thời kì chiến tranh và nhiệm vụ trong thời bình...

+ Bài thơ không sử dụng một biện pháp hoa mĩ nào, chỉ có lời nói giản dị, chân thành nhưng chắc nịch, mạnh mẽ, rắn rỏi.

- Bài thơ và hào khí thời Trần:

+ Bài thơ đã thể hiện được hào khí hào hùng của thời đại, hào khí thời Trần, hào khí Đông A – đó là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, khí thế quyết tâm mãnh liệt của quân dân đời Trần trong công cuộc chống ngoại xâm (Trần Bình Trọng khi bị giặc bắt, khảng khái trả lời: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vua đất Bắc”. Binh lính khắc lên tay nhau hai chữ: Sát Thát. Cậu bé Trần Quốc Toản nghe chuyện giặc tàn phá – căm giận bóp nát quả cam. Các bộ lão ở hội nghị Diên Hồng đồng thanh hô vang: Đánh, và Trần Thủ Độ với quyết tâm: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ cứ an lòng”.)

+ Đông A là chiết tự tên họ Trần gồm hai bộ: bộ Đông ghép với bộ A trong Hán tự.

IV. Tư liệu tham khảo

Bài ca khải hoàn của Trần Quang Khải bộc lộ niềm sảng khoái của người chiến thắng, thể hiện hào khí Đông A của thời đại nhưng lại không mang niềm vui an lạc. Vị chiến tướng chưa kịp nghỉ ngơi đã lo đến nhiệm vụ trước mắt, cũng là kế sách lâu dài cho vương triều, cho đất nước. Bài thơ chỉ có 20 chữ nhưng đã vừa bố cáo được thành quả thời kì chiến tranh giữ nước lại vừa đặt ra nhiệm vụ trong hòa bình, Trần Quang Khải là một chiến tướng đồng thời là một nhà chiến lược. Chính ở bài thơ này ông đã bộc lộ tính kiên nghị, mạnh mẽ và tầm nhìn xa rộng của một nhân cách lớn. Trần Thánh Tông đã không nhầm khi giao vận mệnh vương triều, non sông xã tắc vào tay ông và Trần Quốc Tuấn.

Mời các bạn tham khảo tài liệu liên quan

Giải bài tập Ngữ văn lớp 7 bài 5: Sông núi nước Nam

Đánh giá bài viết
1 63
Học tốt Ngữ Văn 7 Xem thêm