Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
Nguyễnn Hiềnn
Sinh học
Hoá thạch là di vật của sinh vật để lại. Nó có thể là xác sinh vật được bảo quản nguyên vẹn không bị phân hủy trong các lớp băng, trong hổ phách. Hoá thạch cũng có thể là những bộ xương hoặc phần cứng của sinh vật được bảo quản trong đất đá hoặc những khuôn mẫu của sinh vật trong đá...
Vai trò của hóa thạch:
- Cung cấp những bằng chứng trực tiếp về lịch sử phát triển của sinh giới. Các nhà khoa học có thể xác định được tuổi của các hóa thạch, từ đó biết được loài nào có trước, loài nào có sau.
- Hóa thạch là bằng chứng trực tiếp nói lên mối quan hệ họ hàng giữa các loài đã chết với các loài đang sống.
- Các nhà khoa học nhận thấy các loài hoá thạch được tìm thấy ở các địa tầng càng gần mặt đất thì hoá thạch càng có nhiều đặc điểm giống với các loài đang sinh sống trên mặt đất tại nơi tìm thấy hoá thạch.
Một trong những loại tế bào gọi là coacervat có thể tự lắp ráp khi lắc dung dịch cs chứa các phân từ lipit, protein axit nucleic và polysacharit, tách biệt với môi trường ngoài bằng màng kỵ nước. Những tế bào này chưa có khả năng sinh sản nhưng chúng duy trì môi trường hóa học bên trong khác với môi trường xung quan và có biểu hiện một vài đặc điểm của sự sống chẳng hoạn trao đổi chất, dễ bị kích thích.Khi hấp thụ các chất, một số giọt coacervate sinh trưởng to hơn và phân chia thành các giọt nhỏ hơn. Các coacervate có thành phần tốt hơn, to ra và phân chia tiếp. Theo Operin chọn lọc tự nhiên sẽ giữ lại và hoàn thiện các giọt tốt hơn và tạo thành tế bào sơ khai.
Vợ nhặt
Sinh học
Lớp 12
Màng lipit có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành sự sống vì màng sẽ bao bọc lấy tập hợp các đại phân tử hữu cơ tạo nên các giọt nhỏ li ti khác nhau. Những giọt nhỏ chứa các phân tử hữu cơ có màng bao bọc và chịu sự tác động của CLTN sẽ tiến hóa dần tạo nên các tế bào sơ khai với các cơ chế nhân đôi, phiên mã, dịch mã, trao đổi chất, sinh trưởng và sinh sản.
1m52
Sinh học
Lớp 12
Giả sử ở một nơi nào đó trên Trái Đất hiện nay các hợp chất hữu cơ được tổng hợp từ chất vô cơ trong tự nhiên thì từ các chất này cũng không thể tiến hoá hình thành nên các tế bào sơ khai vì ở điều kiện trái đất hiện tại có 20% oxy và rất nhiều vi sinh vật khi các hợp chất hữu cơ được sinh ra rất dễ bị oxy hóa nhanh chóng hoặc các vi sinh vật khác phân hủy mà không thể lặp lại quá trình tiến hóa hóa học như trước đây.
Vợ là số 1
Sinh học
Lớp 12
Nhiều thí nghiệm đã chứng minh sự trùng hợp ngẫu nhiên của các đơn phân, aa thành các đại phân tử protein trên nền bùn sét nóng.
Thí nghiệm chứng minh các đơn phân như aa có thể kết hợp với nhau tạo nên các chuỗi polypeptit đơn giản trong điều kiện Trái Đất nguyên thủy, năm 1950 Fox và cộng sự đã tiến hành thí nghiệm đun nóng hỗn hợp các aa khô ở nhiệt độ 150- 180 o C và đã tạo ra các chuỗi peptit ngắn được gọi là protein nhiệt.
150- 180 o C
Hỗn hợp aa khô → chuỗi peptit ngắn (protein nhiệt)
Năm 1953. Mile (Miller) và Urây đã làm thí nghiệm kiểm tra giả thuyết của Oparin và Handan. Các ông đã tạo ra môi trường có thành phần hoá học giống khí quyển của Trái Đất nguyên thuỷ trong một bình thuỷ tinh 5 lít đun nóng ở nhiệt độ 80oC, bình cầu khí quyển ỗn hợp khí CH4, NH3, và hơi nước được đặt trong điều kiện điện cực phóng điện liên tục suốt một tuần, hệ thống làm lạnh (trái đất nguội dần). Kết quả thu được một số chất hữu cơ đơn giản trong đó có các axit amin, lactate,..
dòng điện cao thế
Hỗn hợp khí H2, NH3, CH4, H2O → các hợp chất hữu cơ đơn giản (axit amin)
Laura Hypatia
Sinh học
Lớp 12
Đáp án B: một số loài tiến hóa tăng dần từ đơn giản đến phức tạp, một số loài tiến hóa theo kiểu đơn giản hóa mức độ tổ chức để cơ thể thích nghi với điều kiện môi trường→ tiêu giảm một số cơ quan để đơn giản hóa tổ chức cơ thể để thích nghi tốt hơn.
Bên cạnh những loài có cấu tạo cơ thể phức tạp vẫn có rất nhiều loài có cấu tạo đơn bào đơn giản như các loài vi khuẩn là để thích nghi với môi trường sống, kích thước nhỏ, bộ gen đơn giản dễ hình thành các quần thể thích nghi, vi khuẩn có mặt ở khắp mọi nơi trên bề mặt trái đất kể cả ở những nơi có điều kiện khắc nghiệt như đáy đại dương, suối nước nóng hay sa mạc,…tuy giữ cấu trúc đơn giản nhưng đã được tiến hóa theo hướng đa dạng hóa các hình thức chuyển hóa vật chất thích nghi cao độ với các ổ sinh thái khác nhau.