Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
Công chúa béo
Sinh học
Lớp 12
Khí hậu của Trái Đất trong những thế kỉ và thiên niên kỉ tới:
Hiện tượng ấm lên toàn cầu ngày một gia tăng, ấm lên toàn cầu là hiện tượng nhiệt độ trung bình của không khí và các đại dương trên Trái đất tăng lên theo các quan sát trong các thập kỉ gần đây. Theo báo cáo của Cơ quan Bảo vệ môi trường (EPA), nhiệt độ trung bình của Trái đất ở cuối thế kỷ XIX đã tăng +0,8 °C và thế kỷ XX tăng 0,6 ± 0,2 °C.
Nhiệt độ toàn cầu tăng sẽ làm mực nước biển dâng lên và làm biến đổi lượng giáng thủy, có thể bao gồm cả sự mở rộng của các sa mạc vùng cận nhiệt đới. Hiện tượng ấm lên được dự đoán sẽ diễn ra mạnh nhất ở Bắc Cực Các hiện tượng thiên nhiên như bão, lũ lụt, núi lửa, động đất sóng thần cũng xảy ra bất thường.
Con người đang hững chịu những hậu quả mà mình gây ra cho trái đất. Hướng giải quyết vấn đề: cắt giảm phần lớn lượng khí gây hiệu ứng nhà kính tại các nước đang phát triển, tròng thêm rừng, hạn chế rác thải nhựa và ô nhiễm môi trường,…
* Bò sát khổng lồ phát triển mạnh ở kỉ Jura, đại Trung sinh. Trong điều kiện hình thành 2 lục địa Bắc và Nam, biển tiến vào lục địa, khí hậu ấm áp. Cây hạt trần phát triển mạnh, phân hóa chim.
* Động vật có vú xuất hiện vào kỉ Tam điệp, đại Trung sinh. Trong điều kiện đại lục chiếm ưu thế, khí hậu khô. Cây hạt trần ngự trị, phân hoá bò sát cổ, cá xương phát triển, phát sinh chim và thú.
Gấu Đi Bộ
Sinh học
Lớp 12
Các lục địa trên trái đất luôn luôn di chuyển tách nhau rồi sáp nhập làm khí hậu của trái đất luôn biến đổi theo nên sự tiến hóa của sinh vật cũng biến đổi. Ví dụ cách đây 300 triệu năm, các lục địa liên kết với nhau, băng hà, khí hậu lạnh khô, các loài bò sát, côn trùng chiếm ưu thế và tuyệt diệt nhiều động vật biển. Sự trôi dạt của các lục địa có thể gây ra những trận động đất, sóng thần, núi lửa phun trào cũng như hình thành các ngọn núi trên đất liền hay các đảo đại dương ở khu vực giáp ranh các phiến kiến tạo.
Để phân chia lịch sử Trái Đất thành các niên đại, người ta dựa vào:
- Biến đổi lớn về địa chất của Trái Đất làm cho sinh vật bị tuyệt chủng hàng loạt sau đó sự bắt đầu một giai đoạn tiến hóa mới của những sinh vật sống sót, thường có đặc điêm riêng về sự phát triển của sinh giới
- Các hoá thạch (di tích của sinh vật): Cung cấp bằng chứng trực tiếp về những đặc điểm riêng của sự phát triển sinh giới. Tuổi của các hoá thạch thường được xác định bằng các đồng vị phóng xạ có trong hoá thạch hoặc trong các lớp đất đá chứa hóa thạch. Người ta hay dùng l4C thời gian phân rã là 5730 năm vì vậy phân tích hàm lượng 14 C có thể xác định tuổi hóa thạch lên tới 75000 năm. Nếu phân tích uranium 238 với thời gian bán phân rã khoảng 4,5 tỉ năm thì chúng ta có thể xác định được tuổi hóa thạch có độ tuổi hàng trăm triệu năm thậm chí hàng tỉ năm.
Nguyễnn Hiềnn
Sinh học
Hoá thạch là di vật của sinh vật để lại. Nó có thể là xác sinh vật được bảo quản nguyên vẹn không bị phân hủy trong các lớp băng, trong hổ phách. Hoá thạch cũng có thể là những bộ xương hoặc phần cứng của sinh vật được bảo quản trong đất đá hoặc những khuôn mẫu của sinh vật trong đá...
Vai trò của hóa thạch:
- Cung cấp những bằng chứng trực tiếp về lịch sử phát triển của sinh giới. Các nhà khoa học có thể xác định được tuổi của các hóa thạch, từ đó biết được loài nào có trước, loài nào có sau.
- Hóa thạch là bằng chứng trực tiếp nói lên mối quan hệ họ hàng giữa các loài đã chết với các loài đang sống.
- Các nhà khoa học nhận thấy các loài hoá thạch được tìm thấy ở các địa tầng càng gần mặt đất thì hoá thạch càng có nhiều đặc điểm giống với các loài đang sinh sống trên mặt đất tại nơi tìm thấy hoá thạch.
Một trong những loại tế bào gọi là coacervat có thể tự lắp ráp khi lắc dung dịch cs chứa các phân từ lipit, protein axit nucleic và polysacharit, tách biệt với môi trường ngoài bằng màng kỵ nước. Những tế bào này chưa có khả năng sinh sản nhưng chúng duy trì môi trường hóa học bên trong khác với môi trường xung quan và có biểu hiện một vài đặc điểm của sự sống chẳng hoạn trao đổi chất, dễ bị kích thích.Khi hấp thụ các chất, một số giọt coacervate sinh trưởng to hơn và phân chia thành các giọt nhỏ hơn. Các coacervate có thành phần tốt hơn, to ra và phân chia tiếp. Theo Operin chọn lọc tự nhiên sẽ giữ lại và hoàn thiện các giọt tốt hơn và tạo thành tế bào sơ khai.
Vợ nhặt
Sinh học
Lớp 12
Màng lipit có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành sự sống vì màng sẽ bao bọc lấy tập hợp các đại phân tử hữu cơ tạo nên các giọt nhỏ li ti khác nhau. Những giọt nhỏ chứa các phân tử hữu cơ có màng bao bọc và chịu sự tác động của CLTN sẽ tiến hóa dần tạo nên các tế bào sơ khai với các cơ chế nhân đôi, phiên mã, dịch mã, trao đổi chất, sinh trưởng và sinh sản.
1m52
Sinh học
Lớp 12
Giả sử ở một nơi nào đó trên Trái Đất hiện nay các hợp chất hữu cơ được tổng hợp từ chất vô cơ trong tự nhiên thì từ các chất này cũng không thể tiến hoá hình thành nên các tế bào sơ khai vì ở điều kiện trái đất hiện tại có 20% oxy và rất nhiều vi sinh vật khi các hợp chất hữu cơ được sinh ra rất dễ bị oxy hóa nhanh chóng hoặc các vi sinh vật khác phân hủy mà không thể lặp lại quá trình tiến hóa hóa học như trước đây.
Vợ là số 1
Sinh học
Lớp 12
Nhiều thí nghiệm đã chứng minh sự trùng hợp ngẫu nhiên của các đơn phân, aa thành các đại phân tử protein trên nền bùn sét nóng.
Thí nghiệm chứng minh các đơn phân như aa có thể kết hợp với nhau tạo nên các chuỗi polypeptit đơn giản trong điều kiện Trái Đất nguyên thủy, năm 1950 Fox và cộng sự đã tiến hành thí nghiệm đun nóng hỗn hợp các aa khô ở nhiệt độ 150- 180 o C và đã tạo ra các chuỗi peptit ngắn được gọi là protein nhiệt.
150- 180 o C
Hỗn hợp aa khô → chuỗi peptit ngắn (protein nhiệt)