Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
- Vốn tri thức văn hóa sâu rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được biểu hiện:
+ Nói và viết thành thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc: Anh, Pháp, Hoa, Nga
+ Am hiểu về dân tộc, nhân dân thế giới, văn hóa thế giới sâu sắc
- Người có được vốn tri thức sâu rộng đó là vì:
+ Đến đâu Người cũng học hỏi, tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật đến mức uyên thâm
+ Tiếp thu mọi cái đẹp cái hay nhưng đồng thời cũng phê phán những tiêu cực của chủ nghĩa tư bản. Tiếp thu có chọn lọc, không thụ động
+ Đi nhiều nơi, làm nhiều nghề
- Trong phần cuối đoạn thơ, người cha nói đến cái thế bất lực của mình (tuổi già sức yếu, lỡ sa cơ, dành chịu hố tay, thân lươn) và sự nghiệp của tổ tông nhằm mục đích khơi dậy trách nhiệm, ý chí gánh vác non sông của người con, khích lệ để người con nối gót tổ tông làm nên nghiệp lớn.
- Bài thơ không mang tính chất hoài cổ mà mượn cổ để nói nay. Khép lại đoạn thơ là hình ảnh ngọn cờ độc lập vừa là của cha ông dặn dò con cháu phải kế tục truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, vừa là niềm tin vào thế hệ trẻ và tương lai của đất nước.
- Tác giả nhập vai vào người cha (Nguyễn Phi Khanh) khuyên con mình (Nguyễn Trãi) để gợi nhắc về truyền thống đánh giặc của cha ông, nói về hiện tình của đất nước và kể tội ác của quân xâm lược. Qua đó, tác giả đã thể hiện được những tình cảm:
+ Lòng tự hào về truyền thống của dân tộc, đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
+ Căm phẫn trước tội ác tàn bạo của kẻ thù: tội ác tày trời của bọn giặc Minh gây ra thảm cảnh núi sông xương máu, , gia đình li tán, vợ con chia lìa xiết bao thảm họa xương rừng máu sông…
+ Nỗi đau đớn khi quê hương bị giặc tàn phá: Đó là nỗi đau đớn vò xé tâm can, những lời thơ như được viết ra từ gan ruột.
- Sức gợi cảm của đoạn thơ: tác giả sử dụng biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhiều hình ảnh, từ ngữ diễn tà cảm xúc mạnh, diễn tả nỗi đau thương. Các từ ngữ như vong quốc, cơ đồ, đất khóc, giời than, nòi giống... đã góp phần nâng tầm vóc của nỗi đau thương này.
- Bối cảnh không gian: vùng ải Bắc, mây sầu, gió thảm, hổ thét, chim kêu… càng gợi lên nỗi buồn đau.
- Hoàn cảnh éo le và tâm trạng: cha bị áp giải sang Tàu, đi không trở lại, con muốn theo nhưng còn thù nhà nợ nước, cha đành khuyên con ở lại.
→ Lời khuyên của người cha khi ấy như những lời trăng trối thiêng liêng, thấm thía vào ý chí tư tưởng người con.
- 8 câu thơ đầu : hoàn cảnh đất nước và tâm trạng chia li.
- 20 câu tiếp : lời dặn dò của người cha.
- Còn lại : giao phó trọng trách với non sông đất nước.
- Nhận xét về giọng điệu của đoạn thơ: Giọng điệu của đoạn thơ buồn đau, thống thiết, lâm li diễn tả nỗi đau nước mất nhà tan.
- Vai trò của thể thơ song thất lục bát trong việc thể hiện giọng điệu: Thể thơ truyền thống song thất lục bát với hai câu bảy chữ trào dâng, hai câu lục bát da diết, sâu lắng chậm mà xoáy sâu, nhức nhối, phù hợp diễn tả tâm trạng uất ức, căm hờn, cảm xúc, giọng điệu trầm buồn của bài thơ.
- Bài Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan:
+ Ngôn ngữ: sử dụng nhiều từ láy, từ tượng hình và lối chơi chữ từ đồng âm
+ Giọng điệu: trầm buồn, trang nhã tạo nét buồn bâng khuâng
- Bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà
+ Ngôn ngữ: bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày.
+ Giọng điệu: nhẹ nhàng, trữ tình, pha chút hóm hỉnh, ngông nghênh
- Luật thơ Đường, các cặp câu 3 - 4 và 5 - 6 bắt buộc phải đối nhau.
Trong bài câu 3 - 4 đối nhau:
+ Về hình ảnh: cung quế - cành đa
+ Về hành động: ngồi - nhắc
+ Đối về ý tứ: thăm dò - đề nghị
Câu 5 - 6 đối về ý: bầu bạn - gió mây, tủi - vui
- Phép đối trong 4 câu thơ trên nhẹ nhàng, ý vị, làm nổi bật được ước muốn được thoát khỏi những điều tầm thường nhàm chán của thế tục đang diễn ra.
Yếu tố nghệ thuật làm nên sức hấp dẫn của bài thơ:
- Trí tưởng tượng lãng mạn, bay bổng của tác giả.
- Nguồn cảm xúc dồi dào, phóng túng tạo ra cuộc trò chuyện với chị Hằng rất thú vị và hấp dẫn
- Cái "ngông" của nhà thơ làm giọng thơ độc đáo khác thường.
- Lời thơ giản dị, tự nhiên, giọng điệu thay đổi: lúc thì than thở, lúc lại cầu xin, khi thì đắc ý làm cho bài thơ linh hoạt. Mặc dù làm theo luật thơ Đường nhưng vẫn chứa đựng sự phóng túng, thoải mái.
- Câu thơ cuối bài là sự kết hợp hoàn hảo giữa cái "ngông" và lãng mạn của Tản Đà. Câu thơ phản ánh khao khát thoát tục để giữ thiên lương.
- Cái "cười" ở đây của Tản Đà được mang nhiều ý nghĩa:
+ Cười thể hiện niềm vui được thỏa mãn mơ ước lên cõi mộng tưởng
+ Cười vì nhà thơ thấy thế gian ông từ bỏ vẫn là trần tục tầm thường, buồn chán
+ Cười thể hiện sự mỉa mai, giễu cợt khi Tản Đà ở vị trí cao hơn cõi trần ông đang sống.
- "Ngông" có nghĩa là làm những việc không bình thường, vượt trội lên so với bình thường. Ngông cũng có nghĩa là chơi trội, gây cho người ta phải chú ý bởi các việc làm độc đáo mà người bình thường không dám hoặc không làm được.
- Cái ngông thể hiện trong bài thơ này là muốn đi ra khỏi trái đất để lên cung trăng ở chơi với chị Hằng. Hơn thế nữa, nhà thơ lại xưng hô suồng sã với chị Hằng, muốn chị coi mình như là chú Cuội, như một người bầu bạn, bày cách cho chị Hằng đưa mình lên trời, lên trăng. Tản Đà rất tự tin, coi rằng mình lên cung trăng sẽ làm cho chị Hằng không còn lẻ loi, không bị buồn tủi. Ý định cùng chị Hằng Rồi mỗi năm rằm tháng tám - Tựa nhau trông xuống thế gian cười cũng là thể hiện cái ngông của thi sĩ.