Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

Văn mẫu lớp 11: Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

VnDoc.com xin gửi tới bạn đọc bài Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu để bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết tổng hợp 3 mẫu bài phân tích về tâm trạng của nhân vật trữ tình. Mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết tại đây.

1. Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu mẫu 1

Trong phòng trào thơ mới, Xuân Diệu được gọi là “nhà thơ của tình yêu”, những tác phẩm của ông trong giai đoạn này chủ yếu viết về tình yêu nồng cháy, da diết của con người trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống. Bài thơ Vội vàng cũng được coi là tác phẩm nổi tiếng về chủ đề này.

Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ vội vàng có diễn biến vô cùng phức tạp, lúc thì cuồng nhiệt, say đắm khi thì lại da diết, lắng đọng.

Thiên nhiên được cảm nhận qua con mắt của nhân vật trữ tình là hội tụ của những gì đẹp nhất, tinh túy nhất:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si.

Đoạn thơ đã làm hiện lên vẻ đẹp của thiên nhiên giống như thiên đường trên mặt đất, có đầy đủ ong bướm, hoa cỏ, cả khúc tình ca. Nhân vật trữ tình bỗng nhiên giống như một đứa trẻ đang lạc vào một thiên đường, tất cả mọi thứ đều rất lạ, rất đẹp, và đứa trẻ ấy dần dần khám phá những vẻ đẹp ấy, mọi thứ hiện ra rất bất ngờ khiến tâm hồn đứa trẻ tươi vui và rộn rã. Cuộc sống biết bao điều khiến ta tò mò, và càng khám phá ta càng nhận thấy bao điều kì diệu: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Chưa bao giờ tôi thấy có một nhà thơ lại so sánh tháng giêng với một hình ảnh rất đắt “cặp môi gần”. Đó là cặp môi của nàng thiếu nữ đang tuổi thanh xuân, còn gì đẹp hơn khi ta được gần cặp môi ấy. Tháng giêng trong con mắt của Xuân Diệu ngon như một cặp môi gần, khiến ta cảm thấy tác giả yêu thiên nhiên đến tột độ và tìm mọi cách để hưởng thụ thiên nhiên. Tất cả những cảm xúc ấy đã được tác giả khái quát qua hai câu thơ:

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa;

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Vẫn đang đắm chìm say xưa trong cảm xúc hạnh phúc trước vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng tác giả chợt nhận ra rằng mình phải “vội vàng một nửa”. Vì sao phải vội vàng? Thiên nhiên đẹp đấy, quyến rũ đấy nhưng sẽ không thể tồn tại mãi, rồi hoa kia sẽ tàn, chim cũng sẽ dừng tiếng hót, thời gian sẽ trôi đi và con người thì không thể khiến những khoảnh khắc đó dừng lại. Đến đây, ta có thể nhận thấy Xuân Diệu không chỉ yêu thiên nhiên mà còn yêu cuộc đời đến cuồng nhiệt.

Hai câu thơ trên còn thể hiện một thái độ sống rất đáng khâm phục của tác giả, đánh thức suy nghĩ của tuổi trẻ. Rằng con người không thể chạy đua với thời gian, vậy nên chúng ta cần sống sao cho có ích với xã hội để sau này khi thời gian đó trôi qua rồi chúng ta sẽ không còn phải ân hận hoặc nuối tiếc điều gì.

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Lại một cảm xúc khác trước thời gian, không gì là mãi mãi, con người gặp nhau rồi cũng phải chia ly, biết bao cuộc chia ly mà chúng ta đã từng trải qua, thật đau đớn trước những khoảnh khắc ấy. Tác giả lại một lần nữa không kìm nén được cảm xúc của mình:

Chẳng bao giờ, ôi! chẳng bao giờ nữa..

Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm

Trong sự nuối tiếc khi vẻ đẹp của thiên nhiên phai tàn theo thời gian, Xuân Diệu đã chọn cho mình cách tận hưởng thiên nhiên, cuộc sống từng giây, từng phút để những giây phút đó không còn là vô ích. Cuối bài thơ, tác giả đã thể hiện cái tôi của mình một cách cuồng nhiệt, mãnh liệt với những động từ: ôm, riết, say, thâu, cắn như muốn thâu tóm toàn bộ cái tươi nguyên của cuộc sống trong khoảnh khắc. Tác giả cảm nhận cuộc sống bằng tất cả các giác quan. Các động từ mạnh kết hợp với các từ: sự sống mơn mởn, mây đưa gió lượn, cánh bướm với tình yêu, cái hôn, mùi thơm, ánh sáng, xuân hồng…đã cho thấy tâm trạng ngây ngất và khát khao vô biên của nhà thơ luôn “thèm muốn vô biên và tuyệt đích”.

Tâm trạng của nhân vật trữ tình được Xuân Diệu thể hiện qua bài thơ Vội vàng có diễn biến vô cùng phức tạp, qua cách sử dụng từ ngữ lạ và táo bạo, ta thấy được một tâm hồn yêu thiên nhiên, thiết tha, cuồng nhiệt với cuộc sống và nuối tiếc trước sự tài phai của vạn vật. Nhà thơ giúp chúng ta nhận ra được giá trị đích thực của cuộc sống từ đó có cách sống nhiệt tình, hết mình và sống có ích.

2. Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu mẫu 2

Niềm say mê thiên nhiên, say mê cuộc sống của Xuân Diệu được thể hiện đầy đủ nhất, cao độ nhất có lẽ là ở bài thơ Vội vàng. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Hoài Thanh nhận xét: Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh đời, sống vội vàng, sống cuống quýt… Đây là nhận xét tinh tế và chính xác bởi khi đặt tên bài thơ là Vội vàng, Xuân Diệu đã tỏ ra rất hiểu mình. Có thể coi bài thơ này là tuyên ngôn về lẽ sống của nhà thơ.

Xuân Diệu yêu cuộc sống tha thiết, nồng nàn. Theo nhà thơ, cuộc sống là tất cả những lạc thú vật chất, tinh thần cùng với những gì trần tục và thanh cao của nó. Bài thơ Vội vàng cho người đọc thấy thi nhân đang trải lòng mình ra mà viết và bày tỏ cho hết tình cảm chân thành đối với cuộc đời.

Bàn về lẽ sống của Xuân Diệu, có rất nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng lẽ sống vội vàng của nhà thơ bắt nguồn từ nhận thức về thời gian vô hạn và kiếp người hữu hạn. Cái đáng quý nhất của con người là cuộc sống cho nên phải tranh thủ chớp lấy từng khoảnh khắc để sống. Ý kiến khác cho rằng Xuân Diệu yêu tha thiết, yêu say đắm cuộc sống nên rất sợ mất nó. Trong khi yêu, Xuân Diệu đã cảm thấy tình yêu đang mất nên luôn ở trong tâm trạng hoảng hốt, lo âu, chợt vui, chợt buồn. Chính vì vậy nên dù là yêu cảnh hay yêu người, Xuân Diệu cũng đều ngấu nghiến, vồ vập, vội vàng.

“Cái tôi” của tác giả trong bài thơ này được thể hiện ở hai trạng thái đối lập mà thống nhất của tâm hồn: lúc mãnh liệt đến cuồng si, lúc lại da diết, lắng sâu. Đọc kĩ bài thơ, chúng ta sẽ nhận ra diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình: lúc phơi phới yêu đời, lúc sôi nổi, cuồng nhiệt như núi lửa phun trào, lúc lại bâng khuâng, lo lắng.

Vội vàng tuy là bài thơ trữ tình nhưng nó lại chứa đựng một triết lí sống cụ thể. Kết cấu bài thơ có thể chia làm hai phần, được phân cách bằng câu thơ ngắn: Ta muốn ôm. Phần trên nghiêng về trình bày những lí lẽ vì sao lại phải sống vội vàng ? Thái độ sống ấy xuất phát từ nhận thức và quan niệm về hạnh phúc trần gian, thời gian và tuổi trẻ. Theo Xuân Diệu thì cuộc sống trần thế giống như một thiên đường kì thú với bao nguồn hạnh phúc dành cho con người. Nhưng những cảnh sắc ấy chỉ thực sự mang vẻ đẹp thần tiên trong buổi xuân thì của nó và con người chỉ tận hưởng được những lạc thú khi còn trẻ; trong khi đó tuổi trẻ lại vô cùng ngắn ngủi. Thời gian có thể cướp đi tất cả. Vậy chỉ có một cách là chạy đua với thời gian, là phải vội vàng mà sống. Đây là một triết lí tích cực và tiến bộ.

Phần dưới của bài thơ thể hiện những hành động vội vàng của nhân vật trữ tình trong khi hưởng thụ vẻ đẹp của đời. Nội dung cảm xúc thể hiện rõ ở những hành động vồ vập, ở trạng thái chếnh choáng của một “cái tôi” đang muốn tận hưởng thật nhiều hương sắc của khu vườn trần thế.

Hai phần này chuyển tiếp rất tự nhiên về cảm xúc và rất chặt chẽ về luận lí. Nó khiến cho bài thơ liền mạch và hoàn Chỉnh, giống như một dòng chảy ào ạt, tự nhiên của tâm trạng. Đây chính là thành công đáng kể của bài thơ.

Bốn câu ngũ ngôn mở đầu đoạn hai nêu lên ý tưởng táo bạo, dị thường đến mức như nghịch lí:

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.

Nhà thơ muốn đoạt quyền của tạo hóa, đảo ngược quy luật tự nhiên. Muốn tắt nắng đi, muốn buộc gió lại, cái ham muốn lạ lùng ấy hé mở cho chúng ta thấy lòng yêu bồng bột, vô bờ của nhà thơ đối với con người, cuộc sống, với thế giới thắm sắc đượm hương đang trải rộng trước mắt. Dường như Xuân Diệu đã chỉ cho chúng ta thấy rõ cái nghiệt ngã của tạo hóa để rồi sau đó từ từ lí giải lẽ sống vội vàng của mình.

Trước hết, thiên nhiên và cuộc sống được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Với nhà thơ, đây là một thiên đường trên mặt đất. Cái thiên đường đầy hương sắc đó hiện ra trong bài thơ vừa như một khu vườn tình ái

của vạn vật đương buổi xuân thì, vừa như một người tình đầy quyến rũ. Xuân Diệu cảm nhận thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên.
Xung quanh nhà thơ, cảnh vật tưng bừng, rạo rực một sức sống đang lên, đầy hấp dẫn, lôi cuốn, khiến không ai có thể thờ ơ:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa;

Tất cả tình và cảnh trong đoạn thơ này được tác giả miêu tả rất cụ thể: Tuần tháng mật của ong bướm, muôn hoa xuân nở rộ khoe sắc, khoe hương trên đồng nội xanh rì. Chồi non, lộc nõn cành tơ phơ phất, khúc tình si rộn rã của yến anh, ánh sáng chớp hàng mi. Đoạn thơ như tiếng reo vui hồn nhiên của đứa trẻ ngây thơ lạc vào khu vườn đầy hương sắc, rộn rã, tưng bừng bàn nhạc đủ mọi thanh âm. Đối với Xuân Diệu, mỗi ngày mới là một niềm vui mới và cuộc đời tưởng như là chuỗi vui vô tận: Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa.

Điệp từ này đây lặp lại tới năm lần, như nhấn mạnh từng nét đẹp của vườn xuân, như giới thiệu sự phong phú bất tận của thiên nhiên với niềm hào hứng lạ thường, để rồi đi đến một so sánh rất độc đáo: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Xuân Diệu có lối diễn tả tinh tế bằng sự chuyển đổi cảm giác, ông không nói tháng giêng đẹp mà nói tháng giêng ngon để đặc tả một sức sống mơn mởn, non tơ, quyến rũ. Là thi sĩ của tình yêu nên Xuân Diệu thấy giữa vẻ đẹp của thiên nhiên và vẻ đẹp thiếu nữ đương xuân có những nét tương đồng.

Hai khổ thơ liên kết chặt chẽ với nhau. Thi sĩ muốn tắt nắng đi, muốn buộc gió lại chính là để lưu giữ mãi mãi hương sắc của vườn xuân trần thế. Nhưng tiếc thay, vẻ đẹp ấy chỉ rực rỡ lúc xuân thì, mà xuân thì lại vô cùng ngắn ngủi. Nhà thơ đang hân hoan đón nhận vẻ đẹp tuyệt vời mà tạo hóa ban cho muôn loài thì bỗng chốc niềm vui tan biến, thay vào đó là nỗi ngậm ngùi trước hiện thực phũ phàng:

Xuân đương tới; nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Theo quan niệm của nhà thơ thì mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu là những gì đẹp nhất, “là những phần ngon nhất của cuộc đời”. Thiên nhiên đẹp nhất lúc xuân sang; đời người đẹp nhất tuổi xuân thì; tình yêu đẹp nhất khi đi đôi với tuổi trẻ. Nhưng trớ trêu thay là tạo hóa – đấng vô hình sáng tạo ra cái đẹp và cũng lạnh lùng huỷ diệt cái đẹp. Mùa xuân và tuổi trẻ đều vô cùng ngắn ngủi. Thời gian sẽ cuốn trôi hết thảy: Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già. Cho nên con người phải vội vàng tận hưởng mọi sắc màu cùng hương thơm, mật ngọt của đời.

Xưa nay, quan niệm về thời gian gắn liền với sự tuần hoàn của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nghĩa là thời gian được hình dung như một vòng tròn quay liên tục hết một vòng lại trở về điểm xuất phát, cứ trở đi trở lại mãi mãi như thế. Mà đã là vòng tuần hoàn thì những thời khắc, thời đoạn của nó có ra đi rồi cũng sẽ quay trở về. (Xuân đi thì xuân sẽ quay lại). Quan niệm đó xuất phát từ cái nhìn, lấy quy luật vũ trụ làm thước đo thời gian.

Xuân Diệu lại quan niệm rằng thời gian như một dòng chảy xuôi chiều một đi không trở lại, mà mỗi một khoảnh khắc trôi qua là sự sống của đời người sẽ vĩnh viễn mất đi một ít. Tức là lấy cái quỹ thời gian hữu hạn của con người để đo đếm thời gian. Thậm chí, lấy quãng ngắn nhất, giàu ý nghĩa nhất trong đời người là tuổi trẻ để làm thước đo. Cách cảm nhận về thời gian như vậy xuất phát từ ý thức sâu xa về giá trị của sự sống cá nhân, mỗi khoảnh khắc đều vô cùng quý giá. Nó quý giá chính vì một khi đã trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Quan niệm ấy khiến cho con người phải biết quý từng giây phút của cuộc đời và biết làm cho mỗi khoảnh khắc của đời mình cần phải tràn

đầy ý nghĩa. Có như thế mới là biết sống. Đây là nguyên nhân sâu xa của thái độ sống vội vàng. Xuân Diệu cảm nhận rằng thời gian và tuổi trẻ một đi không bao giờ trở lại, cho nên đã chua xót phủ nhận: Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại. Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn rất biện chứng về vũ trụ, về thời gian:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Xuân Diệu đồng nhất mùa xuân với tuổi trẻ và tình yêu, cho nên ông ngậm ngùi than: Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Nhà thơ cảm thấy đời người quá ngắn ngủi trước thời gian và không gian vĩnh cửu:

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Câu thơ như một tiếng thở dài u hoài, tiếc nuối. Quy luật thiên nhiên giờ đây đã trở nên đối kháng với con người:

Lòng tôi rộng… / lượng trời cứ chật,
Xuân vẫn tuần hoàn… / tuổi trẻ chẳng hai lần thấm lại,
Còn trời đất… / chẳng còn tôi mãi.

Vì thế, cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là cảm nhận về sự mất mát. Mỗi khoảnh khắc trôi qua là một phần đời vĩnh viễn mất đi:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Hai câu thơ này thể hiện rất rõ cách cảm nhận tinh vi về thời gian của Xuân Diệu. Mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ được hình dung như một cuộc chia li vĩnh viễn. Và thời gian được coi như một dòng chảy vô tận của những mất mát, cho nên thời gian thấm đẫm hương vị của chia phôi. Khắp sông núi là những lời than thầm tiễn biệt của vạn vật. Sâu xa hơn là mỗi một sự vật dang ngậm ngùi tiễn biệt một phần đời của chính nó. Tâm trạng phức tạp đã chi phối cách nhìn, cách nghĩ của Xuân Diệu cho nên giữa tươi xanh thi sĩ đã nhìn thấy màu héo úa; giữa hiện tại đã thấp thoáng quá khứ, giữa sum họp dã có mầm mống chia li:

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sữa?

Cảm nhận của Xuân Diệu về thời gian, không gian thật lạ. Dường như cái chất vui tươi, trẻ trung của thiên nhiên không còn nữa: tháng năm rớm vị chia phôi, sông núi than thầm tiễn biệt, gió xinh hờn vì phải bay đi, chim đứt tiếng reo thi vì sợ độ phai tàn sắp sửa…

Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác – mùi tháng năm, thời gian được hình dung là hương hoa – chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn buộc gió lại, cho hương đừng bay đi. Nhà thơ đã cảm nhận sự trôi chảy vô tình của thời gian bằng tất cả các giác quan. Mỗi khoảnh khắc thời gian đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ.

Không thể buộc gió, không thể tắt nắng, cũng không thể níu kéo thời gian, thì chỉ có một cách thực tế nhất là chạy đua với thời gian, phải tranh thủ sống, vội vàng mà sống:

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,

Đó cũng là bi kịch của đời. Dù cuộc đời đầy bi kịch nhưng khu vườn trần thế vẫn hết sức hấp dẫn đối với con người – nhất là những người đa cảm, đa tình như Xuân Diệu. Cho nên thi sĩ càng hối hả, vội vàng tận hưởng khi Mùa chưa ngả chiều hôm (nghĩa là khi tiết xuân và tuổi trè vẫn còn đang độ).

Câu thơ não nuột, tuyệt vọng: Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa đã khép lại phần lí giải cho lẽ sống vội vàng của Xuân Diệu và mở ra phần biểu hiện của hành động vội vàng:

Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu;
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Đoạn thơ như là lời tình tự của thi sĩ với thiên nhiên, với sự sống bằng những cảm xúc và ham muốn mỗi lúc một si mê, cuồng nhiệt. Chỉ có thế mới diễn tả hết được khát vọng sổng mãnh liệt của thi sĩ.

Cảm hứng thơ như những đợt sóng đại dương mỗi lúc một dâng cao. Sự kết hợp hài hòa đến mức tài tình giữa âm thanh, hình ảnh, từ ngữ trong đoạn thơ đặc tả sự cuồng nhiệt của tình yêu cuộc sống. Tình yêu ấy làm sống dậy vẻ tươi đẹp, đầy sinh khí của thiên nhiên. Điệp ngữ ta muốn khẳng định khát khao cháy bỏng muốn ôm trọn cả vũ trụ trong vòng tay âu yếm muôn đời. Mỗi lần điệp ngữ đó xuất hiện là lại đi liền với một động thái yêu đương, càng lúc càng mạnh mẽ, đếm say: ôm cả sự sống, riết mây đưa và gió lượn, say cánh bướm với tình yêu, thâu trong một cái hôn nhiều…

Khát khao gắn bó, yêu thương và giao hòa với thiên nhiên, với con người và cuộc sống thôi thúc nhà thơ, đẩy cảm xúc thơ lên tới tột đỉnh. Thi sĩ muốn được thưởng thức đầy đủ, trọn vẹn tất cả vẻ đẹp của vườn đời đầy hoa thơm trái ngọt:

Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Ta thấy Xuân Diệu như con ong đã hút mật no nê, như một tình nhân dang tràn trề hạnh phúc. Niềm khao khát vô biên được tận hưởng hạnh phúc đắm say bộc lộ qua những động từ quyết liệt, táo bạo, gây ấn tượng mạnh với người đọc.

Phải nói rằng cách thể hiện tâm trạng của Xuân Diệu trong bài thớ Vội vàng là rất mới, rất lạ, rất Xuân Diệu, xưa nay chưa từng có. Cách dùng từ ngữ, hình ảnh thật táo bạo. Táo bạo nhưng đặc sắc, tài tình bởi chỉ có thể nói bằng cách ấy mới bày tỏ hết sự nồng nàn say đắm của lòng yêu. Bài thơ như lời giục giã yêu đương, lời kêu gọi tuổi trẻ hãy sống cho sôi nổi và mãnh liệt.

Xuân Diệu yêu đời, tha thiết gắn bó với cuộc sống. Thi sĩ đã hào hứng khẳng định: Sự sống chẳng bao giờ chán nản. Ông thèm hưởng thụ và biết hưởng thụ mọi cái đẹp, cái vui của cuộc sống và qua thơ, ông dâng tặng những của cải tinh thần quý báu đó cho mọi người. Nhà thơ giúp chúng ta khám phá ra chân giá trị của cuộc đời mà nếu sống hời hợt, nông nổi thì khó nhận ra được. Sự sống trong thơ Xuân Điệu phong phú và đa dạng. Đó là mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu; là thế giới muôn hình muôn vẻ, tràn đầy niềm vui và ánh sáng. Chính vì thế, Xuân Diệu và thơ tình Xuân Diệu mãi mãi thuộc về tuổi trẻ – những con người sống để yêu thương.

3. Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu mẫu 3

Xuân Diệu là một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới. Ông được ngợi ca là “ ông hoàng thơ tình”, “ nhà thơ của tình yêu” bởi hồn thơ nồng nàn, da diết, đi theo tiếng gọi của tình yêu. Dường như những vần thơ của ông là nỗi lòng của chính ông. Bài thơ Vội vàng là một bài thơ như vậy, bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, cũng như nói về tình yêu nồng cháy của con người khi đứng trước vẻ đẹp đó.

Trong bài thơ, tâm trạng của nhân vật trữ tình có diễn biến vô cùng phức tạp. Khi thì say đắm đến cuồng nhiệt, nhưng rồi có lúc lại trầm xuống, lắng đọng một cách da diết. Thiên nhiên trong con mắt của nhân vật trữ tình hiện lên với những gì đẹp đẽ nhất:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất.

Của yến anh này đây khúc tình si.

Thiên nhiên hiện lên trong đoạn thơ giống như thiên đường trên mặt đất, hội tụ đầy đủ những ong bướm, hoa cỏ cùng ca khúc tình ca. Nhân vật trữ tình như đang lạc vào trong chốn thiên đường. Mọi thứ lạ quá, đẹp quá khiến cho người ta bị choáng ngợp khi khám phá những điều ấy, khiến cho tâm hồn trở nên tươi vui , rộn rã. Giờ đây nhân vật mới nhận ra rằng, cuộc sống còn rất nhiều điều mới mẻ đang chờ đợi chúng ta khám phá. Và những điều mới mẻ, cảm xúc đó đã khiến cho tác giả trào dâng lòng ham muốn nhất thời:

Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Đang hân hoan, vui sướng vì tình yêu, vì mùa xuân đến ngập tràn niềm vui, vậy mà như chợt nhận ra điều gì đó khiến cho nhân vật bỗng chững lại. Từ “ nhưng” làm cho giọng thơ trở nên chùng xuống, lắng lại đôi chút. Hân hoan là vậy nhưng tâm trạng lại chuyển sang “ vội vàng một nửa”. Tại sao lại phải vội vàng? Có lẽ bởi vì thiên nhiên dù đẹp đến thế nào cũng không thể giữ mãi vẻ đẹp đó. Hoa nào rồi cũng phải tàn, chim nào rồi cũng đến lúc sẽ ngừng hót, thời gian trôi đi, con người dù muốn cũng không thể thay đổi được điều gì. Đọc đến đây ta có thể cảm nhận được rằng, nhà thơ Xuân Diệu yêu thiên nhiên và cuộc đời một cách vô cùng mãnh liệt. Bên cạnh đó, ta cũng thấy được thái độ sống rất tích cực của Xuân Diệu. Con người cần phải sống sao cho thật có ích, có ý nghĩa với cuộc đời, để dù cho có chuyện gì xảy ra thì ta cũng không có gì phải nuối tiếc.

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.

Đứng trước không gian, thời gian, cảm xúc của tác giả lại trào dâng không thể kìm nén. Đó là cảm xúc khi chia ly. Con người ta gặp nhau, dù có yêu mến nhau thế nào, cũng không thể nào tránh khỏi chia ly. Không sớm thì muộn, những cuộc chia ly dù đau đớn nhưng chúng ta vẫn phải chấp nhận điều đó. Khoảnh khắc chia ly ấy thật đau đớn, xót xa làm sao. Và điều này khiến cho Xuân Diệu một lần nữa không kìm nén được mà dâng trào cảm xúc đến chua xót:

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.

Khi chứng kiến cảnh thiên nhiên phai tàn theo năm tháng, theo thời gian mà không thể níu giữ, Xuân Diệu đã tự giúp cho mình tận hưởng thiên nhiên, tận hưởng cuộc sống từng giây từng phút. Không nên lãng phí bất cứ khoảnh khắc nào để trôi qua vô nghĩa.

Đến những câu thơ cuối, Xuân Diệu đã bộc lộ rõ một sự khao khát mãnh liệt đến cháy bỏng:

Ta muốn ôm cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều.

Nhịp thơ bỗng trở nên gấp gáp, vội vàng hơn với điệp từ “ta” được lặp lại ở mỗi câu thơ. Có lẽ bởi đây là tất cả những khao khát được dồn nén bấy lâu, giờ được dịp trào dâng, vỡ òa ra. Mùa xuân đang tươi đẹp như vậy, nhưng tác giả chưa kịp tận hưởng mà đã nghĩ đến thời khắc mọi thứ tan biến đi theo thời gian, không gian. Một ý nghĩ rất tiến bộ, ý thức về thời gian rất hiện đại, đánh thức được những thế hệ trẻ sau này về tình yêu thiên nhiên, yêu những thứ mình đang có.

4. Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu mẫu 4

Nhận định về nền thơ Mới Việt Nam giai đoạn 1932-1941, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã có những nhận định rất sâu sắc và toàn diện về một loạt những cái tên nổi trội trong thời kỳ này rằng: "Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, kỳ dị như Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, quê mùa như Nguyễn Bính, và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu". Đôi lúc ta vẫn tự hỏi rằng phải chăng Xuân Diệu có gì thật xuất sắc để Hoài Thanh phải dành tận 3 tính từ mới đủ khái quát hết chất thơ ông như thế. Nhưng rồi đọc thơ Xuân Diệu ta mới vỡ ra một điều rằng thơ Xuân Diệu dùng 3 từ ấy để miêu tả, thì có lẽ cũng vẫn là bủn xỉn, keo kiệt lắm. Trước cách mạng thơ Xuân Diệu nói về tình yêu với những gì thiết tha nồng nàn, rạo rực nhất mà đôi lúc ta có thể ví nó là một nụ hôn kiểu Pháp giữa những kẻ đang si mê vì tình. Thơ ông như một khu vườn đủ mọi hương sắc, là một bản giao hưởng đủ mọi thanh âm, tình yêu cũng muôn màu muôn vẻ từ ngây thơ e ấp, nồng nàn, đằm thắm đến si mê điên dại. Mà Vội vàng chính là thi phẩm tiêu biểu nhất cho lối viết, cho hồn thơ lúc này của Xuân Diệu. Ở đó người thi sĩ vì "tình" mà trải qua đủ mọi cung bậc cảm xúc, đó là những cảm xúc rất "mới", rất lạ, là thứ xúc cảm của "một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này".

Cũng phải nói rằng không phải cứ nhắc đến Xuân Diệu là nhắc đến một nhà thơ suốt ngày say mê tình yêu nam nữ, ta phải hiểu thứ tình yêu của ông là một tình yêu rộng lớn bao la. Ông thiết tha với thiên nhiên, với vẻ đẹp của mùa xuân, có lòng yêu tha thiết với tuổi xuân của con người, với cuộc đời, và một phần nhỏ trong đó chính là tình yêu nam nữ. Chính vì vậy nên mới nói Xuân Diệu được mệnh danh là ông hoàng thơ tình, và chữ "tình" ở đây thì rộng rãi lắm.

Quay lại với Vội vàng, ở khổ thơ đầu tiên, người ta thấy thi sĩ hiện lên với một tâm hồn khao khát níu giữ rất lạ, dường như ở đây tồn tại đến hai cái "tôi" tách biệt, cùng hướng về một phía, cùng mong được giữ lại vẻ đẹp của tạo hóa, đó là cái tôi đầy "ích kỷ" và khác biệt, lần đầu tiên xuất hiện trong thơ Mới.

"Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi"

Biện pháp điệp cấu trúc "Tôi muốn...", bộc lộ niềm khao khát mãnh liệt của tác giả trong việc "tắt nắng", "buộc gió", chặn đứng lại bước đi của tạo hóa, của thời gian để giữ lại những gì tươi đẹp nhất của mùa xuân, đó màu nắng hồng ấm áp, đó là mùi hương thơm ngát của muôn hoa đang khoe sắc khắp nhân gian. Cái "tôi" trữ tình của thi sĩ sĩ đã được bộc lộ bằng những ham muốn có phần kỳ quặc ấy. Lúc đầu có lẽ người ta thấy Xuân Diệu giống một kẻ ngông cuồng, táo bạo vì tình, thế nên mới có những suy nghĩ nông nổi và thách thức cả tạo hóa như thế, nhưng lúc nghĩ lại người ta lại thấy Xuân Diệu thật giống một đứa trẻ hồn nhiên, trong sáng và bướng bỉnh, một khi đã thèm, đã thích cái gì thì chỉ muốn chiếm làm của riêng cho kỳ được, một cách "ích kỷ" rất ngây thơ và có thể thông cảm được. Nói Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới quả thật là đúng, và nó có cái lý của nó cả, khi các thi sĩ cùng thời, cũng sáng tác thơ Mới nhưng vẫn chưa thoát khỏi việc tìm "sự quên", "sự thoát ly" ở những viễn cảnh không phải trần gian, hay vẫn còn bế tắc trước thế sự đường thời. Thì Xuân Diệu lại cho người ta thấy một diện mạo thơ thật lạ, một triết lý nhân sinh mới: Cái đẹp nằm ngay ở trần gian, ở ngay cạnh chúng ta chúng không phải ở bồng lai tiên cảnh nào hết! Và khi thơ ông đến nó đã thực sự là một mồi lửa muốn "đốt cảnh bồng lai xua ai nấy về hạ giới". Trong ý thức về bước đi của thời gian và đời người ngắn ngủi hoàn toàn tách biệt lẫn nhau, người chết là trở về với cát bụi, chẳng có vòng luân hồi chuyển thế nào cả, thì thi sĩ lại càng trân quý hơn cái cuộc đời vốn ngắn ngủi của mình, trân trọng tuổi trẻ và yêu nhất là mùa xuân. Thế là trước cảnh tượng thời gian thoi đưa, bỗng nhiên Xuân Diệu cảm thấy hoảng hốt, cảm thấy lo lắng, sợ những thứ đẹp đẽ mà mình vẫn trân quý bao gồm ánh nắng và hương hoa hai thứ đại diện cho mùa xuân sẽ nhưng chóng vụt mất và lụi tàn. Thành ra người mới bộc lộ niềm khát khao được "tắt nắng", "buộc gió" kiềm giữ vòng quay của tạo hóa là vậy. Nhưng dĩ nhiên đây chỉ là giải pháp, lúc thi nhân còn bối rối, còn chưa tìm ra được giải pháp nào mà thôi.

Đến tám câu thơ tiếp theo, Xuân Diệu tạm gác lại cái khao khát ngông cuồng mãnh liệt của mình để hòa vào thưởng thức vườn xuân tươi đẹp một cách sung sướng và đầy đam mê. Chính vì thế bức tranh thiên nhiên, bức tranh tình yêu dưới ngòi bút của thi sĩ cũng trở nên nồng nàn, đắm say, đủ sắc đủ vị.

"Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"

Ta có thể nhận thấy rằng từng vần thơ của Xuân Diệu đều hiện rõ lên cái sự vui mừng, hạnh phúc đến tột cùng khi bản thân thi sĩ phát hiện ra một thiên đường ở chính ngay bên cạnh mình nơi mình vẫn thường sinh sống. Trước niềm vui có quá đỗi bất ngờ ấy, Xuân Diệu đã không kiềm lòng được mà sử dụng toàn trí, toàn thần, toàn hồn, toàn thân thể, căng mở hết tất cả các giác quan để tận hưởng bữa tiệc mùa xuân tràn trề, đang bày ra thịnh soạn ngay trước mắt. Điệp khúc "này đây..." được lặp đi lặp lại tới 5 lần, kết hợp với cả thủ pháp liệt kê, tạo nên một nhịp thơ nhanh, dồn dập, liên tiếp, như điệp khúc rộn ràng của một khúc ca xuân, thể hiện cảm xúc ngỡ ngàng, ngạc nhiên, lạ lẫm của tác giả trước cảnh sắc mùa xuân. Có thể hiểu được rằng với Xuân Diệu một người tha thiết với mùa xuân như thế, thì bất kỳ cảnh sắc nào lọt vào tầm mắt của thi nhân cũng dễ dàng làm trái tim của thi nhân xao xuyến, rung cảm vô cùng: Đó là cảnh ong bướm say mê, âu yếm ngọt ngào trong vị ngọt đậm của mật hoa, của tình yêu đang độ chín; là cảnh hoa cỏ mùa xuân, một đỏ thắm, một xanh rì, tạo nên bức tranh hài hòa cân đối, như đôi vợ chồng tương kính như tân thuở xưa vậy; thêm cảnh "lá với cành tơ phơ phất" uyển chuyển, mỡ màng như mời gọi, khiến người ta không khỏi khát khao, vui mắt; lại thêm cả "khúc tình si" rộn ràng của cặp yến anh đang chìm đắm trong tình yêu nữa, thì bức tranh xuân đúng đủ sắc, hương, vị. Và trước khung cảnh thiên nhiên tràn đầy sức sống, Xuân Diệu không quên đưa vào chút ánh sáng ấm áp, phủ lên toàn bộ không gian, đem đến một vẻ đẹp chan hòa, dễ chịu, khiến người ta chỉ muốn hòa mình vào trong đó. Không chỉ vậy "Và này đây ánh sáng chớp hàng mi", người ta còn nhìn ra được chút ý vị tình tứ rất tinh tế, một thiếu nữ trẻ trung đang tắm mình dưới nắng xuân để tô đậm thêm cái vẻ xuân sắc của mình, rèm mi nàng ánh lên trong nắng sớm, mang đến vẻ tinh khôi khiến trái tim thi sĩ không khỏi lạc nhịp. Đứng trước vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên mùa xuân, Xuân Diệu lại càng ý thức được tuổi trẻ, người thấy hãnh diện, thấy tự hào vì bản thân mình có thể ôm ấp và tận hưởng mùa xuân một cách trọn vẹn và sung sướng đến thế. Để giờ đây, dường như có một chân lý đã bừng lên trong trái tim người thi sĩ trẻ rằng "mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa", tức mỗi ngày được thức dậy được tận hưởng cuộc sống đối với Xuân Diệu đã là một niềm vui to lớn, khiến ông mãn nguyện, hài lòng. Sự chuyển đổi cảm xúc trong câu "Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần" chính là điểm nhấn đầy ấn tượng mà Xuân Diệu đã mang đến cho độc giả. Tháng Giêng tháng của mùa xuân, tháng đẹp nhất trong năm và Xuân Diệu như một thực khách tham lam, không cam chịu việc chỉ được ngắm nhìn, được nếm thử chút mật ngọt, hít thử chút hương thơm, mà người còn muốn cắn nuốt nó vào bụng để giữ cho riêng mình. Đôi lúc người ta bảo rằng Xuân Diệu là đứa trẻ dễ sợ, dễ dỗi, nhưng cũng rất dễ dỗ, chỉ cần một cái kẹo ngọt thấm hơi xuân thì ông đã mỉm cười hạnh phúc lắm. Quả thực vậy, thế giới có biết bao điều tốt đẹp, bao người có ước mơ lý tưởng cao xa, viễn vọng nhưng chỉ mình Xuân Diệu có niềm tha thiết đặc biệt với mùa xuân, xem mùa xuân là món quà tuyệt nhất của tạo hóa, phát hiện chân lý cái đẹp ngự trị ở chính bên cạnh mỗi chúng ta. Suy nghĩ ấy thật giản đơn và đáng quý vô cùng.

Nói Xuân Diệu dễ lo, dễ dỗi cũng phải, bởi mới trước đó người còn sung sướng, tha thiết vô hạn với bàn tiệc đến từ thiên nhiên, thế mà ngay lập tức người đã quay ra chiều lo lắng "Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa/Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân". Đang phiêu bồng, lãng mạn, đang say mê giữa bàn tiệc xuân, nhưng tiệc còn chan chứa mà người đã "vội vàng" tiếc nhớ, thi nhân thế mà lại rơi và nỗi sợ, sợ mùa hạ đến, ngay giữa lúc còn ở tháng Giêng xuân sắc. Người ta sẽ nghĩ Xuân Diệu kỳ lạ quá, chỉ được cái lo xa, nhưng thực sự khi đọc những dòng thơ tiếp chúng ta mới nhận ra rằng thi nhân lo lắng cũng có nguyên do cả.

"Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;"

Hóa ra Xuân Diệu đã nhận ra một quy luật tàn nhẫn của tạo hóa, của thời gian, rằng mùa xuân của thiên nhiên thì vĩnh viễn tuần hoàn, nhưng bản thân người nghệ sĩ thì không thoát khỏi quy luật của tạo hóa, sự tàn phá của thời gian. Mùa xuân vĩnh viễn đẹp như thế, nhưng thi nhân lại chẳng thể sống mãi muôn đời để tận hưởng vẻ đẹp tuyệt vời của mùa xuân. Thế nên ngay trong giữa mùa xuân người thi sĩ đã ngỡ ngàng, sung sướng, rồi ngay sau đó lại chuyển sang hoang mang, buồn bã và cuối cùng là sự tiếc nuối vô hạn, khi bản thân bất lực trước vũ trụ. Xuân Diệu biết rõ bản thân mình không thể thay đổi được quy luật "sinh-lão-bệnh-tử" của con người, một ngày này đó người sẽ biến mất trên cuộc đời này thế nên không khỏi bâng khuâng "tiếc cả đất trời". Từ đó ta cũng nhận ra rằng bản thân Xuân Diệu không chỉ ham muốn hưởng thụ mùa xuân, mà người còn khát khao tất cả những gì tạo hóa ban tặng trong trời đất, cùng với tình yêu, lòng trân trọng từng phút giây của cuộc sống vô cùng sâu nặng, thiết tha.

Trước viễn cảnh phũ phàng và tàn nhẫn của tạo hóa như vậy, nhưng Xuân Diệu không phải là người giữ nỗi đau tiếc trong lòng lâu hay dễ bị khuất phục, ông đã nhanh chóng tìm cho mình một giải pháp hoàn hảo và hợp lý vô cùng. Nó lại khác hẳn cái giải pháp ngông cuồng, ngây thơ và bất khả thi trong 4 câu thơ đầu tiên.

"Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!"

Xuân Diệu lúc nào cũng vội vã, người vội vã hòa vào bữa tiệc xuân, vội vã buồn, rồi lại vội vã thức tỉnh và mau chóng thực hiện giải pháp của mình với giọng thơ đầy hối thúc như sợ chậm nữa thôi là sẽ không còn kịp nữa. So với ban đầu lúc này đây nhận thức của Xuân Diệu về giá trị của mùa xuân càng thêm sâu sắc, chỉ ông mới hiểu những mùa xuân lần lượt trải qua trong đời ta nó trân quý đến độ nào và người ta không thể và cũng không được phép lãng phí nó. Thế nên thay vì tận hưởng một, thì thi sĩ đã dùng mọi sức lực mọi khả năng thức nhọn tất cả các giác quan, mở rộng cánh cửa tâm hồn để tận hưởng mùa xuân lên gấp nhiều lần. Người quan niệm rằng sống phải sống sao cho trọn, thứ mình yêu ngay trước mặt, tội gì không chiếm lấy, cái ý thức mãnh liệt ấy được nhà thơ bộc lộ qua các động từ mang sắc thái mạnh như "riết", "say", "thâu", "hôn nhiều", rất nồng nàn tha thiết. Tưởng như cả mùa xuân đều bị Xuân Diệu chiếm lấy, để thưởng thức một cách tham lam, tràn trề. Ông muốn đắm chìm trong say sưa trong mùi thơm, tận hưởng thật tột cùng ánh sáng, cho "no nê thanh sắc của thời tươi", thậm chí còn muốn cắn nuốt cả mùa xuân vào trong bụng, để thưởng thức cho tận cái mùa xuân tươi đẹp trước mắt. Nói dễ hiểu thì Xuân Diệu biết con người chỉ sống được một đời, suy ra nếu ta cố gắng tận hưởng no say vẻ xuân sắc của cuộc sống hiện tại thì cũng chẳng khác là bao việc ta được sống nhiều lần là mấy. Hơn thế nữa cái khát khao chiếm giữ, tận hưởng nồng nàn tha thiết này nó lại còn là một cái thú, một niềm vui sướng tột cùng mà không phải ai cũng thấu hiểu được.

Vội vàng là minh chứng rõ nét nhất cho tấm lòng sâu nặng, tha thiết với mùa xuân tình yêu và tuổi trẻ của Xuân Diệu, người đến với đời bằng một giọng thơ yêu đời, yêu sống đầy thấm thía, khiến các thi nhân cùng thời không khỏi cảm thấy xa lạ, bỡ ngỡ về một hồn thơ quá đỗi sôi nổi, cuồng nhiệt. Nhưng mãi rồi người ta cũng thấy quen và người ta dần thấu hiểu cái chất thơ Pháp lãng mạn nhưng luôn dáng dấp mềm mại của văn chương Việt Nam. Xuân Diệu khi buồn cũng vậy, khi vui cũng vậy, thơ người lúc nào cũng nồng nàn, rạo rực, một hồn thơ trẻ mãi không già, tình tứ tận trăm năm.

Trên đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 11: Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 11 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn 11.

Bài tiếp theo: Phân tích vẻ đẹp, nhân cách của nhà nho Cao Bá Quát và Nguyễn Công Trứ

Đánh giá bài viết
1 7.539
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Học tốt Ngữ Văn lớp 11 Xem thêm