Phiếu bài tập ôn hè lớp 4 lên lớp 5 năm 2020 môn Tiếng Việt - Đề 10

Phiếu bài tập ôn hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề 10 được soạn nhằm giúp các em học sinh đang chuẩn bị bước vào lớp 5, cùng các phụ huynh và quý thầy cô tham khảo trong quá trình ôn luyện, chuẩn bị vào năm học mới.

Lưu ý: Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài viết.

Để giao lưu và dễ dàng chia sẻ các tài liệu học tập hay và để chuẩn bị cho năm học mới, mời các bạn tham gia nhóm facebook Tài liệu học tập lớp 5.

Phiếu bài tập ôn hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề 10 tiếp nối Phiếu bài tập ôn hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề 9 gồm phần đề kiểm tra (đầy đủ nội dung cần củng cố) và đáp án chi tiết. Trong đó có sẵn phần ô li cho học sinh làm trực tiếp phần chính tả và tập làm văn. Mời quý thầy cô, phụ huynh và các bạn học sinh tham khảo.

Bản quyền tài liệu thuộc về VnDoc. Nghiêm cấm mọi hành vi sao chép với mục đích thương mại.

Đề ôn tập hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề 10

Phần 1: Đọc hiểu văn bản

Gió và Mặt Trời

Một ngày nọ, Gió và Mặt Trời tranh cãi nhau kịch liệt. Gió cho rằng mình mạnh mẽ hơn nhưng Mặt Trời không đồng ý. Gió nói đầy tự hào:

- Tôi có thể thổi đổ cây, lật tung các mái nhà.

- Nhưng tôi đem lại sự ấm áp đến với mọi người và giúp cho cây lớn mau. - Mặt Trời phản đối nói.

Đúng lúc Gió đang khăng khăng tự nhận mình mạnh mẽ hơn thì có một vị khách đi qua đường. Gió chợt nảy ra ý nghĩ so tài:

- Nếu tôi làm cho ông ta cởi quần áo ra thì anh phải công nhận rằng tôi mạnh mẽ hơn. Và ngược lại, nếu như anh làm được điều đó thì tôi sẽ công nhận anh mạnh hơn tôi. Đồng ý không?

Mặt Trời vui vẻ nói: "Đồng ý!". Cuộc thi bắt đầu, Gió xung phong trổ tài trước. Mặt Trời núp ra phía sau đám mây, còn Gió bắt đầu ra sức thổi. Người khách cảm thấy lạnh lẽo bởi gió thổi mỗi lúc một mạnh hơn. Vì thế người khách không cởi quần áo mà thậm chí còn mặc thêm một chiếc áo khoác mỏng. Cuối cùng thì Gió cũng mệt nhoài và ngừng thổi. Mặt Trời cười to và nói: "Bây giờ đến lượt tôi nhé!"

Mặt Trời đẩy mây ra và bắt đầu chiếu sáng. Ánh nắng dần chuyển từ rực rỡ sang gay gắt. Người khách bắt đầu thấy nóng nực và ông ta vừa cởi chiếc áo khoác mỏng vừa than phiền: "Thời tiết hôm nay thật là lạ. Mới có gió lạnh mà đã nóng được ngay". Mỗi lúc người khách càng cảm thấy nóng hơn. Ông ta cởi quần áo từng cái một: đầu tiên là cái áo len, rồi đến áo sơ mi, mũ rồi ủng. Khi đi qua con sông, ông ta cởi bỏ hết quần áo và nhảy xuống sông tắm.

Kết quả cuộc so tài đã rõ, Gió phải công nhận Mặt Trời mạnh mẽ và thông minh hơn mình.

Câu 1: Em hãy khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng

1. Câu chuyện trên kể về cuộc thi tài giữa những ai? (0,5 điểm)

A. Mặt Trời và Mặt Trăng

B. Mặt Trời và Gà Trống

C. Gió và Mặt Trời

D. Gió và Nắng

2. Ai là trọng tài của cuộc thi? (0,5 điểm)

A. Người khách qua đường

B. Mặt Trời

C. Không có trọng tài

D. Gió

3. Luật của cuộc thi là gì? (0,5 điểm)

A. Ai làm cho người khách qua đường mặc thêm quần áo thì sẽ thắng.

B. Ai làm cho người khách qua đường cởi quần áo trước thì sẽ thắng.

C. Ai làm cho người khách qua đường mua thêm áo quần thì sẽ thắng.

D. Ai làm cho người khách qua đường đội thêm nón lá thì sẽ thắng.

4. Khi Gió thổi những làn gió lạnh lẽo thì người khách qua đường đã làm gì? (0,5 điểm)

A. Cởi chiếc áo và khăn quàng cổ ra

B. Mặc thêm một chiếc áo khoác dày

C. Mặc thêm một chiếc áo khoác mỏng

D. Mặc thêm mũ len và găng tay

5. Đến lượt Mặt Trời trổ tài thì người khách qua đường đã làm gì? (0,5 điểm)

A. Vui sướng vì không khí trở nên ấm áp

B. Cởi hết tất cả áo quần và nhảy xuống sông tắm

C. Cởi chiếc áo khoác mỏng vừa mặc vào lúc nãy

D. Mua một cốc kem để ăn cho mát mẻ

6. Kết thúc cuộc thi, Gió đã phải công nhân điều gì? (0,5 điểm)

A. Mặt Trời mạnh mẽ và thông minh hơn Gió.

B. Mặt Trời có khả năng khiến thời tiết trở nên nóng bức.

C. Gió có thể khiến cho thời tiết trở nên lạnh lẽo.

D. Người đi qua đường luôn mang theo một chiếc áo khoác mỏng.

Câu 2: Em hãy tìm ra trong câu chuyện trên một cặp từ trái nghĩa. (0,5 điểm)

Cặp từ trái nghĩa là __________________________________________________

Câu 3: Em hãy phân tích cấu tạo của câu dưới đây (1 điểm)

Vì thế người khách không cởi quần áo mà thậm chí còn mặc thêm một chiếc áo khoác mỏng.

Câu 4: Em hãy gạch 1 gạch dưới từ ghép và gạch 2 gạch dưới từ láy trong câu dưới đây (0,5 điểm):

Đúng lúc Gió đang khăng khăng tự nhận mình mạnh mẽ hơn thì có một vị khách đi qua đường.

Phần 2: Bài tập

Câu 1: Chính tả (2 điểm)

Bầu trời xanh cao tít

Nhấp nháy ngàn mắt sao

Bao đêm rồi thao thức

Cùng gió thu lao xao

Câu 2: Tập làm văn (3 điểm)

Em hãy viết một bài văn tả cảnh bãi biển.

Đáp án đề ôn tập hè lớp 3 lên lớp 4 môn Tiếng Việt - Đề 10

Phần 1: Đọc hiểu văn bản

Câu 1:

1. C

2. C

3. B

4. B

5. B

6. A

Câu 2:

Cặp từ trái nghĩa là lạnh lẽo - nóng nực.

Câu 3:

- Chủ ngữ: Người khách

- Vị ngữ: không cởi quần áo mà thậm chí còn mặc thêm một chiếc áo khoác mỏng.

(Vì thế là từ nối)

Câu 4:

- Từ ghép: đúng lúc, vị khách, qua đường

- Từ láy: khăng khăng, mạnh mẽ

Phần 2: Bài tập

Câu 1: Chính tả

Câu 2: Tập làm văn

Gợi ý dàn bài:

1. Mở bài

- Nêu hoàn cảnh, thời gian em được đến bãi biển.

- Giới thiệu khái quát về bãi biển: tên là gì, nằm ở đâu, được mọi người đánh giá như thế nào…

2. Thân bài

a. Tả bao quát cảnh biển

- Bãi cát trên bờ biển (màu sắc, độ mịn, cảm giác khi chạm vào…)

- Nước biển (màu sắc, độ trong, cảm giác khi xuống nước như thế nào, nước biển có sâu không…)

- Dưới đáy biển (gần bờ là phần cát, ra xa hơn là rặng san hô…)

- Bầu trời (trong xanh, ánh nắng chan hòa, những chú chim hải âu bay lượn trên sóng biển…)

- Những cây dừa cao lớn, được trồng dọc theo bãi biển

b. Tả cảnh biển vào các thời điểm khác nhau trong ngày

- Buổi sáng (không khí yên tĩnh, nước biển màu xanh lơ, sóng biển nhẹ nhàng, hiền hòa vỗ từng đợt vào bãi cát…)

- Buổi trưa (không khí ồn ã hơn bởi tiếng sóng vỗ dồn dập vào bờ tạo nên những khối bọt trắng xóa, nước biển chuyển màu xanh sẫm…)

- Buổi chiều tà (biển đổi màu xanh đen, tím biếc dưới ánh hoàng hôn, những đợt sóng cũng dịu nhẹ hơn…)

- Buổi tối (nước biển nhìn không rõ màu, trên mặt nước biển là những gợn bàng bạc do ánh trăng chiếu xuống, tiếng sóng biển trở nên rõ ràng hơn, rì rào rì rào đều đặn…)

c. Hình ảnh con người trên bãi biển

- Người đến thăm thú, du lịch (các du khách với nhiều hoạt động như tắm biển, lặn xuống đáy ngắm san hô, chơi bóng chuyền trên bãi biển, chơi trò xây lâu đài cát, nằm ngắm cảnh…)

- Các nhà hàng, quán ăn kinh doanh ở bãi biển, cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích như: cho thuê phao bơi, đồ lặn, ô che nắng; các món đặc sản ở biển như tôm, cua, cá, ốc, ghẹ…

d. Những giá trị đóng góp của bãi biển

- Là nơi vui chơi giải trí, thư giãn

- Cung cấp nguồn hải sản phong phú, đa dạng

- Thu hút nguồn khách du lịch đông đúc cho địa phương

3. Kết bài

- Nêu những cảm xúc, suy nghĩ của em khi được đến bãi biển.

----------------------------------------------------------------------------------

Ngoài Phiếu bài tập ôn hè lớp 4 lên lớp 5 môn Tiếng Việt - Đề 10 trên đây, chúng tôi còn sưu tầm và chọn lọc nhiều đề thi KSCL đầu năm lớp 5, đề thi giữa kì 1 lớp 5đề thi học kì 1 lớp 5. Mời quý thầy cô, phụ huynh và học sinh tham khảo.

Tài liệu tham khảo:

Đánh giá bài viết
1 91
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Đề thi khảo sát chất lượng đầu năm lớp 5 Xem thêm