Giao diện mới của VnDoc Pro: Dễ sử dụng hơn - chỉ tập trung vào lớp bạn quan tâm. Vui lòng chọn lớp mà bạn quan tâm: Lưu và trải nghiệm
Đóng
Điểm danh hàng ngày
  • Hôm nay +3
  • Ngày 2 +3
  • Ngày 3 +3
  • Ngày 4 +3
  • Ngày 5 +3
  • Ngày 6 +3
  • Ngày 7 +5
Bạn đã điểm danh Hôm nay và nhận 3 điểm!
Nhắn tin Zalo VNDOC để nhận tư vấn mua gói Thành viên hoặc tải tài liệu Hotline hỗ trợ: 0936 120 169

Bộ đề thi thử tốt nghiệp THPT 2026 môn Ngữ văn - Số 4

Lớp: THPT Quốc gia
Môn: Ngữ Văn
Dạng tài liệu: Đề thi
Loại: Bộ tài liệu
Loại File: Word + PDF
Phân loại: Tài liệu Tính phí

Bộ đề thi thử THPT Quốc gia 2026 môn Văn - Số 4

Bộ đề thi thử tốt nghiệp THPT 2026 môn Ngữ văn - Số 4 có đáp án được VnDoc.com sưu tầm và xin gửi tới bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết được tổng hợp gồm có 20 mã đề thi. Mỗi đề gồm có 2 phần đọc hiểu và làm văn. Thí sinh làm bài trong thời gian 120 phút. Đề có đáp án và lời giải chi tiết kèm theo. Mời các bạn cùng theo dõi chi tiết đề thi dưới đây để có thêm tài liệu ôn thi kì thi THPT Quốc gia sắp tới nhé.

Đề thi thử tốt nghiệp môn Ngữ văn - Đề 1

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản:

LỜI HỨA CỦA THỜI GIAN

Tóm tắt bối cảnh: Ông Miêng là một người lính. Sau chiến tranh, ông đem vợ lên sống ở vùng đồi nơi đồng đội đã hy sinh. Họ sống cuộc đời lặng lẽ với nguyện ước trồng thông phủ kín những ngọn đồi để tưởng nhớ đồng đội. Vợ ông sinh con nhưng đứa trẻ không thành người, chết ngay khi vừa mới sinh, vì ông đã nhiễm chất độc màu da cam. Đứa bé được an táng trên đồi thông. Người vợ vì ám ảnh và không chịu nổi cảnh sống cô quạnh nên đã bỏ đi. Ông lại cô đơn, chỉ còn con trâu già làm bạn và tiếp tục trồng thông. Hoa – cô y tá từng chăm sóc khi ông ốm – đến thăm và hai người dần trở nên thân thiết. Giữa họ nảy nở một tình cảm chân thành nhưng bi kịch lại đến, Hoa bị mìn nổ chết khi đang cuốc đất trồng cây. Từ đó, ông Miêng gắn bó trọn đời với vùng đồi này. Nhiều năm trôi qua, một chàng trai trẻ xuất hiện, tự xưng là con ông, báo tin rằng mẹ mình trước khi mất bảo anh đi tìm cha.

Chàng trai mở túi lấy một bọc vải nhỏ và mở ra. Trong đó là một chiếc nhẫn. Ông Miêng nhận ra chiếc nhẫn đó. Chàng trai lấy chiếc nhẫn đưa cho ông Miêng.

- Trước khi mất, má đưa chiếc nhẫn cho con và nói con phải đi tìm ba. Đến lúc đó, con mới biết ba con là ai và ở đâu.

- Má cậu nói gì nữa không?

- Má nói, má đã phản bội ba, không phải vì má không yêu ba mà là má quá sợ.

- Má cậu sợ cái gì? - Ông Miêng hỏi.

- Con cũng hỏi má vậy, nhưng má không bao giờ nói cho con hay.

- Lâu nay má con cậu sống ở đâu?

- Dạ, ở Nha Trang. - Chàng trai đáp giọng đầy nước mắt.

- Má con cậu sống với ai?

- Chỉ hai má con thôi. - Chàng trai nói - Từ lúc sinh ra con chỉ biết có má.

Nói xong, chàng trai nhìn ông Miêng vừa sợ vừa chờ đợi. Hai người ngồi im lặng. Mặt ông Miêng bất động.

- Trước khi má mất, - chàng trai nói - má bắt con hứa là phải tìm được ba. Má nói con thay má tạ lỗi ba và mong ba tha lỗi cho má để má được thanh thản nơi chín suối. Má nói con phải đến đây và sống với ba hết đời. Ba sẽ che chở cho con.

Ông Miêng nhìn gương mặt non nớt, trong sáng và tội nghiệp của chàng trai. Lòng ông nhói đau. Ông biết chàng trai không phải con ông. Vì ông không bao giờ sinh được một đứa con lành lặn. Ông cũng chợt hiểu người đàn ông đã lừa dụ vợ ông và cũng đã ruồng bỏ người đàn bà ấy cùng hòn máu của mình.

“Ba sẽ che chở cho con”. Giọng nói nức nở và như một lời cầu nguyện của chàng trai vang trong lòng ông. Và hơn thế, người đàn bà, vợ ông, đã quá yêu thương đứa con mình và cầu ông che chở cho một con người. Thấy ông ngồi bất động, chàng trai lại khóc và nói:

- Ba ơi, má mất rồi...

“Ba ơi!”, ông lẩm bẩm như người ngủ mê, nhắc lại tiếng gọi của chàng trai.

- Ba hãy thứ lỗi cho má - Giọng chàng trai đã khản - Ba cho con về ở với ba. Ba đừng bỏ con.

Ông Miêng nhìn chàng trai. Nếu lúc này ông nói ra sự thật với chàng trai thì có nghĩa ông đập tan mọi hy vọng và sự chờ đợi của nó. Và nghĩa là, ông không chấp nhận lời cầu xin của một người đàn bà tội nghiệp trong cơn hấp hối. Và cũng chính lúc này, sự xuất hiện của chàng trai lại làm ông thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Nếu bây giờ chàng trai bỏ đi, ông sẽ gục ngã không thể đứng lên được bởi chính sự cô đơn mà bấy lâu nay ông cố vùng vẫy chống chọi. Khi chỉ có mình ông, ông không nhìn thấy hết sự cô đơn. Nhưng khi có một con người khác đứng trước mặt ông, ông mới nhìn thấy toàn bộ sự cô đơn khổng lồ của mình. Lúc này nhìn ông như một người cổ xưa, không tuổi tác và lặng phắc như đá. Bỗng từ trên những đỉnh đồi gió ào ạt đổ về. Ngọn gió lớn cuồn cuộn thổi qua hai người. Trong tiếng gió vọng lên những tiếng thì thầm bất tận. Ông Miêng chống gối đứng dậy. Ông bước đến trước chàng trai. Chàng trai đỡ lấy ông. Ông thấy hơi người ấm rực từ chàng trai phả vào cơ thể ông đang run lên như một cơn sốt rét. Ông quờ tay ôm lấy chàng trai và kêu lên như một tiếng rên.

(Trích Lời hứa của thời gian, Nguyễn Quang Thiều, https://baovannghe.vn, 28/07/2024)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Khi cảm nhận được hơi người ấm rực từ chàng trai, ông Miêng đã có phản ứng ra sao?

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau: Lúc này nhìn ông như một người cổ xưa, không tuổi tác và lặng phắc như đá.

Câu 4. Nêu vai trò của chi tiết Bỗng từ trên những đỉnh đồi gió ào ạt đổ về. Ngọn gió lớn cuồn cuộn thổi qua hai người. Trong tiếng gió vọng lên những tiếng thì thầm bất tận trong việc thể hiện nội dung văn bản.

Câu 5. Qua số phận của các nhân vật, anh/chị suy nghĩ như thế nào về hệ lụy của chiến tranh đối với con người và xã hội?

II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lí của nhân vật ông Miêng khi đối diện với chàng trai tự nhận là con mình trong văn bản ở phần Đọc hiểu.

Câu 2. (4,0 điểm)

“Lòng vị tha không chỉ giúp chúng ta tha thứ cho người khác mà còn giúp chúng ta giải thoát cho chính mình.” (Đức Đạt Lai Lạt Ma)

Từ nhận định trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lòng vị tha trong đời sống.

Đề thi thử tốt nghiệp môn Ngữ văn - Đề 2

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản:

Cháu bé chào đời trong lòng đất

Một đêm khác trong địa đạo. Lại những giấc ngủ mê mệt sau một ngày chịu đựng bom đạn. Bỗng có tiếng hét to: “Có ai là bác sĩ ở đây không? Cứu với, cứu với!”. Tôi choàng dậy. Bóng một người đàn ông cầm một ngọn đèn dầu leo lét, giọng Quảng Trị nghẹn ngào: “Đoàn ơi! Cứu chúng tôi với! Vợ tôi đau đẻ đã hai ngày nay. Chắc là sắp đi rồi”, rồi bật lên tiếng khóc rất to. Chơn, phó thu thanh của đoàn, và tôi dò dẫm theo bước chân anh ta. Địa đạo Vĩnh Linh chằng chịt hào ngang hào dọc, hầm nối tiếp hầm, thực là lạc vào một mê cung trong lòng đất. Tiếng rên khe khẽ rõ dần, bóng tối vẫn mịt mùng vây quanh. Tôi lấy tay sờ. Một phụ nữ đang nằm, bụng căng cứng, người lạnh ngắt, lố nhố bóng nhiều người sau lưng tôi. Để lấy không khí cho người sắp đẻ, tôi hét lên: “Nấu cho tôi một nồi nước”. Mọi người tản ra. Tôi bắt đầu dặn: “Chị nín thở rồi rặn thật mạnh” - “Trời ơi đau lắm, không rặn được”. Là lần sinh nở đầu tiên, chị không biết cách rặn. Tôi kiên trì khuyên nhủ, nhưng thực ra là tiếng hét của tôi lẫn vào tiếng khóc của người đàn bà đang đau đớn kia... Đến khi áo tôi ướt đẫm mồ hôi, gần đuối sức thì cũng là lúc đầu em bé nhô ra. Một tiếng oe oe đầu tiên òa lên. Người chồng bỗng khóc rống lên. Lo cho hai mẹ con xong, chúng tôi lại dò dẫm trở về gian hầm của mình. Không ngờ, Joris và Marceline vẫn chưa ngủ và đang chờ chúng tôi ở cửa hầm. Tôi vừa mệt vừa vui: “Ca va” (được rồi). Marceline ôm tôi vào lòng. Bỗng trong địa đạo vang lên tiếng tôi quát tháo ầm ĩ, tiếng khóc của người mẹ, tiếng lao xao của những người đứng gần sản phụ. Rồi bật vang lên tiếng khóc oe oe của đứa trẻ sơ sinh, hòa với tiếng khóc nức nở của người cha. Trong lúc tôi vô cùng bấn loạn vì trường hợp đỡ đẻ không đèn, không phương tiện cấp cứu, không nhìn rõ mặt sản phụ thì Chơn đã mở máy thu hết những tiếng động này. Trong căn hầm, mọi người đã tỉnh dậy, quây quần bên chiếc máy ghi âm. Joris đặt tay lên vai tôi: “Các bạn hiểu tại sao tôi yêu suốt đời cái nghề làm phim chiến trường không? Giữa cái Chết và cái Sống, chúng ta có hạnh phúc, có may mắn ghi được sự sống ngay cả trong lòng đất, ngay cả khi cái chết cận kề”. Riêng tôi, tôi không quên được hình ảnh hai ông bà Ivens đã thức đợi suốt đêm, đã lo lắng cho số phận của một em bé sinh trong địa đạo. Hai ngày sau, người cha đem biếu đoàn mấy củ khoai mì. Anh cầm tay tôi: “Tui cảm ơn O không kể xiết. Xin O đặt tên cho con trai tôi” - “Tôi xin đặt tên cháu là Nguyễn Xuân Phượng, là tên của tôi”. Bốn mươi năm sau, trở lại Vĩnh Linh, tôi cố gắng đi tìm Nguyễn Xuân Phượng, năm 2007 sẽ là một người đàn ông bốn mươi tuổi. Ủy ban Vĩnh Linh, Đài phát thanh truyền hình Quảng Trị, tờ báo Quảng Trị cũng gắng tìm cho tôi. Nhưng suốt thời gian đoàn quay phim ở lại, rồi mò ra tận Quảng Bình vẫn không thể tìm được cháu trai mà tôi đã đỡ đẻ trong địa đạo. Cuộc đời xoay chuyển nhiều, chiến tranh bom đạn nhiều, không biết số phận cháu ấy và bố mẹ cháu ra sao.

(Gánh gánh... gồng gồng... - Xuân Phượng, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2024, tr.160-161)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định không gian và hoàn cảnh của câu chuyện được kể trong văn bản.

Câu 2. Chỉ ra hai chi tiết cụ thể trong văn bản thể hiện tính phi hư cấu của hồi kí.

Câu 3. Phân tích thái độ của người kể chuyện “tôi” được thể hiện qua những câu văn sau:

“Đến khi áo tôi ướt đẫm mồ hôi, gần đuối sức thì cũng là lúc đầu em bé nhô ra. Một tiếng oe oe đầu tiên òa lên. Người chồng bỗng khóc rống lên.”

Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong những câu văn sau:

“Rồi bật vang lên tiếng khóc oe oe của đứa trẻ sơ sinh, hòa với tiếng khóc nức nở của người cha. Trong lúc tôi vô cùng bấn loạn vì trường hợp đỡ đẻ không đèn, không phương tiện cấp cứu, không nhìn rõ mặt sản phụ thì Chơn đã mở máy thu hết những tiếng động này.”

Câu 5. Từ hình ảnh em bé chào đời giữa bom đạn, anh/chị hãy nêu một bài học về ý nghĩa của hòa bình và trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay. (Trả lời khoảng 5-7 dòng)

II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của anh/chị về một chi tiết tiêu biểu trong văn bản Cháu bé chào đời trong lòng đất mà anh/chị cho là có ý nghĩa nhất trong việc thể hiện giá trị nhân văn của tác phẩm.

Câu 2. (4,0 điểm)

Từ câu chuyện một em bé chào đời giữa bom đạn trong địa đạo, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về: Ý nghĩa của niềm tin vào sự sống và tình người trong những hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc đời.

Mời các bạn cùng tải về bản DOC hoặc PDF để xem đầy đủ nội dung

Chọn file muốn tải về:
Đóng Chỉ thành viên VnDoc PRO/PROPLUS tải được nội dung này!
Đóng
79.000 / tháng
Đặc quyền các gói Thành viên
PRO
Phổ biến nhất
PRO+
Tải tài liệu Cao cấp 1 Lớp
30 lượt tải tài liệu
Xem nội dung bài viết
Trải nghiệm Không quảng cáo
Làm bài trắc nghiệm không giới hạn
Mua cả năm Tiết kiệm tới 48%
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
Sắp xếp theo