Đề thi giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 5 Chân trời sáng tạo - Đề số 3
Đề thi giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 5 Chân trời sáng tạo có đáp án - Đề số 3 dưới đây là tài liệu ôn tập giúp các em ôn luyện các kĩ năng làm bài kiểm tra để chuẩn bị cho kì thi giữa học kì 2 lớp 5. Đề thi giữa kì 2 lớp 5 này có đáp án soạn theo Thông tư 27.
Giới thiệu về tài liệu:
- Số trang: Gồm 8 trang (có đáp án)
- Nội dung: Bám sát chương trình giữa kì 2 lớp 5 môn Tiếng Việt sách Chân trời sáng tạo
- File tải: Gồm file Word và file PDF.
Đề thi giữa kì 2 môn Tiếng Việt lớp 5 Chân trời sáng tạo
Đề thi giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 5 Chân trời sáng tạo
A. Kiểm tra đọc
I. Đọc thành tiếng
GV cho học sinh đọc một đoạn trong các bài tập đọc và trả lời một số câu hỏi về nội dung đoạn vừa đọc theo quy định.
II. Đọc thầm văn bản sau:
Một ước mơ
Hồi nhỏ, tôi rất thích đi học và tất cả những gì thuộc về nó: lớp học, bảng đen, sách vở, những người bạn, tiếng giảng bài của thầy cô, ... Và luôn ao ước sẽ có một ngày, tôi tự hào giương cao tấm bằng tốt nghiệp trong niềm vui sướng và ánh mắt mừng vui của mọi người.
Nhưng tôi là con một gia đình nghèo, đông anh em. Tôi phải quyết định nghỉ học và xin làm việc trong một tiệm bánh. Từ đó ước mơ của tôi cũng lụi tàn dần.
Lớn lên, như bao người phụ nữ khác, tôi lấy chồng, sinh con. Tôi quyết tâm không để các con mình thất học, phải sống khổ sở như tôi. Và hai vợ chồng tôi đã làm việc cật lực để nuôi dạy các con thành tài.
Duy chỉ có cô con gái út Lin-đa là có vấn đề. Lin-đa từ nhỏ đã ốm yếu, khó nuôi, nên ít có trường nào nhận dạy bé lâu dài. Không đành lòng nhìn con đi theo vết xe đổ của mình, tôi bắt đầu hỏi thăm và tìm hiểu. Cuối cùng, tôi cũng kiếm được trường, đăng kí không chỉ cho Lin-đa mà còn cho cả tôi cùng học nữa. Tôi muốn ở bên cạnh con, giúp đỡ nó và sâu xa hơn là tiếp tục thực hiện giấc mơ của mình.
Thật là thú vị khi lại được đến trường. Nhưng cũng không dễ dàng chút nào khi ở tuổi 58, tôi phải vừa làm công việc nhà, vừa đánh vật với những con số. Hai mẹ con tôi luôn động viên, an ủi và giúp đỡ nhau trong học tập. Cứ thế cho đến ngày chúng tôi tốt nghiệp.
Thật không ngờ, đến cuối đời, tôi mới được sống cho mình, cho hạnh phúc và ước mơ của mình. Có lẽ hơi trễ một chút nhưng tôi nhận ra một điều: đừng bao giờ chôn vùi những ước mơ! Hãy vững tin rằng, một ngày mai ta sẽ biến chúng thành hiện thực. Không cần phải nhờ vào những điều kì diệu ở đâu xa, mà tất cả những gì ta đạt được hôm nay là do sự phấn đấu không ngừng, và quyết tâm không từ bỏ niềm mơ ước trong lòng mỗi chúng ta. Quả thật, sẽ không bao giờ là quá muộn để bạn bắt đầu một giấc mơ!
(Theo Đặng Thị Hòa)
Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:
Câu 1. Tác giả trong câu chuyện có ước mơ gì?
A. Được mọi người khen ngợi.
B. Được làm việc trong tiệm bánh.
C. Được đi học và tốt nghiệp.
D. Nuôi dạy các con thành tài.
Câu 2. Dựa vào nội dung bài đọc, hãy xác định những điều dưới đây đúng hay sai. Đúng ghi Đ; sai ghi S:
| Thông tin | Trả lời |
| Vì gia đình nghèo, đông anh em nên tác giả quyết định đi học để giúp đỡ gia đình. | |
| Tác giả quyết tâm lao động cật lực để nuôi dạy các con thành tài. | |
| Tác giả muốn ở bên cạnh con, giúp đỡ và tiếp tục thực hiện giấc mơ của mình. | |
| Khi tiếp tục đi học, tác giả thấy rất dễ dàng vì đi học rất thú vị. |
Câu 3. Vì sao tác giả lại muốn đi học khi tuổi không còn trẻ nữa?
Câu 4. Những chi tiết nào nói đúng và đủ sự khó khăn của tác giả khi đi học cùng con?
A. Không có trường nào nhận, bắt đầu hỏi thăm và đi tìm hiểu về trường.
B. Tìm trường học cho con, đăng kí cho con và mình cùng học.
C. Ở bên cạnh con, giúp đỡ, động viên con, học bài của mình.
D. An ủi, giúp đỡ con, tuổi cao, vừa làm việc nhà, vừa học bài của mình.
Câu 5. Câu chuyện muốn nói với em điều gì?
A. Đừng bao giờ chôn vùi những ước mơ. Nếu quyết tâm và nỗ lực phấn đấu thì ta sẽ đạt được điều ta mơ ước.
B. Thật hạnh phúc khi ta thực hiện được những ước mơ từ nhỏ của mình.
C. Hãy mơ mộng một chút cho cuộc đời thêm tươi đẹp vì điều đó có thể xảy ra.
D. Hãy vững tin rằng, một ngày mai ước mơ của ta sẽ thành hiện thực.
Câu 6. Cảm nhận của em về người mẹ trong câu chuyện trên.
Câu 7. Trong các câu sau câu nào là câu ghép?
A. Hồi nhỏ, tôi rất thích đi học.
B. Tôi là con một gia đình nghèo, đông anh em.
C. Tôi phải quyết định nghỉ học và tôi xin làm việc trong một tiệm bánh.
D. Hai mẹ con tôi luôn động viên, an ủi và giúp đỡ nhau trong học tập.
Câu 8. Thêm kết từ và vế câu vào chỗ chấm để tạo câu ghép và cho biết các vế câu ghép nối với nhau bằng cách nào?
..................................................................................................... nên tôi được cô giáo khen.
Các vế câu ghép nối với nhau bằng:..........................................................................................
Câu 9. Trong hai câu văn sau: “Hai mẹ con tôi luôn động viên, an ủi và giúp đỡ nhau trong học tập. Cứ thế cho đến ngày chúng tôi tốt nghiệp.” Câu in đậm liên kết với câu đứng trước bằng cách nào?
A. Bằng cách lặp từ ngữ.(Từ ngữ lặp lại là:...........)
B. Bằng cách dùng từ có tác dụng nối. (Từ nối là…………)
C. Bằng cách thay thế từ ngữ. (Từ ngữ ..........….. ở câu 2 thay thế cho.............…………...ở câu 1)
D. Bằng cách lặp từ ngữ và dùng từ ngữ nối. (Từ lặp lại là: ……….; Từ nối là:…)
Câu 10. Trong vai con gái út Lin-da, em hãy viết một câu ghép có sử dụng kết từ nối các vế câu để nói với mẹ trong buổi lễ tốt nghiệp.
B. Kiểm tra viết
Đề bài: Viết bài văn tả một cô giáo mà em yêu quý.
Đáp án Đề thi giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 5 Chân trời sáng tạo
...
>> Xem trong file TẢI VỀ!
Gợi ý thêm: