Soạn bài Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ

1 516

Soạn bài Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ là tài liệu tham khảo được VnDoc.com sưu tầm, giúp bạn củng cố kiến thức về cách nhận biết, phân biệt và sử dụng hai biện pháp tu từ này sao cho hiệu quả. Mời bạn tham khảo.

1. Soạn bài: Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ mẫu 1

1.1. Ẩn dụ

Câu 1 (trang 135 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

a. Trong hai câu ca dao, các từ thuyền, bến, cây đa, con đò,…không chỉ mang nghĩa gọi tên sự vật tồn tại trong hiện thực mà con mang ý nghĩa hoàn toàn khác.

+ Thuyền, con đò: tượng trưng cho hình ảnh người ra đi.

+ Bến, cây đa: tượng trưng cho hình ảnh người ở lại.

b.

- Về ý nghĩa hiện thực: các từ thuyền, bến ở câu (1) và cây đa bến cũ, con đò ở câu (2) có sự khác nhau.

- Về ý nghĩa biểu trưng: các hình ảnh này đều mang ý nghĩa hàm ẩn chỉ người đi – kẻ ở, liên tưởng đến những người có quan hệ tình cảm gắn bó nhưng phải xa nhau.

=> Ý nghĩa câu (1) lời ước hẹn thủy chung, son sắt. Câu (2) là lời than tiếc vì lỗi hẹn.

Câu 2 (trang 135 - 136 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

 

Hình ảnh ẩn dụ

Ý nghĩa

(1)

Lửa lựu

Vẻ đẹp rực rỡ của cây lựu, sức sống mãnh liệt của mùa hè

(2)

- Làm thành người

- Thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè phỡn…co rúm lại.

- Là quá trình nên người để nhận biết đúng đắn về cuộc sống

- Phê phán thứ văn nghệ xa rời thực tế, nghèo nàn, thiếu sáng tạo

(3)

Giọt long lanh

- Giọt âm thanh tiếng chim (ẩn dụ chuyển đổi cảm giác) báo hiệu mùa xuân về

(4)

- Thác

- chiếc thuyền

- Chỉ những khó khăn, vất vả, thử thách

- Con đường cách mạng – con đường của cả nước non mình.

(5)

- Phù du

- Phù sa

- Cuộc đời nổi trôi, ngắn ngủi, tạm bợ.

- Cuộc sống sung sướng, hạnh phúc.

Câu 3 (trang 136 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

- Cô ấy có vẻ đẹp thật là mặt hoa, da phấn.

- Anh ấy luôn là người đứng mũi chịu sào.

1.2. Hoán dụ

Câu 1 (trang 136 - 137 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

a.

- Hình ảnh “đầu xanh” và “má hồng”: chỉ người con gái trẻ, đẹp.

- Cả hai từ này đều dùng để ám chỉ nhân vật Thúy Kiều.

- Áo nâu: chỉ người lao động nông thôn.

- Áo xanh: chỉ người công nhân ở thành thị.

b. Để hiểu được đúng đối tượng khi nhà thơ thay đổi tên gọi của đối tượng, muốn hiểu cần dựa vào mối quan hệ tương đồng giữa hai sự vật, hiện tượng.

- Quan hệ giữa bộ phận với tổng thể.

- Quan hệ giữa bên ngoài với bên trong.

Câu 2 (trang 137 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

a.

- Hình ảnh hoán dụ: thôn Đoài và thôn Đông chỉ người thôn Đoài và người thôn Đông.

- Hình ảnh ẩn dụ: cau – trầu: chỉ tình cảm những người đang yêu.

=>Hai câu thơ là lời tỏ tình thú vị.

b. Liên tưởng về nỗi nhớ người yêu trong câu ca dao “Thuyền ơi…” có phần truyền thống, môtip còn liên tưởng về nỗi nhớ trong thơ Nguyễn Bính có phần mới mẻ diễn tả trạng thái mơ hồ, lấp lửng.

Câu 3 (trang 137 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Ví dụ :

- Nhà có mỗi bốn miệng ăn, vậy mà vợ chồng nó lúc nào cũng ngược xuôi vất vả.

- Người ta bốn chục tuổi đầu đã có nhà cao cửa rộng. Đằng này đã ngoài bốn chục mà nó cứ vẫn nhởn nhơ phè phỡn như không. Sáng sáng, nó ngủ dậy, phi xe ra ngoài phố, ăn bát phở mà có khi đến tận mười giờ. Ăn xong lại rong ruổi đi các phố. Người ta bảo nó là một tay chơi…Khổ thân nhất là bà già nhà nó. Lá vàng sắp rụng đến nơi mà vẫn phải khòng lưng quẩy gánh hàng ngày kiếm vài ba chục để nuôi kẻ đầu xanh.

2. Soạn bài: Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ mẫu 2

2.1. Kiến thức cơ bản

Nhớ lại những điều cơ bản về ẩn dụ và hoán dụ

a. Ẩn dụ

Là phép tu từ nghệ thuật được xây dựng dựa trên cơ sở những nét liên tưởng tương đồng.

b. Hoán dụ

Là phép tu từ nghệ thuật được xây dựng dựa trên cơ sở những nét liên tưởng tương cận (sự gần gũi nhau giữa hai sự vật, hiện tượng).

c. Ẩn dụ và hoán dụ

Đều được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng nhưng cơ chế tạo lập có khác nhau (liên tưởng tương đồng và liên tưởng tương cận).

2.2. Rèn kỹ năng

2.2.1. Trong hai câu ca dao, các từ thuyền, bến, cây đa, con đò,... đúng là những từ không chỉ mang nghĩa gọi tên sự vật tồn tại trong hiện thực (thuyền, bến,...) mà còn mang nội dung ý nghĩa hoàn toàn khác. Các hình ảnh thuyền (con đò) - bến (cây đa) lần lượt tạo nên ý nghĩa tượng trưng cho hình ảnh người ra đi và người ở lại. Chính vì vậy câu (1) trở thành lời thề ước, hứa hẹn, nhắn nhủ về sự thủy chung. Câu (2) trở thành lời than tiếc vì thề xưa "lỗi hẹn".

Các từ thuyền, bến ở câu (1) và cây đa bến cũ, con đò ở câu (2) có sự khác nhau nhưng chỉ là khác ở nội dung ý nghĩa hiện thực (chỉ sự vật). Xét về ý nghĩa biểu trưng, chúng là những liên tưởng giống nhau (đều mang ý nghĩa hàm ẩn chỉ người đi - kẻ ở). Để hiểu đúng ý nghĩa hàm ẩn này, thông thường chúng ta giải thích rằng: Các sự vật thuyền - bến - cây đa, bến cũ - con đò là những vật luôn gắn bó với nhau trong thực tế. Vì vậy chúng được dùng để chỉ "tình cảm gắn bó keo sơn" của con người. Bến, cây đa, bến cũ mang ý nghĩa hiện thực chỉ sự ổn định, vì thế nó giúp người ta liên tưởng tới hình ảnh người phụ nữ, tới sự chờ đợi, nhung nhớ, thủy chung. Ngược lại thuyền, con đò thường di chuyển không cố định nên được hiểu là người con trai, hiểu là sự ra đi. Có nắm được quy luật liên tưởng như vậy, chúng ta mới hiểu đúng ý nghĩa của các câu ca dao trên.

2.2.2. a) Trong câu thơ

Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông.

Nhà thơ Nguyễn Du đã dùng hai hình ảnh chim đỗ quyên và hoa lựu để cùng biểu đạt ý nghĩa: Mùa hè đã đến. Cả hai hình ảnh này đều là những dấu hiệu báo hè (chim đỗ quyên kêu và hoa lựu nở đều vào thời điểm mùa hè). Vì thế nhìn vào hai dấu hiệu ấy, người ta có thể nghĩ ngay đến sự khởi đầu của mùa hè. Lửa lựu còn gợi liên tưởng đến sức ấm nóng của mùa hè.

- Chú ý: Thực ra hai hình ảnh chim quyên và hoa lựu nở cũng có thể hiểu là hai hoán dụ. Bởi mùa hè - chim quyên - hoa lựu đều có thực và gắn bó chặt chẽ với nhau trong thực tế (nghĩa là chúng có mối liên hệ tương cận với nhau). Như vậy chỉ có hình ảnh lửa lựu (sức nóng của mùa hè) ở trong câu này là được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng tương đồng "thực sự" mà thôi.

b) Vứt đi những thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè phỡn thoả thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩn vài tình cảm gầy gò của cá nhân co rúm lại. Chúng ta muốn có những tiểu thuyết, những câu thơ thay đổi được cả cuộc đời người đọc – làm thành người, đẩy chúng ta đến một sự sống trước kia chỉ đứng xa nhìn thấp thoáng.

Cụm từ "làm thành người" là một ẩn dụ được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng về cách thức. Từ "làm thành" thường dùng để chỉ quá trình thực hiện một việc gì đó (từ chưa được đến được, từ chưa tốt đến tốt...) Quá trình nhận thức của con người cũng diễn ra như vậy. Do đó làm thành người cũng hiểu là nên người - nghĩa là biết nhận thức đúng đắn về cuộc sống.

c) Ơi con chim chiền chiện – Hót chi mà vang trời – Từng giọt long lanh rơi – Tôi đưa tay tôi hứng

Đoạn thơ này cũng giống hai câu thơ của Nguyễn Du. Ở đây, hình ảnh chim chiền chiện, giọt sương rơi (giọt long lanh) là những dấu hiệu báo mùa xuân đến. Ẩn dụ này được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng dấu hiệu đặc trưng - mùa.

d) Thác bao nhiêu thác cũng qua – Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời

Câu thơ có hai hình ảnh ẩn dụ: Thác - chỉ những khó khăn vất vả, những thử thách. Chiếc thuyền - chỉ con đường cách mạng, chỉ con đường của cả nước non mình.

Câu thơ xây dựng hình ảnh ẩn dụ dựa trên những liên tưởng có thực (thác - khó khăn, con thuyền - sức vượt qua) để nói lên sức sống và sức vươn lên mãnh liệt của cả dân tộc chúng ta.

e) Câu thơ cũng có hai hình ảnh ẩn dụ: Phù du (liên tưởng đến cuộc đời nổi trội, ngắn ngủi) và phù sa (cuộc sống sung sướng, hạnh phúc, ấm no). Có liên tưởng này vì phù du là một loài côn trùng có cuộc đời ngắn ngủi, trái lại phù sa là "chất dinh dưỡng" tốt nuôi sống cây trái trên đồng. Dùng hai hình ảnh ẩn dụ này, nhà thơ Chế Lan Viên muốn so sánh cuộc đời xưa và nay. Từ đó mà khẳng định giá trị và ý nghĩa nhân văn của cuộc sống hôm nay.

2.2.3. Ví dụ một số câu văn có dùng phép ẩn dụ

a) Tôi đang nói đến cuộc sống đau thương và không hiểu sao, tôi lại nghĩ ngay đến "các vị la Hán chùa Tây Phương" của nhà thơ Huy Cận.

b) Đất trời trở mình sang mùa, đã thấy cái lành lạnh của gió.

c) Ông Tư vẫn ngồi đó. Ông đang nhớ về cái đêm tối tăm nhất của đời ông.

2.2.4. a) Đầu xanh đã tội tình gì - Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi

Nhà thơ Nguyễn Du dùng từ đầu xanh với ý nghĩ chỉ tuổi trẻ, từ má hồng với ý nghĩ chỉ người con gái đẹp, một mĩ nhân. Cả hai từ này đều dùng để ám chỉ nhân vật Thúy Kiều. Cũng như vậy, Tố Hữu dùng cụm từ áo nâu, áo xanh (Áo nâu liền với áo xanh – Nông thôn liền với thị thành đứng lên) để chỉ hai lớp người trong xã hội: nông dân và công nhân. Trong cả hai trường hợp này, các nhà thơ đã dùng những từ chỉ bộ phận của cơ thể (đầu, má) hay chỉ những trang phục quen dùng (áo xanh, áo nâu) để chỉ con người. Cách gọi tên này chẳng những tránh được sự nhầm nhọt, mòn sáo mà còn đem lại niềm vui thích và gợi ra những tình ý sâu xa.

b) Trong trường hợp, khi chúng ta gặp phải một đối tượng đã bị tác giả thay đổi cách gọi tên, để hiểu đúng được đối tượng ấy, chúng ta phải chú ý xem tác giả đã chọn cái gì để thay thế các đối tượng ấy. Cái được tác giả chọn để thay thế thường là một bộ phận, một tính chất, một đặc điểm nào đó... tiêu biểu. Phương thức chuyển đổi nghĩa này là phép tu từ hoán dụ. Nó giúp cho việc gọi tên sự vật, hiện tượng... trở nên phong phú, sinh động và hấp dẫn hơn. Các trường hợp này đều là hoán dụ tu từ.

2.2.5. Nguyễn Bính viết

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?

Trong câu thơ này, hai hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông là hai hình ảnh hoán dụ dùng để chỉ "người thôn Đoài" và "người thôn Đông". Còn hai hình ảnh cau thôn Đoài và trầu không thôn nào lại là những ẩn dụ dùng để chỉ những người đang yêu.

Hai câu thơ là một lời tỏ tình thú vị. Đích của lời nói tuy vẫn hướng về người yêu. Thế nhưng cách nói bâng quơ theo kiểu ngôn ngữ tỏ tình của trai gái đã tạo ra một sự thích thú đặc biệt cho những người tiếp nhận nội dung của câu thơ.

Cùng là bày tỏ nỗi nhớ người yêu nhưng nếu câu ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng...? sử dụng những liên tưởng có phần mòn sáo thì câu thơ của Nguyễn Bính (Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông) lại có những liên tưởng vô cùng mới mẻ. Những liên tưởng này tạo ra nét đẹp riêng và sự thích thú, hấp dẫn cho mỗi câu thơ.

2.2.6. Ví dụ một số câu văn có dùng phép tu từ hoán dụ

a) Trước Cách mạng tháng Tám, nông dân của ta đều là những Chị Dậu, Lão Hạc, anh Pha cả.

b) Nhà nó có mỗi bốn miệng ăn. Vậy mà vợ chồng nó lúc nào cũng ngược xuôi vất vả.

c) Người ta ba bốn chục tuổi đầu đã có nhà cao cửa rộng. Đằng này, đã ngoài bốn chục mà nó vẫn cứ nhởn nhơ phè phỡn như không. Sáng sáng, nó ngủ dậy, phi xe ra ngoài phố, ăn bát phở mà có khi đến tận mời giờ. Ăn xong lại rong ruổi đi các phố. Người ta bảo nó là một tay chơi. Tôi chẳng biết, chỉ biết cờ bạc, rượu chè, lô đề,...nó đều thông thạo cả. Khổ thân nhất là bà già nhà nó. Lá vàng sắp rụng đến nơi mà vẫn phải khòng lưng quẩy gánh ngày ngày kiếm vài ba chục để nuôi kẻ đầu xanh.

Trên đây VnDoc.com đã giới thiệu tới các em học sinh bài: Soạn bài Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ. Chúng tôi xin giới thiệu thêm tới các bạn học sinh tài liệu Đề thi học kì 1 lớp 10, Soạn bài lớp 10, Học tốt Ngữ văn 10, Tài liệu học tập lớp 10 mà VnDoc tổng hợp và đăng tải để đạt kết quả cao trong học tập.

Ngoài ra, nhằm giúp các bạn ôn tập và củng cố kiến thức hiệu quả hơn, mời các bạn cùng tham khảo các tài liệu sau đây:

Đánh giá bài viết
1 516
Soạn bài lớp 10 Xem thêm