Bếp lửa của Bằng Việt – Bồi dưỡng HSG Ngữ Văn 9

Bếp lửa của Bằng Việt

Bếp lửa của Bằng Việt – Bồi dưỡng HSG Ngữ Văn 9 được VnDoc.com sưu tầm và đăng tải. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp ích cho các bạn trong quá trình làm bài văn lớp 9. Mời các bạn tải về tham khảo

1.Bài thơ Bếp lửa được Bằng Việt sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật tại Liên Xô. Mạch cảm xúc của bài thơ là từ hình ảnh bếp lửa “chờn vờn sương sớm”, gợi nhớ về bà cùng những kỉ niệm giữa hai bà cháu trong những năm tháng kháng chiến, từ đó suy ngẫm về cuộc đời bà, về giá trị thiêng liêng của những tình cảm gia đình, kỉ niệm tuổi thơ.

Theo mạch cảm xúc ấy, bài thơ có bố cục theo mạch tâm trạng của nhân vật trữ tình (người cháu), từ gợi lại những kỉ niệm quá khứ đến hiện tại, từ hồi tưởng đến suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.

2. Bếp lửa – hình ảnh gợi những hồi tưởng về bà và tình bà cháu: Mở đầu bài thơ là hình ảnh “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm – Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”. Bếp lửa là hình ảnh đầu tiên hiện về trong kí ức, là điểm sáng gợi nhớ, gợi thức dậy bao nhiêu hình ảnh trong kí ức về tuổi thơ, về bà và tình bà cháu. Hình ảnh bếp lửa gợi về hình ảnh bà, luôn gắn với hình ảnh bà, bởi thế sẽ được trở đi trở lại nhiều lần trong bài thơ, trở thành một biểu tượng về bà, về cuộc đời bà. Ta hiểu vì sao bài thơ viết về bà, về kỉ niệm tình bà cháu lại được tác giả đặt tên là Bếp lửa.

3. Hình ảnh người bà và những kỉ niệm về tình bà cháu:

Từ hình ảnh bếp lửa gọi lên kỉ niệm những năm tháng sống bên bà của người cháu, đó là những năm tháng đầy gian khó của hai bà cháu, cũng là của cả đất nước. Đấy là nạn đói khủng khiếp năm 1945 được gợi lên trong kí ức tuổi thơ: “Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi – Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy – Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu – Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”. Trong nạn đói lịch sử ấy, bếp lửa mỗi nhà cũng hiếm khi được cháy lên mà chỉ còn leo lét ngọn khói “hun nhèm mắt cháu” mà đứa cháu “nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”.

Đó còn là kỉ niệm về những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, gia đình cháu cũng như nhiều gia đình Việt Nam khi ấy, phải chịu cảnh xa cách (Mẹ cùng cha công tác bận không về), cháu sống trong sự cưu mang, dạy dỗ của bà [Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học), sớm phải có ý thức tự lập, sớm phải lo toan (Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa). Không thể quên những ngày cơ cực, cam go nhất khi mà giặc đốt làng, cháy tàn cháy rụi cả nếp nhà nhỏ của hai bà cháu, phải nhờ vào bà con làng xóm dựng lại túp lều tranh, vậy mà bà vẫn vững vàng, nghị lực, lại còn dặn dò đứa cháu: “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố – Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ – Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”.

Bếp lửa quê hương lại gợi dẫn đến một hình ảnh khác trong kỉ niệm của những năm tháng cháu sống bên bà: tiếng chim tu hú. Tiếng chim quen thuộc của những cánh đồng quê mỗi độ vào hè, tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết lắm khiến lòng mỗi người trỗi dậy những hoài niệm, nhớ mong. Tiếng chim còn gợi ra tình cảnh vắng vẻ và nỗi nhớ mong của hai bà cháu.

Hình ảnh bà luôn gắn liền với hình ảnh bếp lửa. Trong bài thơ, có tới mười lần tác giả nhắc tói bếp lửa và hiện diện cùng bếp lửa là hình ảnh người bà – người phụ nữ Việt Nam truyền thống với vẻ đẹp tảo tần, nhẫn nại và đầy yêu thương. Bếp lửa là tình bà ấm nóng, bếp lửa là tay bà chăm chút. Bếp lửa gắn với những khó khăn, gian khổ đời bà. Ngày ngày bà nhóm lên bếp lửa cũng là nhóm lên niềm vui, sự sống, niềm yêu thương chi chút dành cho con cháu và mọi người. Chính vì thế mà “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”.

Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể dẫn đến hình ảnh mang ý nghĩa khái quát: ngọn lửa. Bếp lửa không chỉ được nhen lên từ những nhiên liệu bện ngoài mà còn bởi từ “một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn”, một ngọn lửa của sức sống, của tình yêu thương, một niềm tin bất diệt, “một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”. Người bà, người mẹ trong mỗi gia đình không chỉ là người nhóm lên bếp lửa mỗi ngày, mỗi sớm, mỗi chiều mà còn là người giữ ngọn lửa tình thương, niềm tin, niềm vui cho mỗi căn nhà, mỗi gia đình.

Kỉ niệm về tuổi thơ, nguồn động lực cho con người trên hành trình đi xa: Đứa cháu nay đã trưởng thành, đã đi tới những chân trời xa, có thêm nhiều niềm vui mới: “có ngọn khói trăm tàu – Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” nhưng không lúc nào nguôi nhớ về bà và bếp lửa tuổi thơ. Nhớ về bà và bếp lửa cũng là nhớ về gia đình, quê hương, đất nước.

4. Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt chứa đựng ý nghĩa triết lí sâu sắc: những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ đều có sức toả sáng, nâng đỡ con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời. Tình yêu thương và lòng biết ơn với bà chính là một biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, quê hương. Và đó cũng là khỏi đầu của tình người, tình đất nước.

Trên đây VnDoc đã chia sẻ tới các bạn bài Văn mẫu về Bếp lửa của Bằng Việt – Bồi dưỡng HSG Ngữ Văn 9. Tài liệu này khá hay giúp các bạn học sinh ôn tập, rèn luyện chuẩn bị tốt cho kì thi học sinh giỏi lớp 9 sắp tới. Chúc các bạn ôn tập tốt. Mời các bạn tham khảo

.......................................................................

Ngoài Bếp lửa của Bằng Việt – Bồi dưỡng HSG Ngữ Văn 9. Mời các bạn học sinh còn có thể tham khảo thêm Soạn văn 9, soạn bài 9, Soạn văn 9 VNEN, Đề thi học sinh giỏi 9 hoặc đề thi học kì 1 lớp 9, đề thi học kì 2 lớp 9 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì lớp 9 này giúp các bạn rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn. Chúc các bạn học tốt

Đánh giá bài viết
1 175
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn 9 Xem thêm