Phân tích tâm trạng các nhân vật trong Hạnh phúc của một tang gia

Phân tích tâm trạng các nhân vật trong Hạnh phúc của một tang gia là tài liệu lớp 11 hay giúp các bạn học tốt môn Ngữ văn 11, ôn thi tốt nghiệp THPT Quốc gia, luyện thi đại học môn Văn hiệu quả. Mời các bạn cùng tham khảo.

Lưu ý: Nếu không tìm thấy nút Tải về bài viết này, bạn vui lòng kéo xuống cuối bài viết để tải về.

Mời bạn đọc cùng tham gia nhóm Tài liệu học tập lớp 11 để có thêm tài liệu học tập nhé

1. Dàn ý phân tích tâm trạng các nhân vật trong Hạnh phúc của một tang gia

1.1. Dàn ý số 1

a. Mở bài

Giới thiệu vấn đề: Số đỏ là cuốn tiểu thuyết ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học có nó cũng là tác phẩm đặc sắc bậc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng. Trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” tài năng nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng được thể hiện trực tiếp thông qua việc khắc họa tâm trạng và tính cách của từng nhân vật trong câu chuyện.

b. Thân bài

– “Hạnh phúc của một tang gia” thuộc chương V của tiểu thuyết Số đỏ nói về đám ma của cụ cố Tổ.

–> Qua đám ma rình rang, hoành tráng đó tính cách của từng nhân vật dần được bộc lộ.

– Đám ma của cụ cố Tổ diễn ra thật lạ lùng, lạ lùng từ những nghi thức đến thái độ của những thành viên trong gia đình và những người ngoài gia đình.

– Không hề có giọt nước mắt đau khổ, xót thương nào mà ngược lại sự ra đi của cụ cố Tổ còn mang đến hạnh phúc cho tất cả mọi người, nghịch lí này được thể hiện chính trong nhan đề của đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”.

– Tất cả mọi người trong gia đình đều có những niềm vui riêng trước sự ra đi của cụ cố Tổ:

+ Cố Hồng vui vì được diễn vai của người con cả có hiếu, muốn được nghe những lời trầm trồ tán thưởng của bà con trong khu phố về cái phúc của một gia đình đại tư sản rằng khi con trai đã già mà cha mới mất.

+ Văn Minh cảm thấy vui sướng vì cái chúc thư kia cuối cùng cũng đi vào giai đoạn thực hành.

+ Cô Tuyết vui vì được mặc bộ trang phục ngây thơ để khoe với mọi người rằng mình chưa đánh mất chữ trinh

+ Phán Mọc Sừng vui sướng, hạnh phúc vì nhận được khoản tiền kha khá.

+ Cậu Tú Tân vui vì có dịp trổ tài chụp ảnh

– Không những người trong gia đình cảm thấy hạnh phúc mà niềm vui có khả năng lây lan ra tất cả mọi người ngoài gia đình.

+ Những người bạn của gia đình vui vì có dịp khoe các loại râu, các loại huân chương cao quý, đặc biệt hơn họ còn cảm thấy vui vì được ngắm bờ ngực thấp thoáng trong bộ y phục ngây thơ của cô Tuyết.

+ Hai viên cảnh sát Min-đơ, Min-toa thì vui vì được ghi biên bản phạt.

+ Đám thanh niên nam nữ đi đưa tang vui vì được trò chuyện vui vẻ, chim chuột nhau.

+ Người dân hàng phố thì vui vì được “thưởng thức” một đám ma to của gia đình đại tư sản danh giá.

–> Đám ma được tổ chức hoành tráng, nhưng lại mất đi cái trang nghiêm vốn có mà thể hiện đến tận cùng cái lố lăng, thiếu hiểu biết của những người trong gia đình.

c. Kết bài

Thông qua bối cảnh của đám ma, từng lớp mặt nạ của những nhân vật trong truyện được bóc trần, thể hiện đến cùng cái giả dối, giả nhân giả nghĩa của những kẻ tự xưng trí thức, những người thuộc giới thượng lưu danh giá.

1.2. Dàn ý số 2

I. Mở bài

- Giới thiệu những nét tiêu biểu nhất về cây bút hiện thực Vũ Trọng Phụng và đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

- Trong đoạn trích, tâm trạng các nhân vật trước cái chết của cụ cố Tổ là một khía cạnh làm nên chất trào phúng cho đoạn trích

II. Thân bài

Trước cái chết của một con người, đáng lẽ những người xung quanh phải có thái độ đau buồn nhưng tâm trạng của các nhân vật (kể cả trong gia đình hay ngoài gia đình) đều làm cho người đọc cảm giác phẫn nộ

a. Tâm trạng của những người trong gia đình

- Cụ cố Hồng:

+ đặc biệt háo danh: mới năm mươi tuổi, cụ cố Hồng mong được gọi là “cố”

+ sung sướng đến ngây ngất vì nhờ có cái chết thật của cha mình mà được mọi người chú ý, vui vì được diễn trò già yếu trước mọi người

+ mơ màng nghĩ mình được mặc áo xô gai, lụ khụ ho khạc mếu máo để người ta nghĩ “ úi kìa con giai nhớn đã già thế kia kìa”

=> con người háo danh bề ngoài, không hề tiếc thương gì trước cái chết của chính người sinh ra mình

- Cụ bà: sung sướng vì ông Đốc tờ Xuân đã không giận mà còn giúp đáp, phúng viếng đến thế, và đám ma như thế kể là đã danh giá nhất

- Ông Văn Minh chồng:

+ Vui vì chúc thư đã đi vào thời kì thực hiện chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa

+ vò đầu rứt tóc hợp thời trang hợp với một nhà có đám, kì thực, ông ta đang lo gột rửa bằng xà phòng thơm cho quá khứ của Xuân…

=> Bất hiếu, đầy dã tâm

- Bà Văn Minh vợ:

+ sốt cả ruột vì mãi không được mặc đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn trắng viền đen…

+ mừng rỡ vì được lăng xê những mốt y phục táo tạo nhất.

=> người cháu thực dụng, thiếu tình người

- Cậu Tú Tân: Điên người lên vì bây giờ mới có dịp dùng đến mấy cái máy ảnh mà cậu đã chuẩn bị từ lâu => thiếu suy nghĩ, thiếu tình cảm ruột thịt

- Tuyết:

+ Vui vì có dịp mặc bộ y phục “Ngây thơ” để thiên hạ thấy rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh.

+ khuôn mặt buồn, nhưng không phải cái buồn đau thương mà là buồn lãng mạn “đúng mốt” vì chờ mãi chưa thấy bạn giai đâu cả

=> Người con gái hư hỏng, lẳng lơ.

- Phán mọc sừng:

+ Là kẻ trơ trẽn nhất, y vô cùng hãnh diện vì không ngờ “đôi sừng hươu vô hình ai cắm trên đầu mình lại có giá trị như vậy”.

=> Chỉ coi trọng và vui mừng vì mình được thêm một khoản, không có nhân cách, vô liêm sỉ

- Đám cháu con: Một bầy cháu con chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ Tổ.

b. Tâm trạng của những người ngoài gia đình

- Cảnh sát Min Đơ và Min Toa: “giữa lúc không có ai đáng bị phạt…đương buồn rầu…thì sung sướng cực điểm”.

- Bạn bè cụ cố Hồng: những kẻ vừa háo danh, vừa háo sắc, họ chia buồn để khoe khoang các loại râu ria cùng những huân huy chương

- Nhà sư: Sư cụ Tăng Phú sung sướng và vênh váo ngồi trên một chiếc xe, vì sư cụ chắc rằng, trong số thiên hạ đứng xem ở các phố, thế nào cũng có người nhận ra rằng sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo

- Hàng phố: đám ma đi đến đâu huyên náo đến đấy, cả phố nhốn nháo khoe đám ma to, thiên hạ chỉ chu ý vào những kiểu quần áo tang...

=> Không một ai thực sự tiếc thương cho sự ra đi của người đã mất, đây là những con người không một chút hiếu nghĩa, mất hết tình người

III. Kết bài

- Khẳng định nhưng nét nghệ thuật tiêu biểu thể hiện thành công tâm trạng của các nhân vật trong đoạn trích: bút pháp hiện thực, nghệ thuật trào phúng…

- Bài học đạo đức rút ra cho bản thân

2. Bài văn mẫu Phân tích tâm trạng các nhân vật trong Hạnh phúc của một tang gia

2.1. Bài văn mẫu 1

Được mệnh danh là “Ông vua phóng sự đất Bắc”, Vũ Trọng Phụng đã để lại rất nhiều tác phẩm có giá trị hiện thực sâu sắc và ghi dấu ấn đậm nét của mình trong mảng văn học trào phúng Việt Nam. Số đỏ là cuốn tiểu thuyết ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học có nó cũng là tác phẩm đặc sắc bậc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng. Trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” tài năng nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng được thể hiện trực tiếp thông qua việc khắc họa tâm trạng và tính cách của từng nhân vật trong câu chuyện.

“Hạnh phúc của một tang gia” thuộc chương V của tiểu thuyết Số đỏ nói về đám ma của cụ cố Tổ. Qua đám ma rình rang, hoành tráng đó tính cách của từng nhân vật dần được bộc lộ, không những thế, bằng tài năng nghệ thuật bậc thầy, tác giả Vũ Trọng Phụng đã vô cùng tinh tế khi đi miêu tả tâm trạng của từng nhân vật xuất hiện trong đoạn trích ấy.

Đám ma của cụ cố Tổ diễn ra thật lạ lùng, lạ lùng từ những nghi thức đến thái độ của những thành viên trong gia đình và những người ngoài gia đình. Theo lẽ thường, một gia đình khi có tang thì không khí bao trùm là sự đau khổ, xót xa khi mất mát cả về người và tình cảm thì đám ma của cụ cố Tổ lại hoàn toàn trái với cái lẽ thường ấy. Không hề có giọt nước mắt đau khổ, xót thương nào mà ngược lại sự ra đi của cụ cố Tổ còn mang đến hạnh phúc cho tất cả mọi người, nghịch lí này được thể hiện chính trong nhan đề của đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”.

Tất cả mọi người trong gia đình đều có những niềm vui riêng trước sự ra đi của cụ cố Tổ. Cố Hồng là con trai của cụ cố Tổ, trước sự ra đi của bố- người đứng đầu gia đình, cố Hồng không tỏ ra lo lắng xót thương mà còn thấy hạnh phúc vì cuối cùng cũng được mặc áo xô gai, chống gậy, miệng ho lụ khụ. Cố Hồng vui vì được diễn vai của người con cả có hiếu, muốn được nghe những lời trầm trồ tán thưởng của bà con trong khu phố về cái phúc của một gia đình đại tư sản rằng khi con trai đã già mà cha mới mất.

Văn Minh là cháu đích tôn của người mất, theo lẽ thường Văn Minh cần hỗ trợ cha trong việc lo ma chay cho ông nhưng hắn ta lại cảm thấy vui sướng vì cái chúc thư kia cuối cùng cũng đi vào giai đoạn thực hành, thậm chí Văn Minh còn cãi nhau với vợ vì không biết nên cưới chạy tang hay không. Cô Tuyết vui vì được mặc bộ trang phục ngây thơ để khoe với mọi người rằng mình chưa đánh mất chữ trinh mà không biết rằng hành động của mình lố lăng đến kệch cỡm.

Phán Mọc Sừng vui sướng, hạnh phúc vì nhận được khoản tiền kha khá, cậu Tú Tân vui vì có dịp trổ tài chụp ảnh. Không những người trong gia đình cảm thấy hạnh phúc mà niềm vui có khả năng lây lan ra tất cả mọi người ngoài gia đình. Những người bạn của gia đình vui vì có dịp khoe các loại râu, các loại huân chương cao quý, đặc biệt hơn họ còn cảm thấy vui vì được ngắm bờ ngực thấp thoáng trong bộ y phục ngây thơ của cô Tuyết.

Hai viên cảnh sát Min-đơ, Min-toa thì vui vì được ghi biên bản phạt, đám thanh niên nam nữ đi đưa tang vui vì được trò chuyện vui vẻ, chim chuột nhau. Người dân hàng phố thì vui vì được “thưởng thức” một đám ma to của gia đình đại tư sản danh giá. Đám ma được tổ chức hoành tráng, nhưng lại mất đi cái trang nghiêm vốn có mà thể hiện đến tận cùng cái lố lăng, thiếu hiểu biết của những người trong gia đình.

Thông qua bối cảnh của đám ma, từng lớp mặt nạ của những nhân vật trong truyện được bóc trần, thể hiện đến cùng cái giả dối, giả nhân giả nghĩa của những kẻ tự xưng trí thức, những người thuộc giới thượng lưu danh giá. Từ việc khắc họa chân dung tính cách, tâm trạng của từng nhân vật Vũ Trọng Phụng đã châm biếm sâu cay với xã hội thực dân nửa phong kiến.

2.2. Bài văn mẫu 2

“Số đỏ” là cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. Tác phẩm đã phát huy cao độ tài năng châm biếm, đả kích sắc sảo của Vũ Trọng Phụng trước những thói xấu xa, giả dối của xã hội thực dân, phong kiến nửa đầu thế ki XX. Dưới ngòi bút kì tài của Vũ Trọng Phụng, chương nào, đoạn nào cũng thú vị, hấp dẫn như một màn hài kịch trọn vẹn. Đặc biệt gây ấn tượng là chương “hạnh phúc của một tang gia”.

Ý nghĩa châm biếm gửi cả trong cái tên của chương truyện. Một gia đình có tang, thậm chí đại tang ắt phải tiếc thương, sầu não đến chừng náo, ấy vậy mà lại hạnh phúc. Mới nghe có vẻ ngược đời nhưng trong hoàn cảnh cụ thể của gia đình này thì điều ấy lại chân thực, hợp lí. Ở đám tang cụ Tổ, mọi người đều vui như “tết”: con cái, cháu chắt, họ hàng thân thích, người quen biết… ai cũng thấy đây là một dịp may hiếm có để thoả mãn một nguyện vọng, một ý đồ nào đó.

Vũ Trọng Phụng vạch rõ chân tướng nhố nhăng, lố bịch của những hạng người mang danh là thượng lưu, quý phái, văn minh, tân tiến nhưng thực chất lại là những cặn bã, quái thai của cái xã hội dở Tây dở ta buổi ấy.

Trong chương này, tác giả đã xây dựng thành công những tình huống điển hình để bộc lộ những tính cách đặc sắc. Trước hết, phải nói đến thái độ của những kẻ có quan hệ ruột rà với cụ Tổ.

Cái chết của cụ chẳng làm cho đứa con, đứa cháu nào tiếc thương bởi đã từ lâu, họ mong cụ chết cho nhanh để chia gia tài. Thay vào sự tiếc thương, cái chết của cụ đã đem đến cho họ niềm vui to lớn không che giấu nổi – một “hạnh phúc”: Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm. Bọn con cháu vô tâm ai cũng vui sướng thoả thích… Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma… Tang gia ai cũng vui vẻ cả…

Cậu tú Tân, cháu nội cụ Tổ hào hứng, phấn khởi thật sự vì cậu có dịp trổ tài sử dụng cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến. Vợ Văn Minh (cháu dâu) mừng rỡ vì sẽ được mặc đồ xô gai tân thời… để quảng cáo cho một kiểu đồ tang mới lạ của cửa hàng Âu hoá vừa mới chế ra.

Còn người con trai cả của cụ Tổ thì sung sướng vì một lí do khác lớn hơn “cụ cố Hồng mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu để cho thiên hạ bình phẩm, ngợi khen: úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa”. Văn Minh (cháu nội), đã từng du học tận bên Tây bao năm, về nước không có lấy một mảnh bằng, chỉ nhăm nhăm nghĩ tới chuyện chia gia tài thì thích thú ra mặt vì cái chúc thư kia đã vào thời kì thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa. Riêng người cháu rể (Phán mọc sừng) lại khấp khởi, sướng rơn trong bụng vì đã được bố vợ nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho thêm một số tiền vài nghìn đồng. Chính ông không ngờ rằng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đến thế!

Không khí của đám ma là không khí của một ngày hội. Đây cũng chính là mâu thuẫn trào phúng gây cười ra nước mắt xuyên suốt hoạt cảnh này. Đám ma rất to, to chưa từng thấy ở đất Hà Thành xưa nay., Có đủ cả kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, vài ba trăm câu đối, bức trướng, vòng hoa phúng điếu, vài trăm người đưa đám nghiêm nghị, thành kính đi sát ngay sau linh cữu cụ Tổ, trong đủ thứ tiếng kèn huyên náo: kèn ta, kèn Tây, kèn Tàu, có cả âm thanh chói tai, rộn rã của lốc bốc xoảng và bu-dích…

Đám ma cụ Tổ trở thành dịp may hiếm có để trưng bày và quảng cáo các mốt quần áo Âu hoá mới nhất của tiệm may vợ chồng Văn Minh – sản phẩm độc đáo của nhà thiết kế mĩ thuật Typn. Cô Tuyết cháu gái cụ Tổ với bộ y phục ngây thơ khá hở hang và nét mặt cố tạo ra một vẻ buồn lãng mạn, rất đúng mốt một nhà có đám, khiến cho bao nhiêu vị khách đàn ông khi trông thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết phải xúc động còn hơn nghe tiếng kèn… ai oán, não nùng. Bộ đồ tang đã được cách tân của vợ Văn Minh cũng làm cho mọi người phải xuýt xoa, trầm trồ…

Ngoài những thân nhân của người quá cố phải nói đến đám bạn bè, quan khách của tang chủ, đi đưa đám không phải để chia buồn mà là cốt khoe ngực đầy những huy chương như: Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh, Vạn Tượng bội tinh…. trên mép và cằm đều đủ râu ria, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm …Đám phụ nữ quý phái, đám trai thanh gái lịch đang theo đuổi, học đòi phong trào Âu hoá, vừa đi đưa ma vừa cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau… Và mỉa mai thay, họ làm tất cả những chuyện ấy bằng vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma. Điều đó chứng tỏ họ hoàn toàn dửng dưng với người chết, tất cả đều thản nhiên, vui vẻ và dối trá.

Người dân hai bên đường đổ xô ra xem đám ma như xem một sự lạ. Đám ma to đến nỗi những người trong tang gia cảm thấy hết sức sung sướng và hàng phố nhốn nháo cả lên khen đám ma to. Nhà văn lạnh lùng bình luận: “đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu”. Thật là mỉa mai, chua chát!

Đằng sau sự phô trương, cố làm ra vẻ long trọng, danh giá ấy là sự rởm đời đến mức lố lăng, là thói háo danh đến trơ trẽn của bọn người giàu sang, hãnh tiến và bao trùm lên tất cả là thói đạo đức giả, tự lừa mình và lừa người.

Song song với việc mô tả hình thức đám ma với đủ các nghi thức trọng thể, Vũ Trọng Phụng không quên đi sâu thể hiện, phanh phui mặt trái của nó. Ngòi bút sắc sảo của nhà văn trưng lên liên tiếp những bức biếm hoạ trước mắt người đọc, để rồi giúp người đọc nhận ra rằng cái đám ma to tát ấy chỉ thiếu một cái duy nhất mà cũng quan trọng nhất của đám ma – đó là tình người. Thiếu lòng thương tiếc chân thành đối với người đã khuất thì tất cả những hình thức loè loẹt, om sòm kia đều trở thành vô nghĩa, thành trò cười cho thiên hạ. Những kẻ có mặt trong đám ma giống nhau ở chỗ đều giả dối và vô đạo đức.

Xuân Tóc Đỏ xuất hiện, đẩy sự lố lăng, dị hợm của đám ma cụ Tổ lên tới đỉnh cao. Hắn chọn đúng lúc để có mặt, trước sự chú ý của mấy trăm con người và gây ấn tượng mạnh với hai vòng hoa đồ sộ, sáu chiếc xe kéo sang trọng và một đám sư, cùng loại sư của báo Gõ mõ. Điều này khiến cho bà cố Hồng càng thêm sung sướng: “ấy, giả không có món ấy thì là thiếu chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi”. Còn cô Tuyết, người yêu của Xuân Tóc Đỏ cũng phải cảm động mà liếc mắt đưa tình với hắn.

Mấy chi tiết tả cảnh hạ huyệt càng mỉa mai, trào phúng. Vũ Trọng Phụng tả nó như một vở kịch mà bàn tay dàn dựng của đạo diễn quá ư lộ liễu, trắng trợn: cậu Tú Tân bắt từng người phải chống gậy, gục đầu, cong lưng, lau mắt… để cậu chụp ảnh, trong khi bạn hữu của cậu rầm rộ nhảy lên những ngôi mả khác mà chụp để cho ảnh khỏi giống nhau. Chất bi hài của cảnh khiến người đọc cười ra nước mắt. Chỉ có một tiếng khóc lớn nhất bật lên là của ông Phán mọc sừng: “ông oặt người đi, khóc mãi không thôi và tiếng khóc của ông thật đặc biệt: Hức! Hức! Hức”. Ông thương cho người đã khuất chăng? Không phải! Ông đang đóng kịch trước mặt mọi người. Thực ra, cụ Tổ chết…ông ta rất mừng vì được chia phần khá nhiều, kể cả cái giá của bộ sừng mà cô vợ ông đã cắm lên đầu ông. Miệng khóc, tay ông Phán dúi nhanh vào tay Xuân Tóc Đỏ một cái giấy bạc năm đồng gấp làm tư… để trả công hắn đã gọi ông là Phán mọc sừng trước họ hàng nhà vợ, nhờ đó mà ông ta có thêm được một món tiền lớn.

Qua chương “Hạnh phúc của một tang gia” Vũ Trọng Phụng bộc lộ xuất sắc tài kể chuyện của mình. Bút pháp của Vũ Trọng Phụng giỏi ở chỗ phóng đại mà như không phóng đại, làm cho mọi việc đều như thật và hơn thật, ông chú ý đến các mâu thuẫn giữa hiện tượng và bản chất, khai thác triệt để nhằm gây nên những tràng cười có ý nghĩa phê phán sâu sắc. Cảnh đám ma hiện ra như một màn hài kịch sinh động, một bức biếm hoạ khổng lồ và chi tiết về cái xã hội tự xưng là thượng lưu, sang trọng ở Hà Nội thời đó đang phơi bày tất cả cái bản chất lố lăng và đồi bại trước mắt mọi người.

2.3. Bài văn mẫu 3

Ở đời có mấy ai lại “sung sướng”, “hạnh phúc”, “vui vẻ” trước cái chết của con người, đôi khi đến cả cái chết của kẻ thù không đội trời chung cũng không như thế. Huống chi đó lại là sự ra đi của người thân, là sự ra đi của đấng sinh thành thì làm sao có thể lấy làm hạnh phúc được? Thế mà kì lạ với mỉa mai thay, có một “tang gia” trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng lại “hạnh phúc” thật, lại “nhiều người sung sướng lắm”, lại “ai cũng vui vẻ cả”,...! Điều này đã được thể hiện rất rõ ở chương Hạnh phúc của một tang gia.

Vũ Trọng Phụng được biết đến là “ông vua phóng sự đất Bắc” và ông có rất nhiều tác phẩm để đời nổi tiếng như mang được những phong thái riêng và ông nổi nhất đó chính là mảng văn học trào phúng. Tác phẩm Số đỏ là một trong những “đứa con yêu” nhất của nhà văn tài năng này. Và có lẽ rằng tác phẩm hay ở cách nhà văn xây dựng được nhiều nhân vật, nhưng mỗi nhân vật lại như được mang một sắc thái riêng để hòa vào sắc thái chung của truyện.

Chương V với tiêu đề Hạnh phúc của một tang gia là một chương đặc sắc như đã thể hiện được những tính cách nhân vật điển hình. Trong chương này, tác giả đã xây dựng thành công những tình huống điển hình để bộc lộ những tính cách đặc sắc. Trước hết, phải nói đến thái độ của những kẻ có quan hệ ruột với cụ Tổ. Cái chết của cụ chẳng làm cho đứa con, đứa cháu nào tiếc thương bởi từ lâu, họ mong cụ chết thật nhanh để chia gia tài. Thay vào đó, cái chết của cụ đã đem đến cho sự niềm vui – một “hạnh phúc”.

Ông Phán mọc sừng là thành viên được tác giả nhắc đến đầu tiên trong đám con cháu đó. Phán mọc sừng – cháu rể “quý hóa” của cụ cố thì đang sung sướng vì với sự giúp đỡ của Xuân Tóc Đỏ, kế hoạch hoang dâm tai tiếng của vợ ông làm vũ khí “đào mỏ” đã thành công mĩ mãn. Nhờ đó mà ông cháu rể này “đã được cụ cố Hồng nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho con gái và con rể thêm một số tiền là vài nghìn đồng”. Chính ông ta cũng “không ngờ rằng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đến thế”.

Niềm vui của cụ cố Hồng thuộc kiểu “hiếu danh mù quáng” đến mức ngu xuẩn và lố bịch. Đối với nhân vật kì quặc này, ông cụ thân sinh qua đời sẽ là một cơ hội hiếm có để cụ cố Hồng lên chức cụ cố trước mắt bàn dân thiên hạ, mặc dù về tuổi đời, cụ mới ngoài năm mươi! Cụ “nhắm nghiền mắt lại để mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho vừa khóc mếu để cho thiên hạ phải chỉ trỏ “Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa !” và “cụ chắc cả mười phần rằng ai cũng phải khen một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế,...’’.

Còn Văn Minh – cháu đích tôn của cụ cố tổ thì cũng có lí do để vui: chắc chắn sẽ được chia cho một số tài sản rất lớn nên điều “băn khoăn” của ông ta là “mời luật sư đến chứng kiến cái chết của ông nội”. Thật vui vẻ vì “thế là từ nay trở đi cái chúc thư kia sẽ đi vào thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa”.

Các thành viên còn lại chỉ thực sự hạnh phúc khi cụ Hồng ra lệnh phát phục. Bởi đám tang cụ cố tổ là một sự kiện để mỗi người đó có dịp trình diễn cái vai trò của cá nhân mình trước xã hội: bà Văn Minh sẽ trình diễn đồ xô gai thuộc dạng mốt tân thời, Tuyết được diện bộ y phục mang tên Ngây thơ để chứng minh với thiên hạ rằng mình chưa đánh mất chữ trinh… Rồi cậu Tú Tân sẽ trình diễn tài nghệ chụp ảnh trong đám tang, còn ông Typn sung sướng bởi được báo chí lăng xê các mẫu thời trang mà ông dày công thuyết kế…

Niềm vui hạnh phúc do cái chết của cụ cố tổ đem lại không chỉ ngập tràn trong tâm hồn các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng mà còn lan tỏa ra cả ngoài tang quyến. Đó là niềm vui bỗng lại có công ăn việc làm, hai cảnh binh thuộc bộ thứ mười tám Min Đơ và Min Toa được thuê giữ trật tự cho đám ma “đã trông nom rất hết lòng”.

Các ông “tai to mặt lớn” - những người bạn của cụ cố Hồng nhân dịp đến chia buồn với tang gia mà tiện có dịp khoe công trạng một đời với đủ loại huân chương “Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh, Cao Mên bội tinh, Vân Tượng bội tinh…”. Tuy nhiên, cái đám đầy râu ria ấy lại đang mãn nguyện, sung sướng khi đến chia buồn bỗng lại được thưởng thức cái làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh ngực Tuyết.

Sư cụ Tăng Phú thì “sung sướng và vênh váo trên một chiếc xe vì sư cụ chắc rằng trong số thiên hạ đứng xem ở phố, thể nào cũng có người nhận ra rằng sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo…”

Với đám giai thanh, gái lịch Hà thành, những kẻ không dính líu chút nào về quan hệ họ hàng, ruột thịt với người đã khuất thì niềm vui của họ ở đây là cơ hội để “chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau…”. Nhưng có lẽ người hạnh phúc nhất là Xuân Tóc Đỏ, dù anh ta không có ý thức được điều đó. Cái chết của cụ tổ đem lại cho Xuân hai món hời gồm cả danh dự lẫn tiền bạc.

Cảnh đám ma mà như hội. Trai gái thì “chim chuột nhau”, những kẻ khách thì vui sướng vì được thể hiện được khoe mẽ hay là mừng thầm khi có thể có chút tài sản của người đã mất. Điệp khúc “Đám cứ đi” như gợi ra một cái gì đó gợi ra một cái đám ma thật to nhưng lại chất chứa đầy những thói lố lăng và kệch cỡm.

“Đám cứ đi…” cũng đồng thời có nghĩa là sự vô liêm sỉ ấy không hề khép lại, nó còn kéo dài mãi trong xã hội. Không hề biến mất đi mà nó như được thay đổi bằng nhiều hình thái khác nhau mà thôi.

Và cho đến lúc đám tang không “cứ đi” nữa mà như cũng đã dừng lại để hạ huyệt, Vũ Trọng Phụng dường như đã còn hiến cho người đọc hai chi tiết đặc sắc, đẩy cảnh đưa đám này lên đến đỉnh điểm. Chi tiết thứ nhất đó chính là cảnh cậu Tú Tân bắt bẻ từng người một làm những động tác, và lúc đó thì giữ những tư thế đau buồn để cho cậu ta… chụp ảnh. Chi tiết thứ hai được nhắc đến đó chính là ông Phán mọc sừng, cái kẻ giả dối và vô liêm sỉ nhất trong cái gia đình này và cũng như đã khóc đến tưởng chừng ngất đi. Tuy vậy, ta như thấy được giữa lúc oằn người khóc lóc, chính ông ta cũng đã nhanh chóng giúi vào tay Xuân Tóc Đỏ món tiền năm đồng vì đã có công gọi ông ta là… “người chồng mọc sừng” và đồng thời cũng chính là cái công gián tiếp khiến cho ông già chết đi. Và đây quả thật là những kịch sĩ thượng hạng của những tấn trò đời. Chỉ với hai chi tiết đặc sắc ấy đóng lại một cách trọn vẹn và sắc sảo chương nói về sự giả dối của con người.

Nỗi sung sướng, hạnh phúc bất thường, kì dị, thậm chí quái gở này, qua ngòi bút của Vũ Trọng Phụng như có sức lây lan rất rộng : từ người bề trên đến người bề dưới, từ người trong tang quyến đến người ngoài tang quyến. Tác giả đã vạch trần cái xã hội Âu hóa đầy lố bịch với những thú vui phù phiếm, tầm thường, vô nghĩa.

2.4. Bài văn mẫu 4

Vũ Trọng Phụng được biết đến là “ông vua phóng sự đất Bắc” và ông có rất nhiều tác phẩm để đời nổi tiếng như mang được những phong thái riêng và ông nổi nhất đó chính là mảng văn học trào phúng. Tác phẩm “Số đỏ” là một trong những “đứa con yêu” nhất của nhà văn tài năng này. Và có lẽ rằng tác phẩm hay ở cách nhà văn xây dựng được nhiều nhân vật, nhưng mỗi nhân vật lại như được mang một sắc thái riêng để hòa vào sắc thái chung của truyện.

Chương V với tiêu đề “Hạnh phúc của một tang gia” là một chương đặc sắc như đã thể hiện được những tính cách nhân vật điển hình.

Ta cũng như đã thấy được mọi sự bắt đầu từ cái chết của một ông già. Ông già ấy là cha, là ông của “một gia đình đông đảo và đáng kính” của một xã hội được coi là văn minh xã hội “thượng lưu”. Cả ta như thấy được tất cả cái gia đình ấy đã “nhao lên mỗi người một cách”. Nhưng nếu như sự nhao lên vì đau khổ và cũng chính vì đau đớn, vì lo lắng… trước cái chết của người thân chăng? Không phải, chắc chắn không thể nào mà chúng đã nhao lên vì…. hạnh phúc ! “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sướng lắm” Có lẽ chính câu văn tưởng chừng như ngược đời kia của Vũ Trọng Phụng dường như cũng đã thâu tóm tất cả mọi thứ “thế thái nhân tình”.

Và ta như thấy được chính cái nhận định ấy không hề là một sự bịa đặt cho vui của nhà văn. Sự thật dường như cũng đã rất rành rành cụ thể.

Nhân vật ông Phán mọc sừng sau cái chết của ông nội vợ, ông bỗng thấy cái “sự mọc sừng” của mình như cũng đã được tăng giá lên vài nghìn đồng. Và cụ cố Hồng dường như cũng đã rất sung sướng “mơ màng đến cái lúc mặc đồ xô gai. Ông như đã lụ khụ chống gậy vừa ho khạc, vừa khóc mếu” để hi vọng được người ta ngợi khen “một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế,…”. Còn nhân vật ông Văn Minh chính là cháu đích tôn, nhà cải cách xã hội ? Ông ta dường như tỏ ra sung sướng tột đỉnh lắm, bởi vì với cái chết của ông nội thì tờ di chúc kia sẽ đi vào thực thi chứ không phải là nằm trên giấy nữa. Và việc này đồng nghĩa là cái ao ước cho ông nội mình chết đi để được chia của đã trở thành sự thật một sự thật đã mong mỏi từ lâu. Còn bà Văn Minh thì cũng “vui” chung với niềm vui của đám tang, bà như sung sướng theo đúng cách của một phụ nữ tân thời, bà ta cũng đã như nhận ra từ cái chết của ông nội chồng chính là một dịp may hiếm có để có thể mặc “trang phục tân thời” đó chính là những bộ “đồ xô gai tân thời”, “những sáng tạo mốt mới” của tiệm may Âu hoá kệch cỡm của bà.

Còn đối với nhân vật cô Tuyết - một cô gái hư hỏng nhưng chỉ “hư hỏng một nửa” và Tuyết chính một thiếu nữ đang rất tiêu biểu cho xã hội “tân thời ngày ấy”. Tuyết đã chọn và mặc bộ trang phục nửa kín nửa hở, với nét mặt đó chính là một “vẻ buồn lãng mạn” buồn ở đây chính là vì nhớ nhân tình chứ không phải vì thương người chết, đã gây một hiệu quảnhư thật trùng khớp biết bao nhiêu. Có lẽ các vị tai to mặt lớn đi đưa đám như cũng chăm chăm như nhìn vào vẻ khêu gợi của Tuyết để mà cảm động mà thôi chứ như thực sự cảm động trước nỗi buồn tang tóc vậy thật là một đám người con cháu lố bịch.

Đám ma to thật, có thể nói cái đám ma này nó to đến mức “có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng”. Người ta dường như cũng đã lợi dụng đám ma đến mức cao nhất để khoe giàu, và khoe sang thậm chí là còn để khoe lòng hiếu thảo giả vờ của mình.

Nhưng chưa dừng lại ở đó thì dưới mắt Vũ Trọng Phụng, ta cũng như đã thấy được chính cái lũ người giả dối không chỉ bao gồm một nhóm nhỏ ấy. Chúng dường như cũng đã thật là đông đảo lắm. Ta như thấy được toàn xã hội văn minh Âu hoá. Bắt đầu là hai nhà đại diện cảnh sát cũng như là đồng nghĩa là đại diện của nhà nước, thầy Min Đơ và thầy Min Toa. Tác giả Vũ Trọng Phụng dường như cũng đã nói lên vẻ mừng rỡ hí hửng của hai thầy khi mà đã được chủ nhà đám ma thuê làm người giữ trật tự. Ta như thấy được cái lí do của sự mừng rỡ, duy nhất chỉ là vì họ đang không có việc gì để làm và đang “buồn như nhà buôn sắp vỡ nợ”. Tiếp sau đó chính là đến các vị tai to mặt lớn, đó chính là lớp “hoa” của giới thượng lưu xã hội. Có vẻ như chính mặt mũi sang trọng, người đeo đầy đủ các thứ “bội tinh”. Ta như thấy được trong đám ma này, sự cảm động của họ không phải là đã nhớ đến người đã khuất, và đó dường như cũng không phải vì tiếng kèn đưa ma não ruột bi ai, mà chỉ vì… được ngắm không mất tiền làn da trắng ngần như đang thập thò trong làn áo mỏng của cô Tuyết mà thôi.

Đặc biệt hơn nữa đó cũng chính là sự xuất hiện của hai tên đại bịp là Xuân Tóc Đỏ và sư ông Tăng Phú trong dịp này dường như cũng đã lại khiến người ta cảm động đến cực điểm. Cho đến bà cụ cố Hồng, dường như có lẽ là người lương thiện nhất trong cái gia đình vừa hư hỏng vừa đại bịp ấy, cũng cảm động đến hớt hải lên.

Cảnh đám ma mà như hội. Trai gái thì “chim chuột nhau”, những kẻ khách thì vui sướng vì được thể hiện được khoe mẽ hay là mừng thầm khi có thể có chút tài sản của người đã mất. Điệp khúc “Đám cứ đi” như gợi ra một cái gì đó gợi ra một cái đám ma thật to nhưng lại chất chứa đầy những thói lố lăng và kệch cỡm.

“Đám cứ đi…” cũng đồng thời có nghĩa là sự vô liêm sỉ ấy không hề khép lại, nó còn kéo dài mãi trong xã hội. Không hề biến mất đi mà nó như được thay đổi bằng nhiều hình thái khác nhau mà thôi.

Và cho đến lúc đám tang không “cứ đi” nữa mà như cũng đã dừng lại để hạ huyệt, Vũ Trọng Phụng dường như đã còn hiến cho người đọc hai chi tiết đặc sắc, đẩy cảnh đưa đám này lên đến đỉnh điểm. Chi tiết thứ nhất đó chính là cảnh câu Tú Tân bắt bẻ từng người một làm những động tác, và lúc đó thì giữ những tư thế đau buồn để cho cậu ta… chụp ảnh. Chi tiết thứ hai được nhắc đếnn đó chính là ông Phán mọc sừng, cái kẻ giả dối và vô liêm sỉ nhất trong cái gia đình này và cũng như đã khóc đến tưởng chừng ngất đi. Tuy vậy, ta như thấy được giữa lúc oằn người khóc lóc, chính ông ta cũng đã nhanh chóng giúi vào tay Xuân Tóc Đỏ món tiền năm đồng vì đã có công gọi ông ta là… “người chồng mọc sừng” và đồng thờ cũng chính là cái công gián tiếp khiến cho ông già chết đi. Và đây quả thật là những kịch sĩ thượng hạng của những tấn trò đời. Chỉ với hai chi tiết đặc sắc ấy đóng lại một cách trọn vẹn và sắc sảo chương nói về sự giả dối của con người.

Bằng nghệ thuật trà phúng bậc thầy của mình thì nhà văn Vũ Trọng Phụng đúng là sắc như dao. Ta có thể thấy được đằng sau những lời nói như đùa, những cảnh trào phúng cười ra nước mắt, và đó cũng chính sự thật của đời sống cứ hiện ra lồ lộ mà trên nó nổi lên hai điều lớn nhất đó chính là sự tàn nhẫn và sự dối trá.

2.5. Bài văn mẫu 5

Số đỏ được đánh giá là tác phẩm xuất sắc nhất của Vũ Trọng Phụng cũng như của văn học trào phúng Việt Nam hiện đại. Tính chất trào phúng đó không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ, giọng điệu, tình huống mà còn được bộc lộ trực tiếp, sắc nét nhất qua chân dung từng nhân vật trong tác phẩm trong đoạn trích Hạnh phúc một tang gia.

Câu chuyện bắt đầu bằng cái chết của một người ông già – cụ cố tổ. Đó là người ông, người cha, người bạn đáng kính của một gia đình thượng lưu. Những tưởng cái chết đó sẽ gây nên niềm đau xót khôn nguôi trong lòng người ở lại. Nhưng không, cái chết của cụ cố tổ lại là niềm vui, niềm hạnh phúc tột cùng của tất cả đám con cháu. Bởi bản di chúc ở trên giấy nay đã được đi vào thực thi, bọn họ sẽ nhận được những gia sản kếch xù. Chính trong lúc tang gia bối rối, họ mỗi người nhao nhao lên theo một cách khác nhau, trưng diện một bộ mặt khác nhau để thể hiện lòng đau xót trong hạnh phúc tột cùng của mình.

Cụ cố Hồng, nhắm mắt mơ màng khi nghĩ đến giây phút mình mặc bộ đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho vừa khóc mếu, để cho thiên hạ chỉ trỏ: Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa. Đây chính là cơ hội để cụ cố Hồng được diễn trò trước đám đông, là cơ hội để thể hiện lòng hiếu thảo với cha mình thông qua việc tổ chức một đám ma thật to. Ông Văn Minh: Niềm vui riêng hòa lẫn niềm vui chung. Niềm vui của ông Văn Minh là biểu hiện cao độ cho niềm vui của cả gia đình: nóng lòng đợi luật sư đến để thực tế chia gia tài. Ông Văn Minh còn được Vũ Trọng Phụng miêu tả chi tiết đăm chiêu, vò đầu bứt tóc nhưng thực tế là đang không biết xử trí với Xuân tóc đỏ thế nào cho phải chứ không phải là lo lắng cho việc tổ chức đám tang của cụ cố tổ. Còn với bà Văn Minh vợ ông lại sung sướng khi được mặc bộ đồ xô gai tân thời, bà vui vẻ ra mặt, vì những mẫu đồ tân thời mới nhất bà sẽ nhân dịp này mà tung ra thị trường, biến đám tang thành nơi trình diễn, công bố bộ sưu tập mới nhất.

Ông phán mọc sừng, sung sướng, hả hê khi biết giá trị đôi sừng trên đầu mình, vì có nó mà ông sẽ được hưởng thêm một phần gia sản không nhỏ. Số tiền đó là đền bù cho danh dự của ông. Trong đám tang tiếng khóc Hứt ! Hứt của ông Phán mọc sừng liên tiếp được vang lên, ông khóc oằn người đi, đến nỗi không thể đứng vững, phải có Xuân Tóc Đỏ đỡ ông mới đứng được. Tưởng đó là nỗi đau rất thật, rất chân thành nhưng hành động dúi tiền vào tay Xuân Tóc Đỏ tờ tiền gấp làm tư đã vạch trần bộ mặt dối trá của ông Phán mọc sừng. Hành động đó còn thể hiện mưu tính một cuộc hợp tác doanh thương với Xuân tóc đỏ để kiếm lợi nhuận.

Còn đối với Tuyết – cô gái hư hỏng một nửa lại vui mừng vì mình sẽ được mặc những trang phục Tân thời, bộ quần áo ngây thơ, nửa kín nửa hở cái áo dài voan mỏng, trong có cooc-sê trông như hở cả nách và nửa vú – nhưng mà viền đen, và đội một cái mũ mấn xinh xinh, khuôn mặt buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám. Bộ quần áo ngây thơ Tuyết mặc để chứng minh mình không hư hỏng với thiên hạ, còn khuôn mặt buồn rất lãng mạn tưởng là nỗi buồn do mất đi người thân nhưng thực tế lại là vì nhớ nhân tình – Xuân Tóc Đỏ khi mãi cô vẫn chưa thấy Xuân xuất hiện trong đám tang. Vẻ mặt bề ngoài và thực tế bên trong đã bị Vũ Trọng Phụng sử dụng lời lẽ châm biếm sâu cay vạch trần.

Cậu Tú Tân, khi nghe ông mất thì cứ điên người lên, vì chiếc máy ảnh mới mua của cậu sắp được đưa vào sử dụng. Trong lúc hạ huyệt trong bộ quần áo luộm thuộm, cậu bắt bẻ từng người chống gậy, gục đầu, cong lưng, lau mắt,… dường như cậu Tú Tân như một nhà đạo diễn đại tài để cho vở kịch đám tang đau buồn thêm phần hoàn hảo.

Min Đơ, Min Toa đang trong lúc buồn rầu vì không có việc gì làm. Buồn rầu như những nhà buôn sắp vỡ nợ được thuê tới giữ trật tự đám ma thì sung sướng cực điểm. Sư cụ tăng phú thì vênh váo, ngồi trên chiếc xe, có đám đông để đến đó thể hiện sự vui vẻ, tự hào về thành tích đánh đổ hội Phật giáo. Bạn thân cụ cố Hồng: có dịp được khoe các loại huân huy chương, các loại râu. Bề ngoài họ ai nấy đều cảm động, nhưng thực chất cảm động không phải vì thương xót cho người chết mà vì nhìn thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết. Đám giai thanh gái lịch bạn của bà Văn Minh, cô Hoàng Hôn và cô Tuyết, đại diện cho lớp trẻ: với vẻ ngoài che đậy bên ngoài buồn rầu, nghiêm chỉnh nhưng thực chất họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau… với những lời lẽ thô tục.

Xuân Tóc Đỏ xuất hiện đã hoàn chỉnh bức tranh đại hài kịch ấy. Giữa lúc đám tang đã đi, Xuân xuất hiện với vòng hoa đồ sộ, rồi ai nấy cũng hết sức cảm động về sự chu đáo của Xuân, khiến cho đám ma ấy thêm phần long trọng hơn. Nhưng đặc sắc nhất phải kể đến chi tiết sự phối hợp nhịp nhàng giữa ông Phán mọc sừng và Xuân Tóc Đỏ trong cuộc trao đổi, buôn bán. Tờ giấy năm đồng gấp làm tư ông Phán dúi vào tay Xuân, Xuân nhanh chóng nắm tay cho khỏi có người nom thấy một hành động hết sức chuyên nghiệp và thành thạo. Cuộc mua bán, trao đổi đã thành công và hứa hẹn sẽ có những lần giao thương lớn và thành công hơn nữa.

Đám cứ đi được nhắc lại hai lần như đậm tô, khắc sâu hơn nữa sự vô sỉ, nhẫn tâm của đoàn người ấy. Nó kéo dài mãi, không hề kết thúc, chỉ là có sự thay đổi khác nhau về mặt hình thức.

Với nghệ thuật châm biếm, trào phúng bậc thầy Vũ Trọng Phụng đã khắc họa từng chân dung, đặc sắc, riêng biệt với tiếng cười châm biếm sâu cay. Vạch trần bộ mặt giả dối của xã hội đương thời.

2.6. Bài văn mẫu 6

Tiếng cười căm hờn mãnh liệt cái xã hội thực dân phong kiến tư sản, cái xã hội mà Vũ Trọng Phụng gọi là "khốn nạn", "chó đểu" trong Số đỏ nói chung và Hạnh phúc của một tang gia nói riêng cứ xoáy sâu vào tâm trí độc giả. Ấy là một "thế thái nhân tình" được xây dựng trên hai điều, sự tàn nhẫn và sự dối trá là biểu hiện sâu sắc nhất được thâu tóm trong câu văn tưởng chừng ngược đời mà lại có lí: "Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm".

Một gia đình đông đúc, nhiều con cháu, họ hàng và người quen của cụ cố Hồng là cả một xã hội phong kiến tư sản nực cười. Khi sinh ra, lớn lên, trưởng thành bước vào đời, con người ta lúc nào cũng cầu mong cho mình được hạnh phúc. Khi ra đi về với cát bụi, không có gì hơn ngoài mong muốn được đón nhận giọt nước mắt đau thương của người đang sống. Vậy mà, khi đi xuống nơi "suối vàng", cái chết của cụ tổ lại mang lại bao nhiêu niềm vui, niềm phấn khởi, hân hoan của con cháu gia đình cụ Hồng. Tình cảm người ấy chỉ tồn tại trong xã hội bất công và đầy rẫy sự thối nát, bẩn thỉu. Câu chuyện dường như là điển hình cho cái xấu xa mà xã hội đã mang lại cho tác phẩm Vũ Trọng Phụng. Ngay ở tiêu đề của đoạn trích, tác giả đã có ý nhấn mạnh sự tàn nhẫn và dối trá. Hạnh phúc đi liền với tang gia và tang gia tạo nên hạnh phúc. Đoạn trích đã làm nổi bật hai mặt trái ngược này bằng một trường phúng dụ gây cười rất tự nhiên, hợp lí.

Nhìn nét mặt, hành động của mỗi nhân vật trong chương truyện, người đọc cảm nhận cái hạnh phúc mà họ sẽ được nhận và đã mong chờ từ rất lâu. Khi tắt thở, không biết cụ tổ có nhận thấy cái chết ấy đã làm cho nhiều người được sung sướng lắm. Niềm hạnh phúc được tràn ra qua cái nhắm mắt mơ màng của cụ cố Hồng khi nghĩ "đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc, vừa khóc mếu, để cho thiên hạ phải chỉ :

- Úi kìa, con giai nhớn đã đến thế kia kìa!

Cụ nhắc cả mười phần rằng ai cũng phải khen ngợi một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế… Viễn cảnh hiện ra trước mắt cụ Hồng sao mà lạ lùng và cay đắng quá, Người ta đến đưa thi thể của cụ cố xuống nơi suối vàng, chứ đâu phải ngắm nhìn "con giai" cụ đã bao nhiêu tuổi, chống gậy gì và đám ma to hay là bé. Nhưng, những suy nghĩ ấy đã phản ánh đúng tâm trạng của cụ Hồng trong cái đám ma "rộn ràng", "huyên náo".

Còn ông Phán mọc sừng thì lại thấy "không ngờ rằng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đến như thế?". Ông hạnh phúc khi được nghe thấy cụ Hồng nói nhỏ vào tai là sẽ chia cho con gái và rể thêm một số tiền là vài nghìn đồng. Dường như đến đưa ma cụ cố, ông Phán mọc sừng lại được đón nhận số tiền lớn ấy đến bất ngờ. Dù sao "cái chết kia" cũng mang lại cho ông niềm hạnh phúc, sung sướng biết bao. Với cái sừng mà Xuân Tóc Đỏ vô tình hay cố ý gắn cho ông Phán cũng đủ để ông cám ơn hắn. Trong bầu không khí của một đám ma nhốn nháo, "thằng bồi tiêm đã đếm được một nghìn tám trăm bảy hai, câu gắt "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!" của cụ cố Hồng thì ông Phán mọc sừng đã kịp chi tính với Xuân công cuộc doanh thương... mà trước tiên là đã trả nốt năm đồng cho Xuân. Ngay trong giờ phút thiêng liêng của một đời người đã kết thúc ấy mà người ta vẫn không quên đi được chút ít ánh hào quang của đồng tiền, họ càng lao theo nó say đắm và đam mê hơn.

"Trước những cặp mắt của một bầy con chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ tổ", thì cụ cố Hồng lại nhắm nghiền mắt kêu khổ lắm. Sao mà bộ mặt giả dối của họ xấu xa và đê hèn đến thế. Họ đến với đám ma là để trưng bày trang phục sáng tạo của mình cho mọi người "chiêm ngưỡng". Cậu Tú Tân thì cứ điên người lên vì cậu đã sẵn sàng mấy cái máy ảnh mà cậu mãi không được dùng đến. Bà Văn Minh thì sốt ruột vì mãi không được mặc những đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn trắng viền đen – là "những sáng tạo mốt mới nhất". Những cái rất ăn với nhau mà tiệm Âu hóa một khi đã lăng xê ra thì có thể ban cho những ai có tang đương đau đớn vì kẻ chết cũng được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời. Vậy là, họ đi đám ma dường như là đi dự đám cưới. Họ chỉ biết thỏa mãn cái mong muốn, ước vọng của mình trong khi không hề để ý đến ai đã khám cho cụ tổ khi cụ bị bệnh và sau khi qua đời. Còn cô cháu gái của cụ - cô Tuyết thì rất tự nhiên phơi bày những bộ đồ tân thời không hợp chút nào. Với bộ y phục Ngây thơ của Tuyết và vẻ ngóng nhân tình của cô ta đã đủ cho thấy cái chết cùa cụ tổ chỉ làm cho họ hạnh phúc, sung sướng mà thôi.

Mỗi người, mỗi vẻ, mấy ông cảnh binh Min Đơ và Min Toa cũng sung sướng cực điểm khi được cái đám ma "to lớn" này thuê giữ gìn trật tự. "Thành thử tang gia ai cũng vui vẻ cả". Một đám ma theo cả lối Ta, Tàu, Tây, "có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng và bú dích và vòng hoa, có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa, có cậu Tú Tân chỉ huy" lộn xộn, lao xao và huyên náo, nó xứng đáng như là một hội chợ để các nhà tài tử thi nhau chụp ảnh. "Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu". Câu văn nghe sao mà chua chát và cay đắng đến vậy. Dường như trong cái xã hội phức tạp ấy không còn tồn tại tình người. Họ đối xử với nhau, đến với nhau chỉ là do ánh sáng chói chang của đua đòi lối sống "văn minh hiện đại" đưa lối, đôi chút suy nghĩ của họ đâu có gì gửi gắm vào bản thân người chết. Trong trái tim họ, dường như không còn có sự tồn tại của tình thương giữa người với người. Giữa họ là khoảng cách của sự tàn nhẫn và dối trá.

Đọc phần đầu của đoạn trích, cứ tưởng tâm địa của bọn con cháu cụ cố tổ ghê tởm đến thế là cùng. Nhưng chưa hết, chính lũ con cháu bất hiếu, vô đạo kia lại muốn khẳng định chúng là người hiếu thảo nhất trên đời. Đám ma mà chúng đang tổ chức phải trở thành một kiểu mẫu trong thiên hạ. Những kẻ mong chờ cho cha ông mau chết đã tìm thấy hạnh phúc vì đó là dịp để họ bày tỏ lòng hiếu thảo bằng cách tổ chức một đám ma thật to, thật vang, cái mong muốn "bẩn thỉu" ấy tồn tại trong mỗi đứa cháu, bất nhân, bất nghĩa là cả bao phức tạp, xô bồ của cuộc sống xã hội thối nát, "chó đều".

Câu chuyện của một gia đình trở thành cái tiêu biểu cho cả một xã hội. Từ cái hạnh phúc, sung sướng của một "lũ người gớm ghiếc" là một "thế thái nhân tình" được xây dựng trên nền tảng là sự tàn nhẫn và sự dối trá. Con người với con người đối với nhau mà như băng đá tê cứng, đông lạnh, không còn một chút hơi ấm của yêu thương. Cụ cố tổ mất đi lại không hề mảy may làm cho bất kì một con người nào đau khổ, bọn chúng tìm đến đám ma là để lấy và thực hiện sớm di chúc. Chỉ còn lặng lẽ sau trang sách là nỗi đau cười ra nước mắt và căm phẫn của nhà văn và độc giả. Những đứa cháu, con của cụ tự cho mình là chí hiếu, chúng không nhận thấy trong suy nghĩ, hành động của chứng là sự tàn nhẫn và dối trá đến cao độ. Nhịp cầu mà họ tạo nên để với đến hai chữ "chí hiếu" là từ tàn nhẫn và dối trá mà ra.

Cố lấy cái vẻ bề ngoài che đậy cái bên trong xấu xa, thối nát là một sự dối trá đến tàn nhẫn. Thế giới họ đang sống, đang tồn tại đâu có phải là một thế giới ân tình. Cái thế giới của tình người chỉ có khi con người biết tin yêu và tồn trọng lẫn nhau. Còn ở đây con người như là vật hiến dâng cho cái vòng quay bất nhân, bất hiếu.

Nỗi hạnh phúc, sung sướng của bản thân họ là khác nhau nhưng đều quy tụ chung dưới hai điều tàn nhẫn và dối trá. Những người đi đưa đám thật đông đảo, sự xấu xa, đồi bại của xã hội có mặt ở khắp nơi. Bằng điệp khúc: "đám cứ đi", tác giả đã đặc tả một đám ma thật to thiên hạ tha hồ chiêm ngưỡng. Nhưng trong cái đám ấy, chẳng có ai thật lòng đi đưa đám. Tất cả trong gia đình hay ngoài gia đình, già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà, tuy cố giữ bộ mặt buồn rầu nhưng thực lòng thì đang vui vẻ, hạnh phúc vì một điều gì đó. "Đám cứ đi" nghĩa là sự vô liêm sỉ, sự giả dối cứ ngang nhiên diễn ra không hề khép lại và chẳng biết sẽ kéo dài đến đâu, lúc nào thì kết thúc. Cái thế giới tình người mà tác phẩm, đoạn trích có nói, có thể hiện chỉ là sự tàn nhẫn và dối trá. Sự tàn nhẫn, dối trá ấy đâu chỉ diễn ra trong xã hội "người dưng", mà nó tồn tại sâu sắc, đậm nét hơn cả trong bản thân những con người cùng một gia đình, họ hàng, thân quen. Cái đám ma giàu sang, phú quý, ồn ào của cụ tổ đâu có thể che lấp được bản chất tàn nhẫn, dối trá của cụ Hồng, ông bà Văn Minh, Xuân Tóc Đỏ và cả sư cụ Tăng Phú...

Sư lố lăng của đám tang với hình ảnh của hai tên đại bịp xuất hiện - Xuân Tóc Đỏ và sư cụ Tăng Phú lại làm cho cái tàn nhẫn và dối trá được bộc lộ rõ hơn, sâu sắc hơn. Tại sao bà cụ cố Hồng lại hí hửng vì sự có mặt của hai nhân vật này? Vì sáu chiếc xe có lọng cắm trên chở sư chùa Bà Banh? Vì hai vòng hoa đồ sộ? Điều đó ai mà biết được! Chỉ biết sự có mặt của những thứ trên làm cho đám tang vốn đã lố lăng càng thêm lố lăng. Chỉ biết sư cụ Tăng Phú đã chớp lấy "thời cơ tang gia để kiếm lợi trong cuộc đấu tranh chính trị nhằm củng cố thanh thế của Hội Phật giáo". Còn Xuân Tóc Đỏ lại là ân nhân của gia đình cụ cố Hồng và là "người chồng ăn hỏi" của cô Tuyết.

Hạnh phúc gia đình, dưới con mắt sắc sảo của Vũ Trọng Phụng, những con người xấu xa ấy không phải là một "nhóm người", chúng thật đông đảo và có mặt ở khắp nơi. Bởi vậy, có người coi đám tang của cụ cố tổ là hành trình xuống mộ của toàn xã hội thực dân phong kiến. Bởi sự dối trá, tàn nhẫn của nó đã đến hồi bộc lộ trắng trợn, vui vẻ ầm ĩ thế kia thì ai để cho nó tồn tại, làm trò hề mãi được.

2.7. Bài văn mẫu 7

Một trong những chương truyện đặc sắc nhất trong tác phẩm Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng có lẽ chính là Hạnh phúc của một tang gia. Sự trào phúng trong chương truyện đã phản ánh phần nào nội dung của cả tác phẩm. Tang gia và hạnh phúc, tưởng chừng như đây là một cách nói đùa nhưng thực chất nó lại rất hiện thực đối với câu chuyện của nhà cụ cố Hồng.

Bởi vì cái chết của cụ cố tổ là mong ước của nhiều người, là niềm mong mỏi của tất cả các con cháu trong nhà. Thế nên sau bao lần chết đi sống lại thì cuối cùng ông cụ đã chết thật. Quả là cụ cố tổ sống lâu con cháu ghét, nên cụ mất ai ai cũng mừng thầm, ai ai cũng có một niềm hạnh phúc riêng cho mình.

Con trai ông, cụ cố Hồng vậy là từ nay chính thức lên ngai vàng, trở thành người bề thế, đức cao vọng trọng nhất nhà. Từ nay ông có thể khoe với thiên hạ về sự già cả của mình, về vẻ lụ khụ đầy uy quyền của một người đứng đầu cả gia đình văn minh.

Con dâu cụ cố tổ thì sung sướng bởi không dịp nào có thể khoe được oai nghiêm gia đình bằng dịp này được nữa. Bà có thể phô trương thanh thế với cả thiên hạ, có thể khoe với thiên hạ về cái đám ma có một không hai, to nhất cả xứ, cái đám ma mà có kiệu bát cống, kèn Tây ta lẫn lộn, có máy ảnh chụp tới tấp, có vòng hoa phủ kín, có người đi đưa đông đúc, nói chung là có sư rình rang, quy mô của một gia đình vọng trọng.

Cháu trai Văn Minh thì sung sướng vì từ nay cái chúc thư đã đi vào thời kì thực hành, không còn là trên giấy tờ nữa. Niềm hạnh phúc của ông Văn Minh là niềm hạnh phúc rõ ràng và liên quan nhiều nhất đến giá trị vật chất. Cháu dâu Văn Minh thì hạnh phúc bởi đây là thời cơ để cửa hàng của bà có thể phô ra những mẫu áo tang tân tiến với cả bàn dân thiên hạ. Họ sẽ thấy được những nét cách tân quyến rũ trong cửa tiệm Âu hóa của bà được trưng diện ở cái đám tang này thế nào.

Cô cháu gái Tuyết thì mượn cái đám tang của ông là cơ hội để chứng minh sự ngây thơ trong trắng của mình và khoe vẻ đẹp xuân thì qua những mẫu áo cách tân. Cô chả đưa mắt tìm người yêu rồi mang một vẻ buồn lãng mạn đầy khuê các, e ấp trong cái đám tang của ông nội còn gì.

Với cháu trai Tú Tân thì đám ma là dịp để cậu khoe ra cái tài sử sụng máy ảnh của mình, cái tài điều binh khiển tướng của một nghệ thuật gia chuyên nghiệp. Phải biết rằng vào thời kì này mà có được cái máy ảnh là phải rất sang, rất giàu có và sành điệu. Vậy nên cậu phải chứng tỏ bản thân bằng cách nhảy cả lên mộ để chỉ đạo đoàn quân hạ huyệt, chụp ảnh.

Cháu rể Phán mọc sừng vì thấy sung sướng vì cái sự thật mọc sừng của mình thế là được tất cả mọi người biết đến, không những vậy còn làm cho cụ cố tổ chết. Ông rồi đây có thể hãnh diện với thiên hạ rằng tôi là người chồng bị mọc sừng, tôi bất hạnh và bị phản bội.

Với Xuân tóc đỏ, hắn mượn đám tang để làm nổi cho hình ảnh của bản thân là người lịch lãm tươm tất và rất hào hoa, hắn mượn dịp này để đòi nợ ông Phán mọc sừng.

Người trong nhà đã vậy, đến cả những người ngoài, bạn bè thân bằng cố hữu gần xa cũng mang đến đám tang những niềm hạnh phúc độc đáo. Các ông già thì mượn đám tang để khoe huân huy chương, thành tích, uy danh của bản thân. Không những vậy ở đây các ông còn có cơ hội để mà ngắm nhìn vẻ đẹp của những thiếu nữ trong đám tang như cô Tuyết chẳng hạn. Những giai thanh gái lịch, lớp thanh niên trẻ trung thì mượn đám tang thành dịp gặp gỡ, giao lưu, chim chuột, hò hẹn với nhau.

Không khí đám tang quả có vui tươi như một ngày hội. Ai ai đến tham dự cũng mang theo những tâm tư riêng và họ đã khiến cái đám tang đúng thật là trở thành rạo rực, nhộn nhịp không đâu bằng, đến người chết có khi cũng phải bật dậy mà hài lòng.

Quả thật xây dựng được niềm hạnh phúc của các nhân vật trong câu chuyện, tác giả Vũ Trọng Phụng đã khiến người đọc được mở mang tầm mắt, cảm nhận được rõ ràng tâm tư tình cảm của mỗi người và khung cảnh đám tang trong câu chuyện từ đó hiểu được sự logic của tác phẩm. Đám tang như thế này thì đúng là hạnh phúc thật, hạnh phúc đến trào phúng.

------------------------

VnDoc.com vừa giới thiệu tới các bạn 7 bài văn mẫu phân tích về tâm trạng của các nhân vật trong tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng. Qua bài viết này bạn đọc có thể thấy được tâm trạng của những người thân trong đám tang của cụ cố tổ. Phần đầu các bạn cần giới thiệu được tác giả, tác phẩm và tâm trạng các nhân vật trước cái chết của cụ cố Tổ là một khía cạnh làm nên chất trào phúng cho đoạn trích. Trước cái chết của người thân thì tâm trạng của mọi người phải tỏ ra buồn đau nhưng không nó hoàn toàn ngược lại cho người đọc một cảm giác phẫn nộ. Cụ cố Hồng thì háo danh, cảm thấy vui mừng khi qua cái chết của cha mà mình được mọi người biết đến. Cụ bà thì cảm thấy sung sướng. Vợ chồng Văn Minh thì hám lợi, những người cháu thực dụng, thiếu tình người. Tuyết cảm thấy vui vì có dịp mặc bộ y phục mới ngây thơ, người con gái hư hỏng lẳng lơ. Phán mọc sừng chỉ coi trọng và vui mừng vì mình được thêm một khoản. Một bầy cháu con chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ Tổ. Bạn bè cụ cố Hồng những kẻ vừa háo danh, vừa háo sắc, họ chia buồn để khoe khoang các loại râu ria cùng những huân huy chương. Sư cụ Tăng Phú sung sướng và vênh váo ngồi trên một chiếc xe. K hông một ai thực sự tiếc thương cho sự ra đi của người đã mất, đây là những con người không một chút hiếu nghĩa, mất hết tình người. Những nét nghệ thuật tiêu biểu thể hiện thành công tâm trạng của các nhân vật trong đoạn trích: bút pháp hiện thực, nghệ thuật trào phúng… khắc họa từng chân dung, đặc sắc, riêng biệt với tiếng cười châm biếm sâu cay. Vạch trần bộ mặt giả dối của xã hội đương thời.

Trên đây VnDoc.com vừa giới thiệu tới bạn đọc Văn mẫu lớp 11: Phân tích tâm trạng các nhân vật trong Hạnh phúc của một tang gia. Các bài soạn bài lớp 11 được VnDoc sưu tầm sẽ giúp các bạn học tốt môn Ngữ văn 11. Ngoài ra bạn đọc có thể tham khảo thêm các đề thi học kì 1 lớp 11, đề thi học kì 2 lớp 11 mà chúng tôi chuẩn bị.

Đánh giá bài viết
1 11
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Văn mẫu lớp 11 Xem thêm