Bộ đề thi học kì 2 môn Ngữ văn lớp 7 năm 2026 có đáp án
Đây là tài liệu Cao cấp - Chỉ dành cho Thành viên VnDoc ProPlus.
- Tải tất cả tài liệu lớp 7 (Trừ Giáo án, bài giảng)
- Trắc nghiệm không giới hạn
Bộ đề thi Văn cuối kì 2 lớp 7 năm 2026
Bộ đề thi học kì 2 lớp 7 môn Văn năm 2025 - 2026 bao gồm 3 đề thi được biên soạn theo cấu trúc mới và 35 đề thi theo cấu trúc cũ. Đây là tài liệu hay cho thầy cô tham khảo ra đề và ôn luyện cho học sinh. Đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các em ôn luyện và thử sức trước kì thi học kì 2 Văn 7 sắp tới.
Link tham khảo chi tiết từng bộ đề:
- Bộ đề thi học kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức
- Bô Đề thi học kì 2 Văn 7 Chân trời sáng tạo
- Bộ Đề thi học kì 2 Văn 7 Cánh diều
1. Đề thi cuối kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức
1.1 Đề thi cuối học kì 2 Văn 7 KNTT cấu trúc mới
Phần I. Đọc - hiểu
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
“Cậu bé thợ nề hôm nay đến chơi nhà chúng tôi, mặc chiếc áo vét cắt lại từ cái áo cũ của bố và còn dính lại những vết vôi và thạch cao. [...]
Chúng tôi cùng nhau chơi trò xây dựng. Cậu bé thợ nề thân yêu ấy khéo léo lạ lùng khi dựng lên những ngọn tháp và những chiếc cầu đứng vững tựa hồ do một phép màu nhiệm nào; cậu xây dựng các công trình ấy với vẻ nghiêm chỉnh và nhẫn nại của một người lớn bé nhỏ. Xây tháp này xong xây tháp khác, cậu nói chuyện với tôi về gia đình mình. Bố mẹ và cậu và ở trên một cái gác xép: bố cậu theo học lớp ban đêm để biết đọc. Chắc bố mẹ cậu thương cậu lắm, điều đó thấy rõ ở chỗ quần của cậu tuy xấu nhưng mặc rất ấm; người ta đã cẩn thận may lót rất dày, và cái cà vạt cậu đeo là do mẹ cậu tự tay thắt cho rất ngay ngắn. […]
Đến bốn giờ, chúng tôi được ăn chiều, ngồi trên ghế da dài; và khi chúng tôi ăn xong đứng dậy, không hiểu tại sao bố lại không muốn tôi phủ sạch vết vôi trắng mà cái áo của cậu bé thợ nề đã để dây trên lưng ghế; bố giữ tay tôi lại, và mãi về sau mới tự mình phủi lấy một cách kín đáo. Trong khi chơi, cậu bé thợ nề đánh mất một chiếc khuy áo, mẹ tra lại cho cậu. Mặt đỏ như gấc, cậu chẳng nói chẳng rằng khi thấy mẹ khâu; cậu không dám thở vì quá lúng túng trước sự chăm sóc của mẹ đối với cậu. Tôi đưa cho cậu xem những quyển album sưu tầm những bức kí họa; thế là tự nhiên chẳng nghĩ đến, cậu liền bắt chước những nét nhăn nhó mặt mày vẽ trong tranh, tài đến nỗi bố phải bật cười.”
(Trích “Những tấm lòng cao cả”, E.Đ. A-mi-xi, NXB Văn học, 2013)
Câu 1. Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2. Theo em, tại sao người bố lại không muốn con phủi sạch vết vôi trắng mà cái áo của cậu bé thợ nề đã để dây trên lưng ghế?
Câu 3. Chi tiết “cậu không dám thở vì quá lúng túng trước sự chăm sóc của mẹ” gợi lên điều gì về cảm xúc của cậu bé thợ nề?
Câu 4. Từ “lúng túng” trong đoạn trích trên có ý nghĩa gì?
Câu 5. Tìm ba từ đồng nghĩa với từ “nhẫn nại”.
Câu 6. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn in đậm.
Câu 7. Hành động của người bố trong đoạn trích cho thấy được cách ứng xử đáng trân trọng và đầy tinh tế. Đó là điều vô cùng cần thiết khi giao tiếp với mọi người trong cuộc sống. Em sẽ ứng xử với mọi người như thế nào để gây dựng được mối quan hệ tốt đẹp?
Phần II. Viết
Viết bài văn (khoảng 500) chữ trình bày suy nghĩ về hiện tượng nói tục, chửi bậy của học sinh hiện nay.
Xem đáp án trong file tải
1.2 Đề thi học kì 2 Văn 7 KNTT cấu trúc cũ
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
LỄ CÚNG TẠ ƠN CHA MẸ CỦA NGƯỜI J’RAI VÀ BA NA
Khi người con đã trưởng thành, có đủ điều kiện kinh tế thì sẽ tổ chức một lễ gọi là Lễ tạ ơn để cảm ơn công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Đây thật sự là một nét đẹp trong đời sống văn hóa ứng xử của cộng đồng người J’rai và Ba Na ở Kon Tum. Mặc dù họ là hai dân tộc khác nhau hoàn toàn về ngôn ngữ, tập quán… nhưng lại gặp nhau ở điểm chung trong văn hóa ứng xử này. Điều này đã thể hiện đạo lý của con cái đối với cha mẹ và đề cao vai trò nuôi nấng, dạy dỗ của bậc sinh thành dành cho con cái từ xưa đến nay.
Lễ cúng tạ ơn cha mẹ, người J’rai gọi là Chal mơ nê kơ mi ma (teh rơ mơ kơ mi ma bui); còn người Ba Na gọi là Khop bơnê kơ me pa. Thường được tổ chức vào tiết nông nhàn (Ning nơng), sau lễ mừng lúa mới. Đây là lễ của người con ruột đã có gia đình, có nhà riêng và làm ăn khấm khá. Sẽ tự nguyện thông báo với dòng tộc, bố mẹ về việc muốn tổ chức ngày lễ để tạ ơn cha mẹ đã sinh và nuôi dạy mình nên người. Tùy vào điều kiện kinh tế của người con quyết định vật cúng, nếu giàu có thì mổ bò còn nếu không thì một con heo lớn, một con gà và một ghè rượu ngon. Mặc dù lễ Cúng tạ ơn cha mẹ chỉ gói gọn trong từng gia đình, dòng tộc nhưng Lễ được tổ chức khá long trọng trong hai ngày. Thông thường ngày đầu tiên là dành cho phần lễ trong gia đình thân thuộc, còn ngày hôm sau mới mời bà con, anh em ở làng xa đến ăn uống chung vui.
Vào ngày đã được sự đồng ý của cha mẹ. Gia đình người con sẽ mang lễ vật đến, một ghè rượu ngon đặt giữa nhà và bắt đầu mổ gà và heo (bò). Lấy tiết con vật cúng bôi lên ghè rượu, lấy một phần gan sống của các con vật đem xâu vào cây tre rồi cột trên miệng ghè để cúng ông bà tổ tiên và một phần đem ra ngoài sân cúng thần linh. Gà, thịt heo được nướng, xâu vào cây tre rồi cùng cột vào cây nơi buộc ghè rượu. Họ sẽ lấy một nhánh lá rừng nhúng vào trong ghè rượu cúng rồi phẩy rượu lên cha mẹ và con. Tiếp theo cha mẹ và con sẽ lần lượt khấn vái thần linh, ông bà tổ tiên, mời họ về cùng hưởng và chứng kiến sự hiếu thuận của con cháu. Cảm ơn họ đã ban cho sự giàu có, no đủ, gia đình bình yên, hạnh phúc...
Sau đó chính tay người con sẽ làm các món ăn ngon dâng lên cha mẹ mình. Thông thường là làm theo khẩu vị mà cha mẹ mình thích ăn nhất. Gà sẽ được lóc xương nấu cháo; heo sẽ lấy phần thịt thăn đem nướng. Sau khi đã chuẩn bị xong, người con mang đến dâng cho mẹ mình ăn trước và mời mẹ uống cang rượu cần đầu tiên rồi mới đến cha, đồng thời cũng nhắc lại thời thơ ấu đã được mẹ nuôi nấng, nhờ có dòng sữa mẹ nên mới lớn khôn và nhờ cha đã dạy dỗ, chở che nên được như hôm nay. Người mẹ, cha nhận lời và cũng cảm ơn con đã biết hiếu thuận, nhớ ơn sinh thành, cầu mong con sẽ không bị đau ốm và làm ăn ngày càng tốt hơn nữa.
Câu 1: Hai câu văn: “Họ sẽ lấy một nhánh lá rừng nhúng vào trong ghè rượu cúng rồi phẩy rượu lên cha mẹ và con. Tiếp theo cha mẹ và con sẽ lần lượt khấn vái thần linh, ông bà tổ tiên, mời họ về cùng hưởng và chứng kiến sự hiếu thuận của con cháu.”sử dụng phép liên kết nào? ( NB)
A. Phép lặp, phép nối
B. Phép thế, phép lặp
C. Phép thế, phép nối
D. Phép nối, phép đồng nghĩa.
Câu 2: Công dụng của dấu chấm lửng trong câu: “Cảm ơn họ đã ban cho sự giàu có, no đủ, gia đình bình yên, hạnh phúc...” là gì? ( NB)
A. Tỏ ý còn nhiều sự vật, hiện tượng tương tự chưa liệt kê hết;
B. Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở hay ngập ngừng, ngắt quãng;
C. Làm giãn nhịp điệu câu văn, chuẩn bị cho nội dung bất ngờ;
D. Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt.
......................
II. VIẾT (4,0 điểm)
Có ý kiến cho rằng: “Sống trải nghiệm là lối sống rất cần thiết cho giới trẻ hôm nay”. Em hãy viết bài văn bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến trên? ( VDC)
2. Đề kiểm tra cuối học kì 2 Văn 7 Chân trời sáng tạo
2.1 Đề thi học kì 2 Văn 7 CTST cấu trúc mới
Phần I. Đọc hiểu
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Tên thì rõ ràng là rạch, nhưng đoạn chảy gần chợ người ta lại gọi kinh, và dòng chảy bị bóp nghẹt bởi hai dãy nhà san sát. Rạch Rập chảy sâu về phía Nam thì rộng dần ra, qua những ruộng vườn xanh ngắt nghe trẻ con rủ nhau tắm sông tụi bây ơi.
Hồi tôi bảy tuổi, đó là con sông rộng nhất trần đời. Nhất là những buổi chiều tần ngần nhìn ông ngoại chống xuồng đưa má qua sông, rồi má một mình lội men theo bờ ruộng lên lộ xe, đi thêm gần chục cây số nữa, là đến nhà. Cái tổ đó tôi chui rúc cho đến năm bảy tuổi, cái tuổi cần tới trường mà ngoảnh đi ngoảnh lại trường nào cũng xa, đường nào tới chữ cũng bị mưa nhấn chìm ngoi ngóp. Má đưa tôi về ở với ngoại, trường học cách nhà ngoại chỉ một mảnh vườn, còn gì tiện bằng. Chủ nhật tôi tha thẩn chạy chơi ở đâu cũng ráng dỏng lỗ tai ngóng bên sông coi có ai kêu ới lên không. Phía đó lao xao có nghĩa là má vô thăm, có khi đi cùng ba, cùng anh hay chị. Buổi má ra về, chắc thấy nắng úa dần trên đám lá dừa nước trước nhà ngoại chưa đủ cho tôi mủi lòng, mấy con bìm bịp còn đem rải tiếng kêu rầu rĩ lên mặt sông đang đầy cho buổi tiễn đưa sầu sâu thêm nữa.
[…] Dòng sông chỉ chảy qua đời tôi hai năm chẵn, nhưng đã mặc định mãi mãi trong tôi rằng, sông thì buồn. Tôi té xuống sông Tiền, đi thuyền trên sông Hàm Luông, ra chơi giữa sông Hồng, thò chân xuống sông Nho Quế, nghe Sereprok sôi réo… thì vẫn không nguôi được cảm giác buồn của sông. Muôn thuở. Của chia cắt, của thầm lặng, của những cuộc luân lạc1 gần như bất tận, của sự cho đi, chỉ có cho đi.
(Trích “Rạch Rập” - In trong tập “Bánh trái mùa xưa”, Nguyễn Ngọc Tư, NXB Hội Nhà văn, tr.5,7)
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể loại nào?
Câu 2. Tại sao nhân vật "tôi" lại cho rằng dòng sông là “buồn”?
Câu 3. Qua đoạn trích, em cảm nhận được tình cảm của nhân vật "tôi" đối với dòng sông như thế nào? Hãy chỉ ra một chi tiết thể hiện rõ nhất tình cảm đó.
Câu 4. Câu văn “Dòng sông chỉ chảy qua đời tôi hai năm chẵn, nhưng đã mặc định mãi mãi trong tôi rằng, sông thì buồn” có ý nghĩa gì đối với nhân vật "tôi"?
............................
Phần II. Viết
Viết bài văn khoảng 1,5 trang giấy trình bày cảm nhận của em về bài thơ “Đưa con đi học” của Tế Hanh.
ĐƯA CON ĐI HỌC
“Sáng nay mùa thu sang
Cha đưa con đi học
Sương đọng cỏ bên đường
Nắng lên ngời hạt ngọc
Lúa đang thì ngậm sữa
Xanh mướt cao ngập đầu
Con nhìn quanh bỡ ngỡ
Sao chẳng thấy trường đâu?
1 Luân lạc: Dùng để miêu tả quá trình di chuyển, thay đổi, chia cắt (“Luân” là vòng xoay, “lạc” là mất mát, tách rời, không ổn định)
....................
2.2 Đề thi cuối kì 2 Văn 7 CTST cấu trúc cũ
I. TRẮC NGHIỆM ĐỌC - HIỂU: (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TRÒ CHƠI “CHIM BAY CÒ BAY”
a. Mục đích:
Trò chơi Chim bay cò bay hình thành tinh thần tập thể, luyện sự chú ý và phản xạ tốt, tập thể dục nhẹ nhàng cho trẻ.
b. Chuẩn bị:
Tập hợp các bé đứng thành một vòng tròn, mặt hướng vào tâm.
Bài đồng giao được sử dụng trong trò chơi
“Xấu hổ
Lấy rổ mà che
Lấy nong mà đậy
Lấy chày đập bóng.”
c. Hướng dẫn chơi:
Mọi người đứng chung quanh tạo thành một vòng tròn và sẽ có một người điều khiển trò chơi đứng ở ngay giữa.
Người điều khiển nói “chim bay” đồng thời nhảy bật lên, giang hai cánh tay như chim đang bay.
Lúc đó, các trẻ phải làm động tác và hô theo người điều khiển.
Nếu người điều khiển hô những vật không bay được chẳng hạn như “nhà bay” hay “bàn bay” mà trẻ nào làm động tác bay theo người điều khiển hay những vật bay được mà lại không làm động tác bay thì sẽ bị phạt bằng cách lò cò một vòng bên ngoài vòng tròn.
Trong lúc bị phạt lò cò, các trẻ còn lại có thể vừa vỗ tay vừa hát các câu đồng dao có ý chọc bạn như:
Xấu hổ
Lấy rổ mà che
Lấy nong mà đậy
Lấy chày đập bóng.
Điều này, sẽ tạo nên sự lôi cuốn cho trò chơi hơn, có thể biến tấu thêm phần “cá lặn” hay “tàu lặn,vịt lặn”…để xem kẽ với trò “Chim bay, cò bay”.
(In trong 100 trò chơi dân gian cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng , 2014)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Văn bản “Chim bay cò bay” thuộc thể loại nào ?
A. Văn bản nghị luận
B. Văn bản truyện ngụ ngôn
C. Văn bản truyền thuyết
D. Văn bản thông tin
Câu 2: Văn bản “chim bay cò bay” cung cấp được những thông tin cơ bản nào?
A. Mục đích, hướng dẫn chơi, luật chơi
B. Mục đích, chuẩn bị, hướng dẫn chơi
C. Nguồn gốc, hướng dẫn chơi, luật chơi
D. Mục đích, hướng dẫn chơi, hình thức xử phạt
Câu 3: Văn bản “Chim bay cò bay” hướng dẫn bao nhiêu cách chơi? A. 3 cách chơi
B. 2 cách chơi
C. 1 cách chơi
D. 4 cách chơi
.................................
Câu 9: Trò chơi “Bịt mắt bắt dê” mang đến cho em những trải nghiệm gì?
Câu 10: Hãy kể tên hai lễ hội mà em biết ở địa phương em?
II. VIẾT: (4,0 điểm)
Đề: Suy nghĩ về hiện tượng bạo lực học đường trong trường học hiện nay.
3. Đề kiểm tra cuối học kì 2 Ngữ văn 7 Cánh diều
3.1 Đề thi học kì 2 Văn 7 Cánh diều cấu trúc mới
Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm) Đọc văn bản sau:
Dặn mẹ
|
Ngày mai con đi xa Mẹ đừng buồn mẹ nhé Chín tháng nhanh như mây Trôi miên man đầu ngõ
Mẹ đừng rơi nước mắt Đừng buồn lúc chiều buông Đừng quên ngàn câu hát Cho thềm nhà nở hoa …………………………… |
Mẹ ơi những ngày xa Là con thương mẹ nhất Mẹ đặt tay lên tim Có con đang ở đó
Như ngọt ngào cơn gió Như nồng nàn cơn mưa Với vạn ngàn nỗi nhớ Mẹ dịu dàng trong con! (Trích “Dặn mẹ”, Đỗ Nhật Nam) |
Thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Câu 1. Xác định thể thơ của bài “Dặn mẹ”.
Câu 2. Chỉ ra từ láy trong đoạn thơ trên.
................
Phần II. Viết
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận hai khổ thơ cuối của bài “Dặn mẹ” (Đỗ Nhật Nam).
....................
3.2 Đề thi học kì 2 Văn 7 Cánh diều cấu trúc cũ
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II
Môn Ngữ văn lớp 7
Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian giao đề
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Vào một ngày hè nắng chói chang và gió thổi mát rượi, một chú châu chấu xanh nhảy tanh tách trên cánh đồng, miệng chú ca hát ríu ra ríu rít. Bỗng chú bắt gặp chú kiến đi ngang qua, kiến đang còng lưng cõng một hạt ngô để tha về tổ. Châu chấu cất giọng rủ rê: “Bạn kiến ơi, thay vì làm việc cực nhọc, chi bằng bạn hãy lại đây trò chuyện và đi chơi thoả thích cùng tớ đi!”. Kiến trả lời “Không, tớ bận lắm, tớ còn phải đi kiếm thức ăn để dự trữ cho mùa đông sắp tới. Bạn cũng nên làm như vậy đi bạn châu chấu ạ”.
- “Còn lâu mới tới mùa đông, bạn chỉ khéo lo xa…”. Châu chấu mỉa mai. Kiến dường như không quan tâm tới những lời của châu chấu xanh, nó tiếp tục tha mồi về tổ một cách chăm chỉ và cần mẫn. Thế rồi mùa đông lạnh lẽo cũng tới, thức ăn trở nên khan hiếm, châu chấu xanh vì mải chơi không chuẩn bị lương thực nên giờ sắp kiệt sức vì đói và rét. Nó đến cầu cứu và được con kiến giúp đỡ. Còn kiến thì có một mùa đông no đủ với một tổ đầy những ngô, lúa mì mà nó đã chăm chỉ tha về suốt cả mùa hè.
(“ Kiến và Châu Chấu”- Truyện ngụ ngôn Việt Nam)
Câu 1. Truyện Kiến và Châu chấu thuộc thể loại nào?
A. Truyện thần thoại.
B. Truyện ngụ ngôn.
C. Truyền thuyết.
D. Truyện cổ tích.
Câu 2. Truyện được kể ở ngôi thứ mấy?
A.Ngôi thứ nhất.
B. Ngôi thứ `ba
Câu 2. Trong đoạn 1 , châu chấu xanh gặp kiến trong hoàn cảnh nào?
A. Kiến đang cõng một hạt ngô để tha về tổ.
B. Kiến đang làm việc xây tổ.
C. Kiến đang ca hát.
D. Kiến đang lao động
.......................
Câu 9. Hãy chỉ ra sự khác nhau trong tính cách của Châu chấu và Kiến?
Câu 10 . Những bài học tâm đắc mà em rút ra từ câu chuyện?
II. VIẾT (4.0 điểm)
Có ý kiến cho rằng: “Trong cuộc sống hôm nay, những trải nghiệm thật là cần thiết đối với các bạn trẻ”. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về ý kiến trên?
------------------------- Hết -------------------------
Mời thầy cô và các em tải về xem trọn bộ đề thi và đáp án