Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài

1 751

VnDoc xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài, tài liệu đã được VnDoc tổng hợp và đăng tải bao gồm cách lập dàn ý và những bài văn mẫu hay để phục vụ các bạn học sinh lớp 11 học tốt hơn môn Ngữ văn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo.

Dàn ý Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài

Giới thiệu chung

- "Vũ Như Tô" là vở kịch xuất sắc của Nguyễn Huy Tưởng và của nền kịch Việt Nam hiện đại. Tác phẩm được sáng tác năm 1941, dựa trên một sự kiện lịch sử xảy ra ở kinh thành Thăng Long vào thời Hậu Lê.

- Trong đoạn trích được học, gây ấn tượng sâu sắc nhất là bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô.

Trình bày cảm nghĩ về bi kịch nhân vật Vũ Như Tô

Những nét chính trong bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô

Bi kịch Vũ Như Tô là bi kịch của người nghệ sĩ có tài và có hoài bão lớn, nhưng không giải quyết được những mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và đời sống, đặc biệt là không giải quyết được thực sự đúng đắn vấn đề sáng tạo nghệ thuật cho ai và để làm gì.

- Vũ Như Tô muốn xây dựng một công trình kiến trúc vĩ đại, tuyệt mĩ, tô điểm cho non sông và mục đích đó là hết sức cao đẹp, xuất phát từ thiên chức của người nghệ sĩ, từ lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.

- Nhưng trên thực tế, Cửu Trùng Đài xây trên tiền của, mồ hôi, xương máu của nhân dân và nếu được hoàn thành, nó cũng chỉ là nơi ăn chơi sa đọa của vua chúa. Vũ Như Tô đã sai lầm khi lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình, chỉ đứng trên lập trường nghệ sĩ nên trở thành kẻ đối nghịch với nhân dân.

- Chính vì vậy, nhân dân căm hận bạo chúa, đồng thời cũng oán trách, nguyền rủa người kiến trúc sư và cuối cùng đã giết chết cả Lê Tương Dực lẫn Vũ Như Tô, đốt cháy Cửu Trùng Đài.

Trình bày cảm nghĩ

- Thương cảm người nghệ sĩ có tài, có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn sàng hi sinh tất cả cho cái đẹp, nhưng xa rời thực tế mà phải trả giá đắt bằng sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật của mình.

- Không có cái đẹp tách rời cái chân, cái thiện. Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ mang cái đẹp thuần túy, mà phải có mục đích phục vụ nhân dân. Người nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại cho muôn đời, nhưng cũng phải biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiện thực tế của cuộc sống, với đòi hỏi của muôn dân.

- Xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài năng quý trọng nâng niu những sản phẩm nghệ thuật đích thực.

Kết luận

Qua bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy tư sâu sắc về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với hoạt động sáng tạo nghệ thuật và hiện thực đời sống của nhân dân.

Audio Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài

Video Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài

Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài mẫu 1

Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) xuất thân trong một gia đình Nho giáo ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội). Năm 1943, ông tham gia Hội Văn hoá cứu quốc do Đảng lãnh đạo và là đại biểu tham dự Quốc dân Đại hội ở Tận Trào tháng Tám năm 1945. Trong sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử và có đóng góp nổi bật ở các thể loại tiểu thuyết và kịch. Văn phong của ông giản dị, trong sáng và thâm trầm, sâu sắc. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm chính: Các vở kịch Vũ Như Tô (1941), Bắc Sơn (1946), Những người ở lại (1948), kịch bản phim Lũy hoa (1960); các tiểu thuyết Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1945), Sống mãi với Thủ đổ (1961); kí: Kí sự Cao - Lạng (1951),… Vũ Như Tô là vở kịch đặc sắc của Nguyễn Huy Tưởng.

Qua tấn bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đặt ra những vấn đề sâu sắc, có ý nghĩa muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời với lợi ích thiết thân và trực tiếp của nhân dân.

Vũ Như Tô - một kiến trúc sư thiên tài bị vua Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ vốn là một nghệ sĩ chân chính gắn bó với nhân dân, cho nên mặc dù bị Lê Tương Dực dọa giết, Vũ Như Tô vẫn ngang nhiên chửi mắng tên hôn quân ấy và kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài (hồi I).

Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu Cầu của Lê Tương Dực, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn, trổ hết tài năng để xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài vĩ đại bền như trăng sao, có thể tranh tinh xảo với hóa công để cho dân ta nghìn thu còn hãnh diện.

Theo lời khuyên, Vũ Như Tô đã thay đổi thái độ, chấp nhận xây cửu Trùng Đài. Từ đó, ông dồn hết tâm trí và bằng mọi giá xây dựng tòa đài sao cho thật hùng vĩ, tráng lệ. Tuy nhiên, ông đã vô tình gây biết bao tai họa cho nhân dân. Để xây dựng Cửu Trùng Đài, triều đình ra lệnh tăng thêm sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc nã, hành hạ những người chống đối. Dân căm phẫn vua vì vua làm cho dân cùng, nước kiệt; thợ oán Vũ Như Tô bởi nhiều người đã chết vì tai nạn, vì ông cho chém đầu những kẻ chạy trốn. Công cuộc xây dựng càng gần thành công thì mâu thuẫn giữa tập đoàn thống trị xa hoa trụy lạc với dân chúng nghèo khổ, giữa Vũ Như Tô với những người thợ lành nghề và người lao động mà ông hằng yêu mến càng căng thẳng, gay gắt (hồi II, III, IV).

Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn ấy, Quận công Trịnh Duy Sản - kẻ cầm đầu phe đối lập trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết vua Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài bị chính những người thợ đập phá và thiêu hủy (hồi V).

Đoạn Vĩnh biệt Cữu Trùng Đài là hồi V của vở kịch, thể hiện hiểu biết sâu sắc về nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng: ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao; dùng ngôn ngữ, hành động của nhân vật để khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt và đẩy xung đột kịch đến cao trào.

Trong cung cấm, Đan Thiềm đột ngột hớt hơ hớt hải chạy vào, mặt cắt không còn hột máu, giục giã Vũ Như Tô hãy trốn mau bởi loạn đến nơi rồi. Dân gian đói kém nổi lên, quận công Trịnh Duy Sản mượn tiếng đi dẹp giặc rồi quay binh về làm loạn. Nhưng Vũ Như Tô kiên quyết không chịu rời Cửu Trùng Đài một bước. Vừa lúc đó, Nguyễn Vũ lật đật chạy vào hỏi tình hình lo lắng cho tính mạng của nhà vua. Lê Trung Mại xuất hiện thông báo Duy Sản đã đốt lửa hiệu giả báo có giặc, nhà vua lẻn ra cửa Bảo Khánh chạy giặc thì bị Ngô Hạch võ sĩ của Duy Sản đâm chết. Khâm Đức hoàng hậu hay tin cũng nhảy vào lửa tự thiêu. Nguyễn Vũ khóc lóc và rút dao tự tử. Một bọn nội gián khác thông báo thêm sau khi giết vua Lê Tương Dực, triều đình đã lập vua khác lên ngôi. Võ Tả Hầu là Phùng Mai đứng lên mắng quân phản nghịch đã bị chém đầu ngay lập tức. An Hòa Hầu ở bến Bồ Đề kéo quân về đốt phá kinh thành. Thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch. Đan Thiềm tiếp tục giục Vũ Như Tô đi trốn nhưng ông vẫn kiên quyết ở lại. Quân khởi loạn kéo vào. Đan Thiềm không thể xin tha được cho Vũ Như Tô, nàng bị chúng kéo đi nên chi còn biết Xin cùng ông vĩnh biệt Cửu Trùng Đài. Vũ Như Tô khăng khăng cho là mình không có tội, xin vào thưa với chủ tướng ý nguyện tốt đẹp khi xây Cửu Trùng Đài nhưng quân lính không nghe và cho biết chính An Hòa Hầu đã ra lệnh đốt sạch Cửu Trùng Đài. Vũ Như Tô đau đớn, vỡ mộng, chua chát chấp nhận cái chết bi thảm.

Vũ Như Tô và Đan Thiềm coi Cửu Trùng Đài là cả phần xác lẫn phần hồn của cuộc đời mình. Vì nó mà Vũ Như Tô chấp nhận làm việc cho hôn quân bạo chúa. Vì nó mà dù bị thương trên công trường, ông vẫn tiếp tục chỉ đạo công việc. Cũng vì nó, để giữ gìn kỉ luật, ông buộc phải trị tội những người thợ bỏ trốn. Cũng lại vì nó mà ông quyết ở lại trong cung cấm, giữa cơn biến loạn để bảo vệ không phải mạng sống của mình mà là bảo vệ Cửu Trùng Đài - sinh mạng nghệ thuật của cả đời ông.

Tính cách nổi bật nhất ở Vũ Như Tô là tính cách của người nghệ sĩ tài hoa hiện thân cho niềm khao khát và đam mê sáng tạo Cái Đẹp. Nhưng trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể, thì Cái Đẹp ấy thành ra phù phiếm. Nó sang trọng, siêu đẳng, thậm chí cao cả và đẫm máu như một bông hoa ác. Vì thế, đi đến tận cùng niềm đam mê, khao khát ấy, Vũ Như Tô tất phải đối mặt với bi kịch đau đớn của đời mình: ông trở thành kẻ thù của dân chúng, thợ thuyền mà không hay biết.

Tài ba của Vũ Như Tô được nói đến chủ yếu ở các hồi kịch trước, thông qua hành động của ông và nhất là qua lời của các nhân vật khác nói về ông. Tài nghệ của ông đạt đến mức siêu phàm, được Đan Thiềm ca ngợi là một thiên tài ngàn năm chưa dễ có một, có thể sai khiến gạch đá như viên tưởng cầm quân. Trong hồi thứ V, những lo lắng, toan tính và thái độ của Đan Thiềm khi nói về Vũ Như Tô đủ cho thấy cái tài ấy quả là hiếm hoi: tài kia không nên để uổng..; Ông mà có mệnh hệ nào thì nước ta không còn ai điểm tô nữa… Đừng để phi tài trời. Hồi V không nói nhiều đến tài năng của nhân vật (chỉ có Đan Thiềm nhắc đến) mà đặt Vũ Như Tô vào việc tìm kiếm một câu trả lời: Việc mình nhận xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai? Có công hay có tội? Nhưng Vũ Như Tô không trả tời được thỏa đáng câu hỏi đó bởi ông chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân, đứng trên lập trường Cái Đẹp mà không đứng trên lập trường Cái Thiện. Hành động của ông không hướng đến sự hòa giải mà thách thức và chấp nhận sự hủy diệt. Vũ Như Tô đã từng tranh tinh xảo vôi hóa công, giờ lại bướng bỉnh tranh phải – trái với số phận và với cuộc đời. Hành động kịch hướng vào cuộc đua tranh này và thể hiện tập trung qua diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô.

Vũ Nhự Tô vì chìm đắm trong khao khát, đam mê Cái Đẹp mà trở nên mơ mộng và ảo tưởng. Giấc mộng ấy bắt đầu từ khi ông quyết định nhận lời xây Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực, mượn tay bạo chúa để xây một công trình tô điểm cho đời. Càng sáng suốt trong sáng tạo thiết kế, thi công Cửu Trùng Đài bao nhiêu, Vũ Như Tô càng xa rời thực tế bấy nhiêu.

Ngay cả khi sự thật phũ phàng của Cơn biến loạn dội đến, Đan Thiềm cố gắng kéo ông ra khỏi giấc mộng bằng thông tin kinh hoàng là loạn đến nơi rồi và bằng phản ứng dữ dội của dân chúng đối với ông: Ai ai cũng cho ông là thủ phạm. Vua xa xỉ là vì ông, công khố hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông, man di oán giận là vì ông, thần nhân trách móc là vì ông:., mà Vũ Như Tô vẫn không tỉnh, vẫn cho là họ hiểu nhầm.

Tận mắt chứng kiến Nguyễn Vũ tự sát, nghe tên nội giám thông báo kẻ phá, người đốt cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vẫn cho là điều vô Ií. Nghe tiếng quân lính reo hò truy tìm mình để phanh thây, Vũ Như Tô vẫn cố đấu lí với số phận và cuộc đời: Có lí gì để họ giết tôi? Đứng trước quân khởi loạn gươm giáo sáng lòe, Vũ Như Tô tự trấn an: Đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta sẽ xây một tòa đài vĩ đại để tạ lòng tri kỉ. Bị ra lệnh dẫn về trình chủ tướng, Vũ Như Tô vẫn hi vọng sẽ có thể phân trần giảng giải cho người đời biết rõ nguyện vọng của ta. Ông dường như không hề nghe thấy tiếng cười ầm ĩ và lời quát tháo của quân lính. Mày không biết mấy nghìn người chết vì Cửu Trùng Đài, mẹ mất con, vợ mất chồng vì mày đó ư? Người ta oán mày còn hơn oán quỷ. Ông vẫn say sưa trong giấc mộng Cửu Trùng Đài: Vài năm nữa, đài Cửu Trùng hoàn thành, cao cả, huy hoàng, giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai…

Chỉ đến khi kinh thành phát hỏa, quân lính cho hay đó là lệnh của An Hòa Hầu và tận mắt chứng kiến ánh lửa sáng rực, cả tàn than, bụi khói bay vào, Vũ Như Tô mới rú lên kinh hoàng, tuyệt vọng: Đốt thực rồi! Đốt thực rồi ỉ ôi đảng ác! Ôi muôn phần căm giận! Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài! Rơi xuống từ một cửu Trùng Đài vời vợi độ cao của mơ màng và ảo vọng, nỗi đau vỡ mộng trong Vũ Như Tô hoá thành tiếng kêu bi thiết, não nùng, khắc khoải. Cửu Trùng Đài đã biến thành một đài lửa rừng rực trong kinh thành Thăng Long đầy biến động, Vũ Như Tô đã chết trước khi ra pháp trường. Mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài Tất cả nối tiếp nhau dội xuống những âm thanh của đau thương tang tóc. Nỗi đau mất mát đã hòa vào làm một, trở nên tột cùng. Âm thanh ấy trở thành âm thánh chủ đạo dội ngược lên toàn bộ các hồi trước của vở kịch.

Khắc khoải trong lòng người đọc vẫn là những dấu chấm hỏi, những câu cảm thán thốt ra từ đỉnh điểm của cảm xúc, từ cao trào của xung đột trong Vũ Như Tô: Ta tội gì? Ta không có tội! Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài! Cảm giác ngột ngạt, bức bối tưởng như còn nguyên vẹn khi Nguyễn Huy Tưởng viết lời đề tựa: ôi khô khan! ôi gay gắt! Bi kịch Vũ Như Tô đã thức tỉnh ý thức của chúng ta về vấn đề muôn thuở: mối quan hệ hữu cơ giữa nghệ thuật và cuộc sống.

Ngược lại với nhận thức của Vũ Như Tô, trong mắt dân chúng, Cửu Trùng Đài là hiện thân của thói ăn chơi xa xỉ, hiện thân của tội ác. Cửu Trùng Đài và cha đẻ của nó - Vũ Như Tô - chính là kẻ thù của họ. Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài, lũ cung nữ… bị quân phản nghịch xếp chung vào một hạng cần phải trị tội. Bởi vậy Cửu Trùng Đài bị thiêu cháy, Vũ Như Tô bị giải ra pháp trường và dân chúng reo hò, ăn mừng như ăn mừng chiến thẳng lớn.

Điểu gì đã tạo nên sự khác biệt đến đối lập khi nhìn nhận và đánh giá về công trình cửu Trùng Đài mà kiến trúc sư Vũ Như Tô từng kì vọng: móng phải đào sâu xuống dưới âm ti, nóc phải vờn mây? Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài với ao ước điểm tô cho đất nước, để lại cho dân tộc một công trình là hiện thân của cái đẹp cao cả, huy hoàng, đem hết tài ra xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ, thách thức cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với Hóa công. Ao ước, khao khát ấy là cao cả, là chân chính, bởi xuất phát điểm của nó là từ một cái Tâm tha thiết với dân tộc. Cho nên ngay từ đầu, nhiều người đã hiểu và ủng hộ Vũ Như Tô. Nhưng đài càng xây cao, mạng người càng rẻ mạt, dân chúng càng điêu đứng, bọn hôn quân bạo chúa càng ra tay vơ vét. Cửu Trùng Đài đã trở thành đại hoạ, gây ra bao khốn khổ điêu linh, thành một đóa hoa ác, thành hiện thân cho thói xa hoa hưởng lạc trên xương máu của nhân dân. Và tất nhiên, trong mắt nhân dân, Vũ Như Tô trở thành kẻ thù phải đền tội.

Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài mẫu 2

Có thể nói rằng kịch là một trong những thể loại văn học đặc sắc và trong nền kịch Việt Nam không thể bỏ sót cái tên Nguyễn Huy Tưởng với vở kịch nổi tiếng “Vũ Như Tô”. Đây là tác phẩm đa được nhà văn thể hiện ra những quan điểm của mình về những mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và cường quyền và đó là sự phức tạp giữa nghệ sĩ và nhân dân và hơn nữa đáng nói đó là văn hóa dân tộc nữa. Và trong vở kịch “Vũ Như Tô” thì đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” là một trong những đoạn trích hay thể hiện rõ nhất bi kịch cũng như quan niệm của tác giả được gửi gắm qua đoạn trích”.

Vở kịch đặc sắc và ấn tượng “Vũ Như Tô” được xem là một vở nói về lịch sử gồm có năm hồi. Và có thể thấy đoạn trích “Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài” là một đoạn trích thuộc hồi năm của vở kịch này. Nhân vật chính của vở kịch chính là Vũ Như Tô. Ông được xây dựng lên chính là một nhà kiến trúc tài giỏi, ông luôn có tính tình cương trực trọng nghĩa khinh tài. Lê Tương Dực được biết đến là một tên bạo chúa cũng đã sai cho Vũ Như Tô xây cửu trùng đài sao cho thật nguy nga để cho hắn lấy nơi vui chơi với những cung tần mĩ nữ. Và với vốn tính tình lại cương trực thẳng thắn thì nhân vật Vũ Như Tô dường như cũng đã từ chối sự sai khiến ấy mặc cho sự đe dọa về tính mạng. Thế nhưng, ta như thấy được Đan Thiềm một cô cung nữ tài sắc nhưng lại bị ruồng bỏ cũng như đã khuyên Vũ Như Tô xây cửu trùng đài để có thể cống hiến cho đất nước. Vì ở ông, ông lại khát khao và luôn luôn muốn cống hiến cho đất nước cho nên khi mà ông nghe thế ông quyết định xây Cửu Trùng Đài, thì lúc đó ông cũng đã dùng toàn tâm toàn lực để xây dựng. Nhưng có thể nói rằng chính cái Cửu Trùng Đài ấy dường như cũng đã làm khổ nhân dân khiến họ không thể chịu nổi khổ nhục và quyết tâm nổi dậy. Vũ Như Tô đã bị giết còn một Cửu Trùng Đài nguy nga kia cũng đã bị thiêu dụi hoàn toàn.

Bởi xây dựng được Cửu trùng đài thì đã có biết bao xương mu của nhân dân đã đổ xuống . Có thể thấy chính là những mâu thuẫn của đoạn trích này có thể nói được chính là khi nhân dân lúc này dường như lại không thể chịu nổi nữa bèn đứng lên nổi loạn. Và ta như có thể thấy được những người đứng đầu cho cuộc nổi loạn ấy chính là Trịnh Duy Khản. Và có thể nhận định được rằng chính là mâu thuẫn thứ nhất và đồng thời đây cũng chính là mâu thuẫn trực tiếp và thực tế nhất. Và thật đau xót khi nhân dân phải sống trong cảnh lầm than và cơ cực biết bao nhiêu. Hơn thế lại còn phải phục vụ biết bao công sức để giúp cho công việc xây dựng Cửu Trùng Đài cho tên vua vô lại ăn chơi hưởng lạc. Và chính điều này thì không một người dân nào mà không căm phẫn. Nên có thể thấy được mâu thuẫn ở đây đó chính là mâu thuẫn giữ vua quan và nhân dân. Và mâu thuẫn này chỉ được giải quyết khi mà kết thúc bằng một cuộc đứng lên chiến đấu. Nhân dân nổi dậy bắt giết Lê Tương Dực và cả những cung tần mỹ nữ. Rồi cả Đan Thiềm cũng như cả Vũ Như Tô hay cả Cửu trùng đài cũng đã bị thiêu dụi.

Và có thể nói mâu thuẫn thứ hai trong đoạn trích này không đâu khác đó chính là mâu thuẫn giữa những quan niệm nghệ thuật thuần túy lâu đời đối với cả những lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân trong việc xây dựng lên một Cửu Trùng Đài. Có thể thấy được trong tác phẩm này dường như ta lại thấy Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ và ông lại rất có tâm và hết lòng vì nghệ thuật. Có lẽ chính vì thế mà ông luôn luôn muốn cống hiến cho đất nước mình những công trình nghệ thuật đẹp đẽ. Thế nhưng bản thân ông chính là một người nghệ sĩ ông lại như không nhận thức cho ra được mối quan hệ khăng khít giữa nghệ thuật và cả đời sống cho nên chính ông cũng đã mắc sai lầm và dẫn tới cái chết thương tâm. Hay ở cả nhân vật Đan Thiềm cô đã cho lời khuyên Vũ Như Tô nhưng lại không hề vì một mục đích nào khác. Cô như một người bạn tri kỷ của Vũ Như Tô những cũng chính vì không nhận thức được mối quan hệ đó nên cũng đã có kết cục thảm hại.

Quả thật Cửu Trùng Đài được xem là một công trình nghệ thuật lớn vì thế cho nên nó rất tiêu tốn một lượng ngân khố của quốc gia. Mà dường như tất cả ngân khố quốc gia lại chính là nhân dân làm ra chứ phải là một ai hết. Chính vì lẽ đó mà việc xây dựng càng lớn, càng nguy nga thì nhân dân càng khổ nhiều hơn. Có thể nói cửu trùng đài được xâu dựng bằng xương máu của những người đan vậy. Còn Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ tài ba, ông có tài thật đó nhưng lại xa dời thực tế, chỉ lo cho lý tưởng của mình cho nên nhận lấy kết quả đáng buồn.

Có thể nói rằng thông qua đoạn trích này ta như thấy nó có đầy đủ các yếu tố để làm nên một vở kịch hấp dẫn, dường như tất cả các xung đột kịch được nhà văn tổ chức lôi cuốn hấp dẫn. Chính cái không khí nhịp điệu thì dường như cứ tăng tiến dần dần lên tạo nên một tính chất gay gắt của xung đột kịch. Nhà văn cũng đã thật tài tình khi thắt núi sau đó lại mở nút nhưng kết cục vẫn là bi kịch. Qua đây Nguyễn Huy Tưởng như cũng đã thể hiện quan niệm nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống đời thường. Nghệ thuật chân chính nhất thì không thể tách rời cuộc sống.

Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài mẫu 3

1.Vị trí của đoạn trích trong vở kịch Vũ Như Tô

-Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử gồm năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở kinh thành Thăng Long vào những năm 1516 - 1517.

Lê Tương Dực là một ông vua tàn bạo, hoang dâm, muốn xây dựng Cửu Trùng Đài làm nơi ăn chơi hưởng lạc với các cung nữ; Người có thể giúp y thực hiện ý định ngông cuồng ấy chỉ có Vũ Như Tô, một kiến trúc sư có tài. Nhưng Vũ Như Tô vốn là một nghệ sĩ chân chính lại từ chối (hồi I).

Một cung nữ tên là Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô chấp nhận lời yêu cầu của Lê Tương Dực, vì làm như vậy cũng nhằm để xây cho đất nước, cho hậu thế một toà lâu đài “bền như trăng sao” có thể hãnh diện với nghìn thu, với thế giới. Ông dốc toàn tâm sức vào việc đó sao cho Cửu Trùng Đài thật uy nghi, tráng lệ. Công việc càng tiến triển thì mâu thuẫn giữa nhà vua và phe đối lập của Quận công Trịnh Duy Sản càng trở nên gay gắt, theo đó, mâu thuẫn giữa “tổng công trình sư” Vũ Như Tô với chính những ngưòi thợ, những người trợ giúp ông bị phe đối lập chia rẽ, xúi bẩy, đe doạ cũng dần dần trở nên căng thẳng (hồi II, III, IV).

Lợi dụng tình hình rối ren và những mâu thuẫn đến độ cần giải quyết, Trịnh Duy Sản cầm đầu phe đối lập dấy binh nổi loạn, giết Lê Tương Dực, Đan Thiềm, Vũ Như Tô và cho thiêu huỷ Cửu Trùng Đài (hồi V).

-Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài chính là toàn bộ hồi V của vở kịch Vũ Như Tô, gồm chín lớp kịch. Sự việc diễn ra và đi đến giải quyết ở hồi V được nung nấu và phát triển ở bốn hồi trước : Biết tin có biến, Đan Thiềm thúc giục Vũ Như Tô trốn chạy để bảo toàn tính mạng. Vũ Như Tô không nghe và tin rằng ông “chính đại quang minh”. Tình hình càng nguy kịch: vua bị giết, Đan Thiềm bị bắt và bị sỉ nhục,… Khi quân phản loạn đốt Cửu Trùng Đài thành tro bụi thì Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ. Ông đau đớn vĩnh biệt công trình dang dở của đời mình và bình thản ra pháp trường.

2. Hai mâu thuẫn cơ bản của vở kịch

a. Mâu thuẫn giữa phe nổi loạn và phe Lê Tương Dực

Cầm đầu phe nổi loạn là Quận công Trịnh Duy Sản. Sau Trịnh Duy Sản là võ sĩ Ngô Hạch, An Hoà Hầu. Vì can ngăn vua không xây Cửu Trùng Đài, đòi giết Vũ Như Tô nhưng không được lại còn bị đánh nhục nhã, Trịnh Duy Sản “giả mượn tiếng đi dẹp giặc rồi quay binh về làm loạn”,- Chúng đã lợi dụng, xúi bẩy thợ xây Cửu Trùng Đài và dân chúng để lôi kéo họ làm phản phục vụ cho mục đích riêng của phe đối lập trong triều.

Mâu thuẫn này tượng trưng cho mâu thuẫn cơ bản trong xã hội phong kiến : mâu thuẫn giữa bọn thống trị và những người bị trị, giữa lợi ích của hôn quân bạo chúa và quyền sống của nhân dân bị áp bức.

Mâu thuẫn này được thể hiện chủ yếu ở các hồi trước hồi V (xoay quanh việc xây hay không xây Cửu Trùng Đài, việc xây Cửu Trùng Đài đã ngốn bao tiền của, sức lực kể cả tính mạng của những người lao động,…), thành cao trào ở hồi cuối cùng (Lê Tương Dực bị giết, các cung nữ bị bắt bớ, nhục mạ ; dân chúng hò reo đốt phá Cửu Trùng Đài, nguyền rủa Vũ Như Tô, Đan Thiềm,…).

Ở vở kịch Vũ Như Tô, mâu thuẫn thứ nhất là cái cớ, làm nền cho ý tưởng mà nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đau đáu gửi gắm qua việc đề cập đến mâu thuẫn thứ hai của vở kịch.

b. Mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật của người nghệ sĩ và lợi ích thiết thực của nhân dân

Sự hình thành và diễn biến của mâu thuẫn này trong các hồi kịch trước gắn với câu chuyện xây Cửu Trùng Đài vớ những chuyển động trái chiều nhau, diễn biến với các xung đột dữ dội và dẫn đến kết thúc với nhiều xác chết, trên nền lụa đỏ lẫn tro bụi của Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô bình thản ra pháp trường…

Mâu thuẫn thứ hai, ở hồi V, bị đẩy lên đỉnh điểm. Nếu như ở bốn hồi trước, nó chỉ là mâu thuẫn tiềm ẩn bên trong mâu thuẫn thứ nhất thì ở cuối đoạn trích, nó được hoà nhập làm một. Chính mâu thuẫn thứ hai này là “lỗi lầm bi kịch” của Vũ Như Tô – người kiến trúc sư có tài ấp ủ một hoài vọng “đem hết tài ra xây cho nòi giống một toà đài hoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hoá công”. Vũ Như Tô theo lời khuyên của Đan Thiềm tưởng rằng có thể mượn thế lực và đồng tiền của bạo chúa để thực hiện được khát vọng nghệ thuật chính đáng của mình. Ông đã bất chấp tất cả – tiền của, mồ hôi, xương máu của bao người thợ, thậm chí cả sức lực và tính mạng của bản thân. Chính sự đắm chìm trong công trình Cửu Trùng Đài cao cả, dần dần ông đã mất hẳn chỗ đứng trong cuộc đời, hơn thế nữa, thành kẻ bị cô lập, cô độc và cuối cùng phải nhận cái chết thảm khốc. Đấy là bi kịch của một nghệ sĩ “thuần tuý”, một kẻ mơ hồ, ngây thơ về chính trị, không biết đứng về phía nhân dân. Từ một người phản đối nhu cầu ăn chơi sa đoạ của kẻ thống trị, vô hình trung ông lại tự biến mình thành kẻ tiếp tay cho bọn thống trị ; từ một người biết tôn trọng lao động của nhân dân, ông đã vô tình làm khổ họ, đày đoạ và li tán bao gia đình ; từ một người yêu đất nước, ông trở thành kẻ làm hại dân hại nước… Vũ Như Tô đâu biết rằng có bao chuyện còn cần thiết hơn việc xây Cửu Trùng Đài, có những thứ còn quý hơn cả nghệ thuật kiến trúc. Tách rời lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, tách rời cuộc sống, nghệ thuật không thể tồn tại, tài năng của người nghệ sĩ không thể phát triển.

Việc giải quyết mâu thuẫn thứ hai của vở kịch được tiếp nhận với nhiều ý kiến khác nhau trong nhiều năm qua. Tạo được cái kết “bỏ ngỏ” đầy ám ảnh khiến người đọc nhiều thế hệ sau tiếp tục tìm lòi giải đáp là một nỗ lực không nhỏ của người viết vào những năm ông còn băn khoăn “tìm đường” đó.

3. Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô, Đan Thiềm

a. Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô

Vũ Như Tô là hình tượng nhân vật biểu tượng cho niềm khát khao sáng tạo và đam mê cái đẹp. Ở những hồi kịch trước, nhà văn đã chuẩn bị cho người đọc cuộc kì ngộ giữa Vũ Như Tô, người có tài đam mê cái đẹp, và Đan Thiềm, người cung nữ tài sắc, thâm trầm đam mê cái tài, để từ đó, tính cách nhân vật này được phát triển theo sự tiến triển của câu chuyện xây Cửu Trùng Đài đầy trắc trở, mâu thuẫn thứ nhất được giải quyết một phần nhưng lại là sự khởi đầu của một mâu thuẫn mới, chuẩn bị cho một cao trào mới. Từ lúc thà chết chứ không xây đài cao cho hôn quân bạo chúa đến lúc được Đan Thiềm khai mở, ông đã đắm chìm trong mộng tưởng sáng tạo là hai mặt mâu thuẫn nhưng thống nhất trong tính cách nhân vật Vũ Như Tô – nghệ sĩ. Với Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài không còn là toà lâu đài của bạo chúa ; nó thành biểu tượng của cái đẹp mà kẻ sĩ như ông phải dốc toàn tài, nó thành lẽ sống của cả đời kẻ sĩ.

Diễn biến tâm trạng qua các lời thoại của Vũ Như Tô ở chín lớp kịch trong hồi cuối xoay quanh việc tìm lời giải çho câu hỏi lớn trong tâm tưởng của ông : “Xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai ?”, “Việc ông đang làm là có công hay có tội ?”. Bi kịch của Vũ Như Tô là ở chỗ ông không tự giải đáp được câu hỏi tưởng như đơn giản đó, bởi ông chỉ đứng trên lập trường của cái đẹp “thuần tuý” mà xa rời cuộc sống của nhân dân, vô tình làm phương hại đến lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Hành động mà ông lựa chọn và quyết định (không theo lời khuyên của Đan Thiềm là phải trốn chạy để bảo toàn tính mạng) chứng tỏ con người này không thể điều hoà nổi sự mâu thuẫn giữa lợi ích dân tộc lâu dài (xây Đài để khẳng định địa vị của dân tộc Việt trước các dân tộc khác) và thực tế đời sống trước mắt của đại bộ phận nhân dân (Đài càng cao thì càng mất nhiều tiền của, công sức của thợ, của dân…). Ông không tỉnh táo bằng Đan Thiềm, vẫn quá tự tin vào ý tưởng tốt đẹp của mình nên khi giấc mộng nghệ thuật của đời ông sụp đổ (Cửu Trùng Đài bị thiêu huỷ), ông đau đớn kinh hoàng. Nỗi đau ấy bật thành tiếng rú tuyệt vọng : “Ôi mộng lớn ! Ôi Đan Thiềm ! Ôi Cửu Trùng Đài !”. Tiếng kêu đó rồi cũng bị ngọn lửa thiêu huỷ Cửu Trùng Đài nuốt chửng. Trên nền lửa đỏ tro tàn ấy, người kiến trúc sư đầy ảo tưởng ấy biết đời mình thế là hết. Trong cảnh bát nháo, náo loạn giữa triều đình và phe nổi loạn, ông bình thản ra pháp trường.

Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô ở hồi V góp phần hoàn chỉnh tính cách bi kịch ở nhân vật chính, làm nổi rõ hướng giải quyết mâu thuẫn thứ hai của vở kịch và cũng là chủ đề của tác phẩm Vũ Như Tô.

b. Tính cách, diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm

Nếu Vũ Như Tô là người đam mê cái đẹp thì Đan Thiềm là người đam mê cái tài, tài sáng tạo cái đẹp. Cái tài mà nàng trọng phải là cái tài có ích, cái tài ấy phải được thi thố trong việc tô điểm cho đất nước, nâng cao địa vị cho dân tộc. “Bệnh” của Đan Thiềm là bệnh của người tài, người có hoài bão đam mê sáng tạo. Ước mong cháy bỏng của người cung nữ này là làm sao để nước nhà có một Cửu Trùng Đài tráng lệ. Đó là một ước mơ đẹp của một người có nhân cách, có tinh thần dân tộc. Ở các hồi trước, Đan Thiềm đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của Lê Tương Dực với mục đích “làm cho đất Thăng Long này trở thành nơi kinh kì lộng lẫy nhất trần gian”. Và thế là, cũng như Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài trở thành lẽ sống của phần đời còn lại của người cung nữ lạ lùng này nơi cung đình. Nàng tìm cách lợi dụng bọn quan lại, vui niềm vui của những người thợ và sung công mọi đồ tế nhuyễn để xây Đài. Có biến, Đan Thiềm không nghĩ đến sự sống còn của bản thân mà đi tìm Vũ Như Tô, hai lần van lạy ông hãy mau trốn tránh và nghĩ rằng nếu ông mất đi thì “nước ta không còn ai tô điểm nữa”. Khi quân nổi loạn đến, Đan Thiềm cam chịu sỉ nhục, quỳ xuống van xin tên võ sĩ Ngô Hạch tha cho Vũ Như Tô : “Bao nhiêu tội tôi xin chịu hết. Nhưng xin tướng quân tha cho ông Cả. Ông ấy là một người tài”. Khi bị quân Ngô Hạch trói lại, nàng vô cùng tuyệt vọng vì biết rằng không thể cứu được Vũ Như Tô đã đau đớn vĩnh biệt ông : “Ông Cả ! Đài lớn tan tành ! Ông Cả ơi ! Xin cùng ông vĩnh biệt !”.

Diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm trong bảy lớp kịch ở hồi V góp phần thể hiện toàn vẹn tính cách bi kịch của Vũ Như Tô, làm rõ hơn sự giải quyết mâu thuẫn thứ hai và cũng là chủ đề của vở kịch.

4. Lời tựa vở kịch Vũ Như Tô

Ngày 8 - 6 - 1942, Nguyễn Huy Tưởng chép lại vở kịch viết xong từ mùa hạ năm 1941 và đặt bút viết Đề tựa cho nó. Chắc hẳn ông linh cảm được rằng những suy tư, dằn vặt mà mình gửi gắm vào tác phẩm không dễ được tiếp nhận. Ông viết Đề tựa dường như để nói rõ hơn, cụ thể hơn ý đồ nghệ thuật của mình nhằm để người đọc thấu hiểu cho ông.

Trong lời tựa, Nguyễn Huy Tưởng đã tóm tắt nội dung vở kịch Vũ Như Tô bằng ba câu hỏi buộc phải lựa chọn đầy băn khoăn, đặc biệt nhắc lại nhức nhối hai lần câu : “Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải ?”. Ông nói rằng : “Ta chẳng biết”, thực ra là ông biết rất rõ, Cái ý của ông thể hiện qua lời thoại của nhân vật Đan Thiềm là nhà văn cảm phục “tài trời” và sức sống bất diệt của người dân Việt, đồng thời lại tủi hổ cho nỗi thiệt thòi của người dân Việt. Việt Nam đâu thiếu người tài, vậy mà chỉ vì miếng cơm manh áo hằng ngày ghì họ sát đất nên họ không phát triển về đường văn hoá nghệ thuật bằng người Trước thực tế lịch sử đó, người cầm bút yêu dân yêu nước ngậm ngùi thấy mình “cùng một bệnh với Đan Thiềm” cũng là điều dễ hiểu. “Bệnh Đan Thiềm” là sự khao khát được thăng hoa sáng tạo những tài năng trong mỗi người cho đất nước, cho dân tộc.

Mời các bạn tham khảo thêm các bài viết dưới đây của chúng tôi:

VnDoc.com đã giới thiệu tới bạn đọc bài: Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài. Để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, VnDoc.com mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Vĩnh biệt cửu trùng đài mà VnDoc.com đã sưu tầm, tổng hợp. Chúc các bạn học sinh học tập hiệu quả!

Bài tiếp theo: Phân tích tình yêu và thù hận của Wiliam Shakespeare

Đánh giá bài viết
1 751
Ngữ văn lớp 11 Xem thêm