Giao diện mới của VnDoc Pro: Dễ sử dụng hơn - chỉ tập trung vào lớp bạn quan tâm. Vui lòng chọn lớp mà bạn quan tâm: Lưu và trải nghiệm
Đóng
Điểm danh hàng ngày
  • Hôm nay +3
  • Ngày 2 +3
  • Ngày 3 +3
  • Ngày 4 +3
  • Ngày 5 +3
  • Ngày 6 +3
  • Ngày 7 +5
Bạn đã điểm danh Hôm nay và nhận 3 điểm!
Nhắn tin Zalo VNDOC để nhận tư vấn mua gói Thành viên hoặc tải tài liệu Hotline hỗ trợ: 0936 120 169

Đáp án đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn Ninh Bình năm 2026

Lớp: Ôn vào 10
Môn: Ngữ Văn
Dạng tài liệu: Đề thi
Loại: Tài liệu Lẻ
Loại File: Word
Phân loại: Tài liệu Tính phí

Sáng 23/5, các thí sinh tỉnh Ninh Bình bắt đầu làm bài thi môn Văn vào lớp 10 năm 2026. VnDoc gửi tới các bạn Đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn tỉnh Ninh Bình 2026 kèm đáp án để các bạn tham khảo. Mời các bạn theo dõi để so sánh đối chiếu với bài làm của mình nhé.

1. Đề thi vào 10 Văn Ninh Bình 2026

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TỈNH NINH BÌNH

ĐỀ CHÍNH THỨC

 

ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC

2026-2027

Môn thi: NGỮ VĂN (Chung)

Thời gian làm bài: 120 phút.

(Đề thi gồm: 01 trang)

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

MẸ TÔI PHƠI THÓC

(1)

Nắng vừa kéo tấm nhưng đêm

Mẹ tôi pháp phồng bên thềm đẫm sương

Vục từng thúng thóc ủ hương

Mẹ đem tải cả về phương nắng bừng

(2)

Tay nâng những hạt rung rung

Thóc hay hạt ngọc động từng đắng cay

Đổ ra vàng một sân đầy

Hạt căng tròn để thêm gầy mẹ tôi

(3)

Tháng Năm cái nắng bỏng trời

Chân trần mẹ tải, mẹ phơi, mẹ chờ

Chờ cho hạt gọi hạt khô

Mẹ ngồi mơ lửa đầy bờ tháng Ba

(4)

Những khi mưa gió tràn qua

Bàn chân hối hải chạy ra, chạy vào

Tay chang, tay vục nháo nhào

Trong đôi mắt mẹ tác tao bão

(5)

Con như hạt thóc khô cong

Gom từng giọt nắng mẹ hong lặng thầm


(Nguyễn Văn Song, Mẹ tôi phơi thóc, in trong Mẹ và Sen, NXB Hội Nhà văn, 2022, tr. 57-58)

* Chú thích:

- Nguyễn Văn Song sinh năm 1974 tại Hà Nội. Ông từng đạt giải B cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ 2019-2020 và nhiều giải thưởng khác. Thơ của ông giản dị, mộc mạc nhưng giàu chất suy tư, chiêm nghiệm, đặc biệt là khi viết về làng quê và mẹ. Mẹ tôi phơi thóc là một trong số những bài thơ tiêu biểu của ông.

- Tải: rải mỏng ra trên bề mặt rộng.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra những từ ngữ miêu tả hành động phơi thóc của người mẹ trong khổ thơ (1)(2).

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai câu thơ sau:

Con như hạt thóc khô cong

Gom từng giọt nắng mẹ hong lặng thầm

Câu 4. Từ tình cảm của người con dành cho mẹ trong văn bản, em hãy nêu suy nghĩ về vai trò của tình mẫu tử trong cuộc đời mỗi người (trình bày từ 5-7 dòng).

II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn thơ sau:

Tay nâng những hạt rung rung

Thóc hay hạt ngọc động từng đắng cay

Đổ ra vàng một sân đầy

Hạt căng tròn để thêm gầy mẹ tôi

Câu 2. (4,0 điểm)

Trong xã hội hiện nay, có một bộ phận học sinh thiếu tôn trọng nét riêng của người khác (về hoàn cảnh, ngoại hình, sở thích, tính cách…).

Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về vấn đề trên và đề xuất những giải pháp để khắc phục.

----------HẾT----------

2. Đáp án đề thi vào 10 Văn Ninh Bình 2026

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỈNH NINH BÌNH
ĐỀ CHÍNH THỨC

ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2026-2027
Môn thi: NGỮ VĂN (Chung)
( Hướng dẫn chấm gồm: 05 trang)

LƯU Ý CHUNG

1. Đáp án được xây dựng theo yêu cầu đánh giá năng lực nên giám khảo cần tập trung xem xét phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề của thí sinh; chú ý đánh giá nội dung bài làm theo hướng mở, khuyến khích sự sáng tạo, tránh áp đặt.

2. Đối với những bài làm có ý tưởng riêng và cách diễn đạt, triển khai khác đáp án, giám khảo cần xem xét tính thuyết phục của bài viết để đánh giá điểm hợp lí theo các mức độ bài làm đạt được.

3. Khi chấm bài, giám khảo cần đánh giá bao quát cả nội dung và hình thức; phát hiện và chấm điểm đúng những bài viết có cá tính, sáng tạo, chân thực và trong sáng.

HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

4,0

1

Thể thơ: Lục bát/ thơ 6-8.
Hướng dẫn chấm
- Trả lời như đáp án: 1,0 điểm.
- Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

1,0

2

Những từ ngữ miêu tả hành động phơi thóc của người mẹ trong khổ thơ (1) và (2): vục từng thúng thóc, tãi cả về phương nắng hồng, nâng những hạt, đổ ra.
Hướng dẫn chấm
- Trả lời đúng 3 từ ngữ trở lên: 1,0 điểm.
- Trả lời đúng 2 từ ngữ: 0,75 điểm.
- Trả lời đúng 1 từ ngữ: 0,5 điểm.
- Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.
Lưu ý:
Thí sinh chỉ ra đúng được các động từ trung tâm: cho điểm tối đa
Nếu thí sinh chép lại các câu thơ có chứa từ ngữ trong đáp án: tối đa 0,5 điểm.

1,0

3

- Biện pháp so sánh: con - hạt thóc khô cong
- Tác dụng:
+ Tạo sự liên tưởng, làm tăng tính gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, giúp cho câu thơ thêm sinh động hấp dẫn.
+ Làm nổi bật tình yêu thương, đức hi sinh lặng thầm và sự chắt chiu, nâng niu của mẹ dành cho con.
+ Thể hiện tình yêu, sự trân trọng, lòng biết ơn của con dành cho mẹ.
Hướng dẫn chấm
- Trả lời đúng như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.
Trong đó:
+ Chỉ ra được biện pháp tu từ so sánh: 0,25 điểm.
+ Phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ so sánh: 0,75 điểm.

1,0

4

(Mỗi tác dụng: 0,25 điểm)
- Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.
Thí sinh nêu được suy nghĩ cá nhân, đảm bảo phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Có thể tham khảo các gợi ý sau:
- Tình cảm của con dành cho mẹ: Thấu hiểu những vất vả, đức hi sinh của mẹ; yêu thương, trân trọng, biết ơn mẹ.
- Suy nghĩ về vai trò của tình mẫu tử trong cuộc đời mỗi người:
+ Giúp cho cuộc sống của mỗi người ấm áp, vui vẻ, hạnh phúc hơn.
+ Là điểm tựa tinh thần giúp mỗi người vượt qua khó khăn thử thách trong cuộc sống.
+ Là động lực để mỗi người tự hoàn thiện bản thân trong hành trình trưởng thành.
...
Hướng dẫn chấm:
- Trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.
+ Nêu được tình cảm của con dành cho mẹ: 0,25 điểm.
+ Suy nghĩ về vai trò của tình mẫu tử trong cuộc đời mỗi người
++ Trả lời được 2 ý trở lên: 0,75 điểm; trả lời được 1 ý: 0,5 điểm.
++ Trả lời chung chung có chạm ý: 0,25 - 0,5 điểm.
- Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

1,0

II

VIẾT

6,0

1

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn thơ sau:
Tay nâng những hạt rưng rưng
Thóc hay hạt ngọc đọng từng đắng cay
Đổ ra vàng một sân đầy
Hạt căng tròn để thêm gầy mẹ tôi

2,0

Đáp án vẫn còn trong file tải, mời các bạn tải về tham khảo toàn bộ đáp án

3. Đáp án đề thi vào 10 Văn Ninh Bình 2025

4. Đề thi vào 10 Văn Ninh Bình 2025

5. Đáp án đề thi vào 10 Văn Ninh Bình 2024

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1.

Cách giải:

Phương thức biểu đạt chính: nghị luận

Câu 2.

Theo đoạn trích, thái độ tiếp nhận khác nhau đối với những khó khăn của cuộc sống giữa người thành công và người thất bại là:

+ Người thất bại thường né tránh, hoặc cam chịu trở ngại

+ Còn người thành công luôn đi tìm giải pháp, ngay cả khi phải chịu đựng khổ ải bởi họ tin rằng họ sẽ vượt

Câu 3.

Quan niệm mỗi trở ngại cũng chính là một cơ hội là quan niệm đúng đắn:

- Trở ngại: Được hiểu là những khó khăn, thử thách gặp phải trong cuộc sống. Tuy nhiên ẩn sau mỗi khó khăn đó lại chứa đựng những cơ hội nếu biết cách vượt qua.

- Ấn trong mỗi trở ngại là cơ hội khám phá bản thân, khám phá những tiềm năng mà nếu không có trở ngại chưa chắc con người đã phát hiện ra.

- Mỗi lần vượt qua một khó khăn, bạn sẽ thấy mình trưởng thành hơn. Và cách tốt nhất để đánh giá năng lực của một người là nhìn vào cách người đó đã vượt qua những khó khăn, trở ngại trong cuộc

Câu 4.

Thông điệp có ý nghĩa nhất với em sau khi đọc đoạn văn bản trên: “Thay vì để khó khăn đánh bại, chúng ta hãy đón nhận chúng như một cơ hội để rèn luyện bản lĩnh của chính mình”:

+ Thay vì than vãn và trốn tránh, chúng ta nên đối mặt với khó khăn để tôi luyện bản thân trở nên vững vàng hơn trên đường đời

+ Khó khăn gian khổ sẽ đem lại cho người một tài sản vô giá, đó là sự trưởng thành và trải nghiệm

PHẦN II

Câu 1.

Yêu cầu về hình thức: Đoạn văn khoảng 200 chữa, không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ. Đảm bảo đủ 3 phần: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.

Yêu cầu về nội dung: Làm sáng tỏ được tầm quan trọng của những thử thách trong cuộc sống mỗi người.

Câu 2

1. Giới thiệu chung

- Tác giả: Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau 1954, tập kết ra miền Bắc, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mỹ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của ông thuộc nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như trong thời bình.

- Tác phẩm: Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” được viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên.

- Tác phẩm là bài ca về tình phụ tử thiêng liêng, đặc biệt là ở đoạn trích từ: “Tôi vẫn còn nhớ buổi chiều hôm đó... Anh mới nhắm mắt xuôi tay”. Đoạn trích thể hiện vẻ đẹp của tình phụ tử ; liêng, sâu sắc của ông Sáu đối với bé Thu trong những ngày ở chiến khu.

2. Phân tích

a. Giới thiệu khái quát cảnh ngộ gia đình ông Sáu và tình yêu thương ông Sáu dành cho con

- Đất nước có chiến tranh, công Sáu phải đi công tác khi con gái chưa đầy một tuổi, khi con lớn lên, ông Sáu không một lần được gặp con, được yêu thương chăm sóc cho con.

- Sau tám năm vào sinh ra tử, khi được về thăm nhà, nỗi khao khát được gặp con, được ôm con vào lòng khiến ông không kìm nén được cảm xúc. Tuy nhiên, vì vết thẹo trên mặt, vết thương do chiến tranh gây ra nên đứa con gái hồn nhiên, ngây thơ của ông nhất định không chịu nhận cha. Đến lúc con gái nhận ra thì là lúc ông phải trở lại chiến trường. Niềm hạnh phúc mà ông hằng mong chờ đã tới nhưng quá ngắn ngủi vì đến giờ biệt li. Ông chỉ kịp rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên tóc con, lặng lẽ ra đi không hẹn nguyện của con là cây lược nhỏ.

b. Cảm nhận về vẻ đẹp nội dung của đoạn trích – vẻ đẹp của tình phụ thiêng liêng

- Luôn ghi nhớ như in lời con dặn vội vàng lúc chia tay “Ba về, ! mua cho con một cây lược nghe ba!”. Điều đó thúc giục ông đến việc làm cây lược ấy. “Lúc rảnh rỗi anh ngồi cưa từng chiếc răng lược cho đến khi hoàn thành, những đêm nhớ con anh lấy cây lược ra ngắm nghía”.

- Chiếc lược trở thành một vật quý giá, yêu mến của người cha đối với đứa con trong xa cách. Chiếc lược ngà trở thành một kỉ vật thiêng liêng, nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu cho người chiến sĩ trong những ngày tháng gian khổ.

- Bị thương nặng, chỉ đến khi gửi lại chiếc lược ngà lại cho bạn với lời nhắn nhủ sẽ trao tận tay bé Thu, ông nhắm mắt.

- Ông Sáu hi sinh khi chưa kịp gửi món quà cho con gái. Đây là tình huống rất cảm động. Những mất mát do chiến tranh gây ra là không bù đắp nổi. Tuy không một lời trăng trối nhưng hành động cuối cùng của ông Sáu càng cho ta thấy tình cảm của ông dành cho con thật sâu nặng. Người đồng chí của ông- người kể chuyện đã thay ông làm việc đó. Chiếc lược ngà đã trở thành biểu tượng của tình cha con đời đời bất diệt.

c. Nghệ thuật

- Đoạn văn là lời kể của một người đồng chí của ông – bác Ba, người đã chứng kiến toàn bộ quá trình ông làm cây lược tặng con gái và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc của ông. Đoạn văn vì thế trở nên vừa khách quan vừa chân thành, giàu tình cảm.

- Ngôn ngữ văn xuôi giàu tình cảm, khả năng miêu tả tâm lí tinh tế, chính xác, bắt nguồn từ một tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng yêu thương, trân trọng con người.

3. Kết bài: Cảm nhận khái quát về đoạn văn, liên hệ bản thân.

6. Đề thi vào lớp 10 môn Văn tỉnh Ninh Bình năm 2024

7. Đáp án đề vào lớp 10 môn Văn tỉnh Ninh Bình năm 2023

ĐỌC HIỂU

Câu 1:

Theo tác giả, đời sống phải có sự tựa nương qua lại vì bản chất của mọi sự vật trên thế gian này vốn không thể tồn tại riêng biệt.

Câu 2:

Phép liên kết được sử dụng câu văn: phép thế.

Câu 3:

Học sinh tự đưa ra lý giải của bản thân sao cho phù hợp.

Gợi ý.

- Hạnh phúc không chỉ đến từ những tác động bên ngoài, từ những người khác, hạnh phúc có thể được tạo ra từ chính bên trong mỗi người.

- Chúng ta có thể tự mình tạo ra hạnh phúc bằng cách quay vào bên trong, hiểu mình, yêu thương bản thân mình. Tất nhiên để làm được điều này, con người cũng phải trải qua quá trình rèn luyện tích lũy những kĩ năng.

Câu 4:

Học sinh tự đưa ra bài học ý nghĩa, lý giải phù hợp.

Gợi ý:

- Bài học về hạnh phúc, về cách tìm kiếm và hạnh phúc.

- Bài học về xúc, nên làm chủ cảm xúc của bản thân.

II. Làm văn

Nêu vấn đề nghị luận: Vai trò của tính tự lập trong cuộc sống mỗi người

Giải thích:

- Tính tự lập là việc con người tự mình thực hiện các công việc mà không dựa dẫm hay ỷ nại vào người khác.

- Vai trò của tính tự lập:

+ Chủ động hơn trong cuộc sống, tự lập kế hoạch, định hướng cho bản thân mình.

+ Chủ động vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.

+ Rèn luyện tốt hơn khả năng tư duy sáng tạo. +Khẳng định bản thân, nhận ra giá trị bản thân.

+ Người tự lập bao giờ cũng dễ dàng đạt đến thành công hơn.

Bàn luận mở rộng:

+ Phê phán những người có thói quen ỷ lại, dựa dẫm vào người khác.

+ Đôi khi trong cuộc sống để có thể vượt qua những khó khăn con người cũng cần đến sự giúp đỡ của những người xung quanh. Tự lập không phải cự tuyệt mọi sự giúp đỡ.

- Liên hệ bản thân và tổng kết vấn đề.

Câu 2:

Cách giải:

Mở bài

- Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.

- Giới thiệu nội dung các khổ thơ cần phân tích.

Thân bài

– Sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên những “Tiểu đội xe không kính”. Con đường giải phóng miền Nam là con đường đi tới chính nghĩa nên họ càng đi, cảng có thêm nhiều bạn “Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới”

– Lúc này, những chính chiếc xe không kinh lại thật thuận tiện để họ trao nhau tình thân: “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”. Như chính nhà thơ thâm sự “Không phải mở cửa mà có thể thò tay thì sướng quá” Đó là cái bắt tay động viên, cái bắt tay truyền cho nhau cả tâm hồn, tỉnh cảm. Cái bắt tay thoải mái, tự nhiên, ấm lòng.

– Tình cảm thắm thiết, ruột thịt như anh em trong một gia đình.

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy"

Một cách định nghĩa về gia đình rất mới, rất rộng, rất lính, thật tếu táo mà cũng đầy sâu sắc: chung bát, chung đũa, chung nắm cơm, bếp lửa, chung hoàn cảnh khó khăn, chung một con đường, chung một lí tưởng, chung sự sống và cái chết. Đó là gia đình.

– Hai câu thơ cuối, với sự đối lập về ý thơ đã khẳng định sức mạnh tinh thần của người lính

“Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm”

+ Bữa ăn vội vã, giấc ngủ tạm bợ bên đường, đời lính thật gian khổ, đầy chông chênh, nguy hiểm

+ Tuy nhiên điệp từ “lại đi” và hình ảnh ẩn dụ “trời xanh” đã khẳng định ý chí chiến đấu, nghị lực vững vàng, niềm tin và tinh thần phơi phới lạc quan của người lính. Sức mạnh tinh thần đó là sự tổng hợp của phẩm chất anh hùng cách mạng, tinh thần lạc quan và tình đồng đội tiếp thêm sức mạnh để họ vượt qua mọi gian lao, để rồi “lại đi, lại đi trời xanh thêm”, đoàn xe không ngừng vươn tới trên con đường giải phóng miền Nam.

“Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim”

– Với biện pháp liệt kê, điệp ngữ “không cớ” nhấn mạnh sự trần trụi, biến dạng của những chiếc xe. Càng vào sâu trong chiến trường, chiếc xe càng trở nên méo mó, biến dạng. Một lần nữa, thông qua hình ảnh những chiếc xe, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã gián tiếp miêu tả sự ác liệt của chiến trường.

– Điều kì lạ là những chiếc xe không kính, không đèn, không mui ấy vẫn băng băng ra chiến trường. Ở đây có sự đối lập giữa vẻ bên ngoài và khả năng của chiếc xe, giữa điều kiện vật chất và sức mạnh tinh thần của người lính lái xe. Để cân bằng ba cái không có ở trên chỉ cần một cái có đó trái tim người lính. đến đây, ta càng thấy được sự ngang tàng, hóm hỉnh nhưng cũng thật sắc trong thơ Phạm Tiến Duật, những chiếc xe dường như không chỉ chạy bằng nhiên liệu mà thật độc đáo khi có một trái tim cầm lái, Trái tim là 1 hình ảnh hoán dụ nhưng đồng thời cũng là hình ản ẩn dụ, nó hội tụ vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ lái xe giàu nhiệt huyết, sắt son tình yêu tổ quốc, và ý chí quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

=> Hình ảnh trái tim kết thúc bài thơ đã trở thành nhãn tự của cả bài, tỏa sáng vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn nói riêng và của cả thế hệ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước:

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai”

3. Kết bài: Tổng kết vấn đề

6. Đề vào lớp 10 môn Văn tỉnh Ninh Bình năm 2023

Thi Văn Ninh Bình

..............

Chọn file muốn tải về:
Đóng Chỉ thành viên VnDoc PRO/PROPLUS tải được nội dung này!
Đóng
89.000 / tháng
Đặc quyền các gói Thành viên
PRO
Phổ biến nhất
PRO+
Tải tài liệu Cao cấp 1 Lớp
30 lượt tải tài liệu
Xem nội dung bài viết
Trải nghiệm Không quảng cáo
Làm bài trắc nghiệm không giới hạn
Mua cả năm Tiết kiệm tới 48%

Có thể bạn quan tâm

Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
Sắp xếp theo